Giờ đây là chiếc tàu phá băng dài một trăm mét, rộng hai mươi mét: tám đôi máy với tổng công suất lên đến 13.600 sức ngựa, tốc độ tối đa 16,20 hải lý, mớn nước 7,16 m. Người ta xếp chỗ cho Ferrer trong một ca bin: đồ đạc trong phòng được bắt ốc vào các vách ngăn, vòi nước có bàn đạp chân, vô tuyến gá lắp ngay phía cuối chiếc giường đơn, cuốn Kinh Thánh để sẵn trong ngăn kéo chiếc tủ con. Cộng thêm một chiếc quạt máy thổi ngược vì hệ thống lò sưởi nằm ở tận dưới hầm tàu, sản sinh ra một lượng nhiệt năng khoảng ba mươi độ sưởi ấm cho mọi thiết bị địa cực, dù đó là con tàu, là buồng điều khiển hay ngôi nhà. Ferrer xếp đồ đạc vào tủ treo quần áo, đặt vừa tầm tay, cạnh giường ngủ, một tác phẩm bàn về điêu khắc của các bộ lạc phương bắc [1] .
Thủy thủ đoàn của con tàu Des Groseiller là khoảng năm chục người đàn ông và ba người đàn bà mà Ferrer kịp làm quen ngay sau đó: một cô trẻ người chắc nịch trang điểm lòe loẹt được giao phụ trách đống dây chão, một cô thích cắn móng tay là kế toán thủ quỹ và một y tá có sức khỏe lý tưởng đúng tiêu chuẩn của một ý tá, trang điểm khá kín đáo, làn da nhuộm nắng một cách tinh tế và dưới lớp áo bơ-lu, hình như không được kín đáo cho lắm, tên có ấy là Brigitte, kiêm luôn chức trông coi thư viện sách và băng vidéo, Ferrer thường đến chỗ cô mượn sách và phim nên có dịp tìm hiểu về cô gái có tên là Brigitte này, đêm xuống, cô ta đến với người điện báo viên có chiếc cằm vuông, mũi hình thoi và bộ râu vểnh. Chẳng còn mấy hy vọng kiếm tìm được cái gì ở đó nữa nhưng để rồi xem, để rồi xem liệu có chuyện gì xảy ra không.
Ngày đầu tiên, trên bong tàu, Ferrer làm quen với các chỉ huy tàu. Viên thuyền trưởng như một diễn viên và phó thuyền trưởng như một người dẫn chương trình nhưng mọi chuyện không chỉ dừng lại ở đó: những sĩ quan khác, trung cấp hoặc hạ sĩ, không tỏ ra có chuyện gì đặc biệt cả. Những lời giới thiệu đã được kết thúc đâu đấy, cũng do mọi người chẳng có mấy chuyện để mà nói với nhau, nên Ferrer đi vào căn phòng ấm cúng rộng rãi của con tàu phá băng, mùi từ căn phòng tỏa ra thúc giục anh ta cất bước vào đó. Nhìn thoáng qua, căn phòng có vẻ sạch sẽ và không có mùi gì đặc biệt, nhưng để ý một chút người ta phân biệt được, trong sự trật tự đó, những bóng ma của dây thần kinh khứu giác là mùi khí ga, dầu, mùi mỡ cháy, mùi thuốc lá, bãi nôn và thùng đựng rác đã tràn ứ ra ngoài, xa hơn một chút, một mặt sàn bập bênh và ẩm ướt bẩn thỉu nhớp nháp, ống thải nước, tiếng ồn của xi phông.
Tiếng loa phóng thanh rầm rì những mệnh lệnh, những bóng người đùa cợt phía sau những cánh cửa mở hé. Đi từ đầu mũi ra phía sau tàu, Ferrer gặp một vài thủy thủ nhưng không chuyện trò gì với họ cả, đầu bếp và thợ máy không quen với sự hiện diện của những người không-có-việc và vì họ rất bận: ngoài nhiệm vụ của họ là thực hiện những thao tác vận hành máy móc, đa phần họ hối hả với công việc trong những gian máy rộng lớn hoặc máy phát điện nằm ở khoang dưới đáy con tàu, được bố trí những máy công cụ đồ sộ vả cả những dụng cụ nhỏ bé tế nhị. Anh ta chỉ làm quen được với một thủy thủ trẻ có vẻ nhút nhát, dễ xúc động nhưng khỏe mạnh, vạm vỡ, anh ta đang chăm chú dõi theo những con chim bay ngang qua bầu trời. Hình như đó là những chú gà gô trắng, những con vịt biển mà bộ lông của chúng được sử dụng làm chăn lông, chim hải âu, và tôi tin là hầu như đủ loại.
Gần như tất cả mọi bữa ăn đều giống nhau, giàu chất mỡ, được dọn ra theo giờ nhất định và chỉ có nửa giờ ở quán bar ngắn ngủi vào buổi tối, để uống một vài cốc bia. Ngày đầu tiên trôi qua là ngày của khám phá, sáng ngày hôm sau, trời phủ đầy sương mù, thời tiết bắt đầu như dãn nở ra. Qua cửa phòng ngủ, Ferrer nhìn thấy vùng Đất-Mới đang lướt qua phía bên phải trước khi đi dọc theo bờ biển Labrador [2] tới vịnh Davis rồi vào eo biển Hudson nhưng hình như không ai nhận ra tiếng gầm rú của động cơ.
Không khí được bao bọc vào giữa những vách đá dựng đứng màu nâu-đỏ tím, và trở nên buốt giá hơn, không khí như ngưng đọng lại, đè nặng lên mặt biển cũng phẳng lặng không kém: không một ngọn gió, không một bóng tàu, và không một cánh chim khuấy động vùng không khí dù chỉ là một cái chao cánh, không một tiếng động. Hoang vắng hoàn toàn, thỉnh thoảng có những vạt rêu và địa y như những gò má không được cạo cẩn thận, bờ biển như tụt thẳng xuống mặt nước.
Qua lớp sương mù đơn điệu, người ta phán đoán chứ không nhìn thấy tận mắt từ những mỏm núi, những dải băng hà tụt xuống với một tốc độ không thể nhận ra được. Sự im lặng ngự trị tuyệt đối nơi đây cho tới lúc người ta nhận ra những tảng băng trôi.
Do lớp băng lúc đầu còn tương đối mỏng, nên con tàu phá băng dễ dàng mở đường ngay trước mũi tàu. Rồi rất nhanh lớp băng trở nên rất dày tới mức con tàu không thể tiếp tục tiến lên được nữa: tàu phải dừng lại dùng sức nặng của nó đè nát lớp băng dày: lớp băng nổ tung vỡ vụn bung ra tứ phía, và cứ liên tục như vậy. Đi xuống hầm tàu chỗ phía mũi điểm chạm với lớp băng, mũi tàu bằng kim loại dày tới sáu mươi milimét, Ferrer nghe được rất gần tiếng động con tàu nghiến vào lớp băng: một dải âm thanh đủ loại rít, miết và gầm gừ, hiệu ứng trầm và những tiếng nghiến riết rỏng khác nhau. Nhưng khi lên mặt boong, anh ta chỉ còn nghe thấy những tiếng gãy nhỏ răng rắc liên tục, như một mảnh vải bị xé toạc ra phía trên những chiếc tàu ngầm nguyên tử nằm bất động, lặng lẽ, đỗ một cách bình yên dưới đáy biển, và trong những chiếc tàu ngầm đó, thủy thủ đoàn nói chuyện với nhau bằng những lời giả dối trong thời gian đợi chờ vô vọng những mệnh lệnh mới.
Ngày lại ngày trôi qua, con tàu tiếp tục cuộc hành trình mà không gặp bất cứ con tàu nào ngoại trừ một lần duy nhất với chiếc tàu phá băng cùng kiểu dáng. Hai con tàu đỗ lại một giờ cạnh nhau, rồi lại tiếp tục cuộc hành trình sau khi các vị thuyền trưởng trao đổi cho nhau bản đồ và bản sao nhật ký hải trình, tất cả chỉ có vậy. Đó là những vùng đất mà con người chưa bao giờ đặt chân đến mặc dù những vùng đất ấy đã có không ít quốc gia đòi sát nhập vào lãnh thổ của họ: bán đảo Scandinave, những người thám hiểm đầu tiên đặt chân đến vùng đất này là người Nga, bởi nước Nga cách đây chẳng xa xôi gì, rồi Canada cũng là một quốc gia gần gũi, rồi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng tương tự như vậy, họ cho rằng họ cũng rất gần. Hai hoặc ba lần gì đó, người ta nhìn thấy những khu làng hoang vắng trên bờ vịnh Labrador, những khu làng này do chính quyền trung ương xây dựng phục vụ những người dân bản địa, cùng với một cụm máy phát điện, rồi cả nhà thở được trang bị rất hoàn hảo. Nhưng do không thích ứng với những nhu cầu của người dân địa phương, nên họ đã phá bỏ đi trước khi biến chúng trở thành hoang phế. Gần những ngôi nhà tồi tàn trống huơ hoác, đây đó vẫn còn một vài bộ xương chó biển phơi khô treo lủng lẳng trên những chiếc giá, dấu tích của việc dự trữ thức ăn cũng như phương cách tự vệ chống lại loài gấu trắng.
Phong cảnh nơi đây thật thú vị, thật bao la và thật là hùng vĩ, nhưng sau một vài ngày thì bắt đầu cảm thấy chán ngắt. Tới lúc này Ferrer đã trở thành một kẻ cần mẫn trong thư viện, lục tìm những cuốn sách nói về những chuyến thám hiểm địa cực – Greely, Nansen, Berentsz, Nordenskjold – và những cuốn băng vidéo đủ loại – Rio Bravo , tất nhiên là cả bộ phim Kiss me deadly , Cô thủ quỹ đồi bại , Cô thực tập háu đói .
Ferrer chỉ mượn những tác phẩm mới nhất cho đến khi biết rõ mối quan hệ của Brigitte với người điện báo viên: biết rằng không còn chút hy vọng dù mong manh với cô nữ y tá, nhưng Ferrer đã không còn ngại ngùng với đôi mắt cô ta nữa. Những đắn đo vô ích: nụ cười bình đẳng, độ lượng như của một người mẹ, Brigitte hững hờ ghi tên bộ phim Bốn kỵ sĩ của ngày tận thế hay Hãy đánh nhau với bọn ta vào cuốn sổ. Với nụ cười trấn an và ngụ ý, Ferrer không đắn đo thêm nữa mà cứ hai ngày một lần, bịa ra những ngón tình cảm trìu mến giả vờ - đau đầu, đau mình mẩy – để yêu cầu được chăm sóc – dán cao, hoặc mát-xa. Hiệp đầu khởi sự như thế là ngon lành.