Ngày con tàu vượt qua địa cực, thông thường những người đi biển phải tổ chức một bữa tiệc khi đi qua đường giới tuyến này. Ferrer được báo trước bằng một cách nói bóng gió, giọng giễu cợt pha chút lo sợ vẩn vơ, dấu ấn của định mệnh khổ tận cam lai . Tuy nhiên, anh ta không biết gì về sự đe dọa này, mà giả thiết đó là một thứ lễ nghi thường thấy mỗi khi vượt qua đường xích đạo, hoặc khu vực chí tuyến. Vậy mà không: những việc như thế này thường được cử hành ở xứ lạnh.
Cho nên, buổi sáng hôm đó, ba thủy thủ cải trang thành những con yêu tinh nhảy bổ vào phòng Ferrer gào thét và bịt mắt anh ta lại, rồi kéo xềnh xệch anh ta dọc theo hành lang tới tận phòng thể thao lúc này bị che tối om. Họ cởi băng bịt mắt cho anh ta: Thần Neptune [5] đang ngồi trên cái bục trung tâm, bên cạnh là vị thuyền trưởng và một số hạ sĩ quan. Đeo vương miện, mặc áo choàng, cầm đinh ba, đi giày trang trí hình cọ của thợ lặn, Neptune, do bếp trưởng thể hiện, cùng với cô gái hay cắn móng tay trong vai Amphitrite [6] . Vị chúa tể của nước, hai tròng mắt quay tròn bắt Ferrer phải quỳ lạy và đọc theo anh ta những điều ngớ ngẩn, đo kích thước căn phòng thể thao, mò chùm chìa khóa có những chiếc răng nhọn nằm dưới đáy một chậu nước sốt cà chua và nhiều trò ăn hiếp vô hại khác.
Trong suốt thời gian Ferrer thực hiện các yêu cầu đó, anh ta nghe thấy hình như Neptune đang kín đáo nguyền rủa Amphitrite. Cuối cùng, viên thuyền trưởng đọc một bài diễn văn ngắn và trao cho Ferrer thẻ chứng nhận cuộc thử thách trên tàu.
Cuộc hành trình tiếp tục, con tàu vượt qua Bắc cực, người ta bắt đầu nhìn thấy một vài tảng băng trôi. Nhưng phía xa kia chỉ toàn những tảng băng trôi, những con tàu, tốt nhất, là hãy tránh xa nó ra. Những tảng băng đôi khi nằm rải rác, đôi khi nhóm lại với nhau thành từng núi băng bất động, giống như buông neo lại ở đó, một vài mảng băng trơn láng và lóe sáng, toàn bộ khối băng đá không hề có một chút tì vết nào cả, một số khác trông lại rất bẩn, đen thui, hoặc vàng khè do tích tụ lâu ngày. Nhìn nghiêng, những tảng băng giống hình thù của những con vật đủ loại hoặc giống rất nhiều dạng hình học, kích thước của chúng bằng cả quảng trường Vandôm và Champs-de-Mars. Tuy nhiên, những tảng băng ở đây có vẻ rời rạc, không rắn chắc như những tảng băng ở Nam cực, ở đó chúng thường di chuyển thành những khối băng lớn, có góc cạnh, không cân xứng và gồ ghề, lồi lõm, cứ như chúng vừa trở lại sau những giấc ngủ không yên bình.
Ban đêm, Ferrer ngủ không yên giấc, anh ta ra khỏi giường đi lên phòng chỉ huy tàu để giết thời gian với những người thủy thủ trực ban. Bình minh, trống trải và rộng mênh mông như một phòng đợi, mọi phía của căn phòng chỉ huy được ghép bằng kính trong suốt. Dưới sự giám sát trong trạng thái ngủ gật của một sĩ quan, hai thủy thủ lái tàu cứ bốn giờ thay phiên nhau một lần đứng trước bàn điều khiển, máy đo độ sâu và ra-đa, mắt hướng về máy đo chuẩn hướng đi. Ferrer ngồi vào một góc trên một tấm thảm dày. Anh ngước mắt nhìn phong cảnh được những ngọn đèn pha công suất mạnh chiếu sáng mặc dù chẳng có cái gì để mà ngắm nhìn cả, phía xa tít tắp, chẳng có cái gì khác ngoài một màu trắng chìm trong đêm tối. Để làm một cái gì đó cho có ích, anh ta đến lục lọi, tra cứu những tấm bản đồ, máy định vị toàn cầu, các bản fax thông tin dự báo thời tiết. Được mấy thủy thủ trực ban hướng dẫn, Ferrer giết thời giờ bằng cách dò tìm sóng phát thanh trên mọi tần số của chiếc radio. Cũng phải mất hơn mười lăm phút, nhưng cái mà anh ta muốn tìm thì lại chẳng tìm được.
Vì lý do kỹ thuật, con tàu phải dừng lại giữa lớp băng, phía dưới đáy tàu đã có chuyện gì xảy ra. Thủy thủ ném thang xuống và trên những nấc thang bằng gỗ, nước đá đã tích tụ tạo thành hình dáng như những dải núi nhỏ, Ferrer bước xuống dạo một vòng. Im lặng, im lặng vĩnh cửu, không có một tiếng động nào khác ngoài tiếng bước chân của anh ta ngập trong lớp tuyết dày và hơi thở của gió, một hoặc hai lần gì đó có tiếng kêu của một con chim cốc. Mặc dù đã có quy định nhưng Ferrer vẫn muốn đi ra xa hơn một chút và phát hiện thấy một gia đình nhà moóc đang đứng ngồi lổn nhổn, chen chúc tựa vào nhau bên một tảng băng trôi. Bên cạnh các bà vợ là những ông chồng moóc già chỉ quen với chế độ một vợ một chồng, trọc đầu và đầy râu, khắp cơ thể đầy những vết sẹo, dấu tích của những trận kịch chiến. Một con cái thỉnh thoảng he hé mắt nhìn, những chiếc vây bơi của nàng quạt quạt trước khi lại tiếp tục thiu thiu ngủ. Ferrer quay lại tàu.
Và mọi chuyện lại cứ tiếp tục như vậy, không ngơi nghỉ. Tuy nhiên, có một phương sách để chống lại sự buồn tẻ: chặt thời gian ra như những khúc xúc-xích. Chia chúng ra thành bảy ngày (N trừ 7, N trừ 6, N trừ 5 trước khi tới nơi) và giờ cũng vậy (tôi thấy đói: G trừ 2 trước bữa ăn trưa), rồi thì phút (tôi đã uống suất cà phê của tôi: bình thường P trừ 7 hoặc 8 trước khi tôi đi vệ sinh) và ngay cả giây nữa (tôi đi một vòng trong phòng chỉ huy: G trừ khoảng 30; nằm giữa khoảng thời gian tôi đi một vòng và khoảng thời gian sau đó dành để suy nghĩ, tôi cứu được một phút). Tóm lại, như ở trong tù, chỉ cần đếm, ước lượng thời gian của tất cả những công việc mà người ta đã làm – ăn cơm, xem vidéo, chơi đố chữ hoặc xem phim hoạt hình – để giết chết sự buồn tẻ ngay từ trong trứng. Mặc dù người ta cũng có thể không làm gì hết, có thể dành cả buổi sáng, vận áo ngủ và quần đùi, nằm trong phòng đọc sách, rồi dậy tắm rửa và mặc quần áo. Do lớp băng phản chiếu ánh sáng chói chang lên cửa sổ thành tàu, màu sáng trắng ấy làm cho cả cabin cũng sáng lên tứ phía, làm cho không một cái bóng nào có thể in hình được trong khoang cabin giống như dưới hệ thống đèn không gây bóng trong phòng mổ, Ferrer căn một chiếc khăn tắm lên cửa mở, rồi chờ đợi.
Nhưng cũng có một vài trò giải trí, thực ra chẳng có ý nghĩa gì: trưởng máy và người chịu trách nhiệm bảo hiểm đi kiểm tra đều đặn các buồng, huấn luyện những bài tập sơ tán và mặc áo phao cứu hộ. Anh ta cũng tới thăm cô y tá Brigitte thường xuyên hơn, và còn mạo hiểm tán tỉnh cô ta khi biết chắc người điện báo viên đang ở trong phòng làm việc, nịnh bợ cô ta về các khả năng trí tuệ và ngoại hình tuyệt mỹ, về màu da nâu cô ta có được trong thứ khí hậu băng giá khắc nghiệt này. Qua câu chuyện Ferrer biết rằng để tránh căn bệnh trầm uất hoặc là điều gì đó tồi tệ hơn, một thỏa ước lập thể đã được ban hành rằng trong những vùng không có mặt trời, các nhân viên nữ có quyền được chiếu tia cực tím bốn giờ một tuần.
Phần còn lại của thời gian, đó là ngày chủ nhật, một ngày chủ nhật dài dằng dặc mà sự im lặng tuyệt đối giữ một khoảng cách giữa âm thanh, các sự việc và thậm chí cả những khoảnh khắc thời gian: màu trắng như hòa vào không gian và cái lạnh giá làm cho thời gian như chậm lại. Có cái gì đó đủ làm cho người ta lạnh cóng trong con tàu phá băng ấm áp, ngay cả chuyện đi lại Ferrer cũng không còn mơ tới nữa vì các khớp xương như cứng lại, từ lúc vượt qua đường địa cực, anh ta không còn dám đặt chân tới phòng thể thao, trên thực tế, mọi cố gắng chỉ còn tập trung vào giờ các bữa ăn mà thôi.