Tôi Đi Đây

Lượt đọc: 426 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12

Họ phát hiện ra vị trí con tàu đắm Nechilik vào một buổi sáng đẹp trời, từ một khoảng cách khá xa, một khối nhỏ màu đen hoen rỉ như một đám nhọ nồi nhô lên giữa lớp băng trắng lóa lô nhô những mỏm đá lộ thiên, như món đồ chơi cũ vỡ nát đặt giữa tấm thảm rách bươm. Hình như con tàu bị kẹt trong lớp băng dưới chân một vách đá trơ trọi, một phần bị tuyết phủ nhưng một bên sườn của vách đất ấy sụt xuống tạo thành một đoạn vách trần trụi. Nhìn từ khoảng cách này, xác đắm có vẻ được bảo quản không đến nỗi tồi lắm: được giữ chặt bằng những sợi dây neo thẳng căng, hai chiếc cột buồm nhỏ vẫn nguyên vẹn đứng thẳng một cách kiên nhẫn, và khoang lái ở phía sau hình như còn khá nguyên vẹn đủ để chắn che những mối đe dọa hãi hùng. Chúng ta cần lưu ý rằng trong những vùng đất như thế này, đôi mắt thường hay bị ảo giác đánh lừa. Cho nên, lúc đầu họ hoài nghi con tàu này là một bóng ma, Ferrer phải chờ cho tới khi chỉ còn cách con tàu một quãng ngắn mới dám chắc là mình đúng.

Ảo ảnh thực sự ngự trị dưới các tầng khí hậu nơi đây. Hôm qua còn khủng khiếp hơn, mọi người dấn bước, cặp mắt được bảo vệ bằng các cặp kính đen, không có những cặp kính đen đó thì mặt trời vùng bắc cực sẽ đổ đầy cát vào mắt các bạn và phủ lên đầu đầy những bụi chì, rồi cũng mặt trời đó đột nhiên được nhân ra thành nhiều mặt trời khác giữa những đám mây băng giá, đó là những mặt trời ảo: Ferrer và những người dẫn đường bị rơi vào trong tình cảnh có những năm mặt trời cùng một lúc chiếu sáng lóa lên đầu mình, năm mặt trời xếp thành một hàng ngang, trong số những mặt trời đó, mặt trời thật – cùng với hai vì tinh tú phụ khác xếp theo chiều dọc với mặt trời thật. Hiện tượng này chỉ kéo dài khoảng một giờ trước khi mặt trời thật trở lại đơn độc.

Từ một khoảng cách khá xa, họ nhìn xác tàu đắm, Ferrer ra hiệu cho hai người dẫn đường im lặng và đi chậm lại cứ như trước mặt họ là một sinh vật sống, hay ít ra là một con gấu trắng đang chực nhảy bổ vào họ. Họ hãm phanh chiếc xe trượt một cách dứt khoát rồi tắt máy áp sát vào thân tàu, họ thận trọng như người gỡ mìn, nắm chặt gi-đông đẩy xe trượt lên áp xe vào lớp vỏ kim loại của con tàu. Hai người địa phương đứng cách Nechilik một quãng, với họ, việc tiếp cận con tàu là một việc rất hệ trọng, còn Ferrer leo lên thân tàu.

Đây là một con tàu buôn cở nhỏ, dài hai mươi ba mét, có một tấm đồng tán đinh ri-vê ở dưới tay lá, ghi rõ năm khánh thành con tàu (1942) và địa điểm đăng kí (Saint John, New Brunswick). Thân tàu và dây chão hình như còn khá tốt, lớp băng bao phía ngoài bị vỡ ra như một mớ gỗ mục. Ferrer đi vào ca bin đưa mắt nhìn lướt qua buồng lái: cuốn sổ nhật kí hành trình đang mở rộng, một cái chai rỗng, một khẩu súng đã hết đạn, quyển lịch năm 1957 in hình một cô gái khá hở hang, hình ảnh cô gái hiện lên sự nóng bức dữ dội và làm tăng thêm nhiệt độ môi trường lúc này là khoảng hai mươi lăm độ âm. Nhưng trang giấy cuốn nhật kí hành trình bị băng dính chặt không thể nào lật mở được. Qua cửa kính buồng lái mà bốn mươi năm nay không một ánh mắt nào nhìn qua đó, Ferrer liếc nhìn quang cảnh xung quanh tàu một màu trắng toát. Rồi anh ta bước xuống tham dò hầm tàu, ngay lập tức nhìn thấy cái mà anh đang cần tìm.

Tất cả hình như vẫn nguyên vẹn ở đó, giống như dự đoán, chúng được lèn chặt trong ba chiếc hòm kim loại mà thời gian chưa kịp tàn phá. Ferrer khó khăn lắm mới mở được mấy cái nắp thùng bì băng giá làm cho kẹt cứng, lật xem qua loa những thứ đựng bên trong, rồi trở lại mở boong tàu gọi hai người hướng dẫn. Angoutretok và Napaseekadlak thận trọng, vẻ mặt kính phục, nhanh chóng đi tới chỗ Ferrer, họ bước xuống hầm tàu rón rén như đám đào tường khoét gạch ăn trộm ở một ngôi nhà biệt lập. Những chiếc thùng rất nặng và cầu thang sắt dẫn xuống hầm tàu trơn tuồn tuột. Để đưa được những chiếc hòm lên boong, chất lên xe tải là cả một sự kiện. Hai người dẫn đường cột chặt những chiếc hòm vào mấy chiếc rơ-móc, họ thì thầm điều gì đó với nhau. Ferrer không nói gì, hai người dẫn đường cười cợt trêu chọc nhau bằng những chuyện khôi hài nhưng rất tiếc không thể nào dịch sang tiếng Pháp được. Trước những kết quả bất ngờ, cả hai người dẫn đường không mấy quan tâm, còn Ferrer thì xúc động. Công việc kiếm tìm thế là xong. Bây giờ chỉ tính chuyện đường về nữa thôi. Nhưng trước lúc lên đường trở về phải cho cái gì vào bụng cái đã, Napaseekadlak đề nghị.

Trong khi Napaseekadlak loay hoay nhóm lửa, dùng rìu bổ những chiếc cột buồm phía mũi con tàu Nechilik, thì Ferrer, theo sau là Angoutretok trở lại hầm tàu kiểm tra kĩ một lần nữa. Lông thú là một phần hàng hóa của chuyến tàu buôn này vẫn còn nguyên vẹn, nhưng không được bảo quản tốt cho lắm, những tấm lông thú cứng queo như gỗ nhiệt đới, lông đã bắt đầu bong ra khỏi da: những tấm da này chẳng còn giá trị thương mại gì nữa. Ferrer chọn tấm da cáo nhỏ có vẻ còn tốt hơn những tấm khác, để một lúc cho tan giá, có lẽ làm quà tặng, nhưng mà cho ai, để rồi xem. Còn việc chuẩn bị bữa ăn, phải thuyết phục Angoutretok mở một hộp thịt bò đã quá hạn sử dụng gần một nửa thế kỉ nay. Rất tiếc, hiển nhiên thôi, là không thể nhặt thêm một số đồ đạc không tồi lắm năm lăn lóc trên tàu Nechilik, những cây đèn nhỏ bằng đồng xinh xắn, cuốn Kinh Thánh được đóng một cách trang nhã, một chiếc máy lục phân tuyệt hảo. Nhưng từng ấy thùng đã đủ nặng cho chuyến trở về, không thể đem theo thêm một món đồ nào khác nữa. Bữa ăn trưa kết thúc, họ lập tức lên đường trở về.

Hành lý nặng, không thể di chuyển nhanh được, họ phải mất rất nhiều thời gian mới trở về tới Port Radium. Không thể nào dự kiến được các điểm dừng chân giải lao nghỉ ngơi, những lưỡi gió sắc lạnh đôi khi bùng lên chặn ngang bước tiến của họ, làm cho cuộc hành trình đã chậm lại càng chậm hơn. Và mùa xuân bắc cực bắt đầu mở ra những lỗ hổng bất ngờ giữa mặt đất lúc này vẫn còn bị băng giá phủ kín: mỗi lần Ferrer sa chân vào giữa những lỗ hổng đó, ngập tới quá đầu gối, để lôi chân ra khỏi hố là cả một vấn đề, không phải chuyện dễ dàng gì, rồi phải hông khô ủ ấm đôi chân. Lúc này mọi người nói chuyện với nhau ít hơn so với lúc đi, họ ăn uống vội vàng và giấc ngủ chập chờn, lúc này; Ferrer chỉ còn nghỉ đến món chiến lợi phẩm nữa thôi. Đến Port Radium, nhờ những người bà con, Angoutretok tìm cho Ferrer một căn phòng trát bằng xi-măng tại một tụ điểm câu lạc bộ, hay hội quán gì đó, đó là tất cả những gì để có thể gọi là khách sạn tại khu vực này. Cuối cùng, còn lại một mình trong phòng, Ferrer mở hết mấy chiếc thùng đựng đồ, kiểm kê tất cả mọi thứ đựng bên trong.

Như đã dự đoán trước đây, tất cả những món đồ trong thùng thuộc nghệ thuật điêu khắc cổ trên xương cá voi rất quí hiếm, gồm nhiều phong cách khác nhau mà Delahaye và một số chuyên gia khác đã giải thích cho anh ta hiểu. Giữa những món đồ đó, có hai chiếc ngà voi ma mút được chạm trổ rất tinh xảo bị khoáng chất vivianít màu xanh phủ lên, sáu cặp kính đi tuyết được cắt gọt từ những nhánh gạc hươu, nai, một con cá voi nhỏ được chạm trên tấm răng lược cá voi, một bộ áo giáp bằng ngà có đeo dây trang sức, một công cụ khoét mắt tuần lộc làm bằng sừng tuần lộc, những viên đá có chữ viết, mấy con búp bê bằng thạch anh, những con lật đật bằng xương trụ hải cẩu, bằng sừng bò xạ, những chiếc răng nanh kì lân biển và răng cá mập được chạm khắc, những chiếc nhẫn và cái dùi bằng ni-ken lấy từ những tảng thiên thạch. Cũng có không ít những món đồ tế lễ và tang chế, là những chiếc bánh mang hình số tám hoặc vành khuyên, được làm bằng chất xtê-a-tít hoặc nê-phrít trơn, đen và đủ các loại màu đốm, da rắn. Rồi những chiếc mặt nạ đủ loại và cuối cùng là một bộ sưu tập những hộp sọ miệng bị bít lại bằng một loại đá nào đó, các hốc mắt bị lấp bằng những mẫu ngà của sư tử biển, có khảm những đồng tử đen huyền. Đây đúng là một đống gia tài.

« Lùi
Tiến »