Cam đường trong “Triệu Nam” là một bài thơ hoài niệm kẻ tôi hiền.
Lý Quảng Trí đang chủ trì một cuộc họp lãnh đạo nhà trường nghiên cứu việc sang thu rồi, lá rụng rồi, chổi quét đường nhà trường nên dùng chổi tre hay chổi rơm, còn nghiên cứu chuyện dấm bán trong căng tin nhà trường thường không chua, đường thường không ngọt, còn cả việc những phó giáo sư nào lên bước nữa thành giáo sư, giáo sư thông thường lên bước nữa thành giáo sư cao cấp, lại còn bàn giải tác phẩm học thuật quốc tế năm tới nên chọn gửi quyển sách nào, nên bỏ tiền dịch tiếng Anh quyển sách nào, liệu có cử người chuyên trách sang Harvard nước Mỹ, Cambridge và Oxford của nước Anh trước hay không, lấy danh nghĩa tiện đường ghé chân, đến thăm trước các vị trong Hội đồng bình xét, mang biếu họ một số đồ cổ của Trung Quốc, hoặc đồ gốm sứ của đời Minh, đời Thanh, để họ cảm thấy không phải quà biếu, chỉ là nhân đi dự hội nghị học thuật quốc tế khác, đến thăm họ nói chuyện, uống li cà phê, ăn bữa cơm.
Giữa lúc họ đang nghiên cứu như thế, tôi đẩy cửa bước vào. Xách hành lí của mình (có mang theo toàn bộ chứng cứ của họ), tôi đột nhiên như một võ sĩ đứng giữa đám binh lính giữ thành tản mạn.
Lúc đó đúng mười giờ sáng. Ánh nắng trên hành lang tầng tám nhà gác lớn cơ quan nhà trường sung túc và đầy đủ như trong nhà Lý Quảng Trí và Triệu Như Bình (khi tôi từ cầu thang điện đi vào lầu tám, ánh nắng chiếu xuống như nước ấm chảy trên nền nhà). Ảnh những bậc Thánh treo trên tường như Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Friedrich Nietzsche, Jean Jacques Rousseau, Johann Wolfgang Von Goethe, William Shakespeare, Charle Robert Darwin, còn có Lev Tolstoi và Lỗ Tấn, đều ở trên tường nhìn tôi đi vào phòng họp tầng trên của nhà trường bằng các nét mặt và ánh mắt, đều dùng ánh mắt và nét mặt vỗ tay chào tôi trong ánh nắng, đến mức tôi nghe thấy tiếng nói của các vị Thánh và ánh nắng trong hành lang yên tĩnh, tiếng nhảy múa của bụi trần trong nắng và tiếng bước chân khẽ chạm đất của tôi, giống như một bản hòa nhạc, tiếng nhạc trầm bổng, tiếng vỗ tay giòn giã, vừa hùng tráng vừa dịu êm biến hành lang thành sân khấu trước đã. Phòng họp ở giữa hành lang (tôi may mắn đã từng đi vào không chỉ một lần), người phục vụ đứng ở cửa sẵn sàng đi vào rót nước (là sinh viên tốt nghiệp khóa chính quy giữ lại trường). Cô bé mảnh mai xinh đẹp như Quế Phần nhân viên phục vụ (kiêm công việc làm tình) trong cửa hàng thuốc bảo vệ sức khỏe tận cùng phía bắc phố Thiên Đường.
Tôi đi đến chỗ cô, cô hỏi anh tìm ai?
Tôi đáp, Quế Phần, chào em, anh là giáo sư Dương mấy tháng trước hai chúng mình cùng sống với nhau một đêm em quên rồi sao?
Cô nói, các lãnh đạo đang họp, không ai được vào. Tôi hỏi, gần đây phố Thiên Đường và cửa hàng các em buôn bán vẫn tốt chứ?
Cô nói, giáo sư Dương, em đã từng nghe thầy giảng bài, cũng coi như học trò của thầy, thầy đòi vào, em e sợ hà trường sẽ đuổi việc em mất.
Tôi nói, lát nữa tôi ra. Khi ra chúng mình sẽ nói kĩ chuyện quá khứ. Nói xong tôi đẩy cửa bước vào. Đầu tiên tôi lễ phép gõ cửa phòng họp mấy cái, không chờ có tiếng trả lời trong phòng họp, tôi đẩy cánh cửa sơn đỏ thẫm bước vào. Vào rồi tôi còn tiện tay đóng mạnh cửa (để người phục vụ như Quế Phần đứng bên ngoài), sau đó tôi đứng thẳng đuỗn sau cửa như một anh hùng đứng trước đám thương binh yếu đuối, kinh ngạc. Lúc ấy Lý Quảng Trí và các hiệu phó đang bàn đi biếu đồ gốm sứ cho các vị trong Hội đồng bình xét của nước ngoài, biếu lọ hoa Thanh đời Càn Long, hay lọ hoa sen trong cung đình đời Minh, đang nói nguồn gốc và giá cả của lọ của đĩa, nói quyển sách chuyên đề nào càng phù hợp với khẩu vị của Hội đồng bình xét nước ngoài dễ đoạt giải. Tôi đã đi vào một cách bất ngờ giữa lúc ấy.
Đội trời đạp đất, tôi đứng trước mặt các vị.
Đầu tiên một vị hiệu phó ngồi đối diện bàn họp hình tròn nhìn thấy tôi, bỗng quay đầu lại hằm hằm hỏi tôi, ai cho anh vào? Không thấy các lãnh đạo đang họp à? Nhưng chưa dứt lời, ông đã nhận ra tôi là ai. Ý thức ra sự nghiêm trọng và sâu sắc của vấn đề, ông ngẩn người, nét mặt thuỗn ra yếu đuối và kinh ngạc, như gió thu thổi lá, ông vội vàng đưa ánh mắt lên mặt Lý Quảng Trí ngồi ở đầu bàn.
Trong phòng họp to rộng, đột nhiên tĩnh lặng như chết và căng cứng. Các lãnh đạo nhà trường hình như đều biết tôi đến làm gì. Nét mặt người nào người nấy bỗng chốc đều sống sượng, yếu đuối đến nỗi như bị nổ chảo mỡ, nhất loạt đều vàng lè và sạm lại, đều cùng một lúc quay sang nhìn mặt nhìn người Lý Quảng Trí.
Lý Quảng Trí đầu tiên sững sờ, sau đó ra bộ bình tĩnh trước sự biến, ngẩng nhìn tôi, trong chớp mắt, nét mặt thuỗn ra được che giấu một cách dửng dưng (nhưng tôi đã nhìn thấy sự hoảng loạn và bối rối của ông ta dưới nét mặt hờ hững dửng dưng ấy như dòng nước chảy lung tung bất an dưới lòng sông phẳng lặng). Trên mặt tuy nở một nụ cười nhàn nhạt hoan nghênh bạn, nhưng tay bưng cốc trà đang định giơ lên miệng sững lại ở giữa chừng có vẻ run run. Tôi nghe thấy tiếng nước chè búp sóng sánh trong cốc (Trà búp gì vậy? Có phải trà Long Tinh Như Bình pha cho tôi không?), hình như tôi còn nhìn thấy búp trà xanh co quắp đung đưa và trôi nổi trong nửa cốc nước. Cứ thế tôi đứng trước ánh mắt của mười mấy vị lãnh đạo nhà trường họ cứ thế hết nhìn tôi, lại nhìn Lý Quảng Trí kẻ thù của tôi.
Lúc này, Lý Quảng Trí để cốc trà trong tay ông ta lên bàn.
Liếc nhìn hành lí trong tay tôi, ông nói, ôi giáo sư Dương, anh về bao giờ thể?
(Chẳng phải tôi đã từng đến nhà ông?)
Ông hỏi, từ dãy núi Bả Lâu quê hương anh về trường phải không?
(Rành rành đã biết còn giả bộ ngố cái gì).
Ông nói, hơn một năm trước, anh bỏ bệnh viện ra đi không lời từ biệt, khiến cả nhà trường lẫn bệnh viện đều lo sốt vó, sau đó chúng tôi biết anh về quê nhà dưỡng bệnh, mọi người mới yên tâm.
Ông nói, các vị lãnh đạo đang họp, anh có việc chờ họp xong chúng ta sẽ hẹn thời gian gặp riêng bàn kĩ được không?
Tôi không trả lời, không nói gì. Vững tin ở mình, tôi xách hành lí đi đến trước bàn họp hình bầu dục (thật đúng như một anh hùng có quyền thế). Mặc sự sốt sắng và thỉnh cầu của Lý Quảng Trí (tôi nghe ông ta nói giọng hơi run run, nhìn mắt tôi tràn đầy sự thỉnh cầu và lấy lòng), mỗi bước tôi đi đều chắc nịch, êm vững, giống như một ông lớn bước lên bàn chủ tịch trang nghiêm. Tôi liếc nhìn tất cả mọi người, duy nhất không nhìn Lý Quảng Trí hoảng loạn ngồi trước mặt tôi, khi đến trước bàn họp cách cửa ra vào gần nhất, một ông hiệu phó và trưởng ban giáo vụ của nhà trường dịch người sang hai bên một cách bản năng chừa cho tôi một khoảng trống. Tôi liền đứng ở giữa chỗ trống ấy, thong thả nhấc hành lí trong tay lên lưng chừng đặt lên bàn họp kêu đánh soạt một tiếng, (giống như vị quan tòa khổng lồ đập mạnh cái búa pháp luật trong tay lên bàn), sau đó lại một lần nữa quắc mắt nhìn mọi người (y như một tướng quân nhìn tất cả cấp dưới của ông ta một cách ngạo mạn). Cuối cùng với ánh mắt sáng loáng nhìn vào mấy chậu cây cảnh Brazil xanh đen nuôi bên trong bàn hội nghị, tôi thong thả nói, xin lỗi, hôm nay tôi hơi lỗ mãng không giống một nhà trí thức, không giống một giáo sư. Sở dĩ tôi mạo muội xông thẳng vào hội nghị như thế này, là vì hơn một năm qua, tôi đi và khảo sát bên bờ sông Hoàng Hà ở dãy núi Bả Lâu quê hương tôi, cuối cùng đã có phát hiện và gặt hái to lớn. Mỗi lần nhắc đến phát hiện này, tôi đều không nén nổi xúc động, nói hơi lộn xộn, hi vọng các vị lãnh đạo có thể thông cảm cho nỗi lòng và cách nói của tôi. Tôi biết các vị bận mải công tác, có nhiều việc phải nghiên cứu. Nhưng ở đây tôi chỉ xin các vị vài phút, hoặc hơn chục phút, hay nửa tiếng đồng hồ. Tôi cần phải báo cáo và giải thích một cách ngắn gọn với các vị lãnh đạo ngay bây giờ về phát hiện to lớn của tôi.
Tôi đã nói một cách ngắn gọn rõ ràng, tôi đã phát hiện một thành cổ Kinh thi như thành cổ Pompeii ở Italia bên bờ sông Hoàng Hà hoang vắng ở trung nguyên. Xem xét từ điều tra khảo sát và nghiên cứu bước đầu của mình, ngôi thành cổ Kinh thi này cách ngày nay một ngàn hai trăm năm, hoặc một nghìn ba trăm năm, là một quận của thời kì trung Đường, hình thành khoảng từ một ngàn hai trăm năm đến một ngàn ba trăm năm và mất đi vào khoảng tám trăm năm đến chín trăm năm thời Ngũ đại thập quốc, trải qua bốn trăm năm đến năm trăm năm mươi năm. Nguyên nhân rất đơn giản, chính là hơn hai ngàn năm trước, ở lưu vực sông Hoàng Hà đất đai phì nhiêu, nước đủ phân nhiều, dân chúng chọn ở hai bên bờ sông hoàn toàn sống một đời sống trồng lúa dệt cửi hài hòa nhất của loài người. Thời ấy ca hát ngâm thơ là phương thức văn hóa chủ yếu nhất của dân chúng, cũng là mảnh đất đầu tiên sáng tác thơ ca "Kinh thi". Tôi nói, trang thứ 226 trong cuốn "Khởi nguồn của Kinh thi" trong thư viện có ghi, hơn hai ngàn năm trước, lưu vực tiếp giáp giữa dãy núi Bả Lâu và sông Hoàng Hà đã từng sản xuất nhiều bài "Kinh thi", có ghi chép và kể về thành phố thơ cổ. Nhưng sau đó, nước sông Hoàng Hà dâng lên thay dòng chảy. Dân cư trong vùng chuyển đi tứ xứ, văn hóa không được lưu truyền, thành phố thơ ca bị vùi lấp. Nhưng hiện nay, thành phố thi ca cổ xưa lại xuất hiện. Tôi đã phát hiện đống đổ nát của nó và đào bới khai quật lên. Nhà ở và đường phố đá xanh trong thành phố thơ ca cổ hiện giờ giống như nhà ở và đường phố của thành phố cổ Pompeii, có tường và sân hoàn chỉnh, có rất nhiều cổng vào nhà, trên xà ngang bằng đá có khắc những bài thơ ca cổ trong "Kinh thi". Khu trung tâm của thành cổ thơ ca có sân khấu nghe thơ hình bán nguyệt và bãi xem biểu diễn hình tròn khổng lồ tương tự rạp kịch Hy Lạp cổ, còn có 221 bài thơ và bài hát cổ chưa thu gom vào "Kinh thi". Hơn hai ngàn năm trước, những thơ ca Khổng Tử chưa thu thập được hoặc thu thập được nhưng khi biên soạn "Kinh thi" ngài đã lược bỏ, hiện nay rất có thể được khắc toàn bộ trên đá của các thôn bản cổ chưa đào bới chung quanh thành cổ và thành thơ ca cổ. Tôi vừa nói vừa lấy trong hành lí ra toàn bộ bản sao lục, ghi chép và miêu tả những đoạn những mảng của thành phố thơ cổ (khi lấy những thứ này, tay tôi chạm vào túi nhựa đựng vật bẩn và chứng có thông dâm gây án của Lý Quảng Trí và Như Bình, bất chợt trong lòng không ghìm nổi cơn giận như bị lửa hơ cháy, nhưng vì thành phố thơ ca cổ và sự phát hiện vĩ đại của mình, tôi đã dẹp chứng cớ và vật bẩn thỉu kia sang một bên, để chúng tại chỗ chờ đợi lời kêu gọi và mệnh lệnh của tôi, giống như mũi tên trên cánh cung chờ bắn đi). Tôi bày toàn bộ trích yếu ghi chép số thứ tự, hình vẽ, chữ sai, chữ lạ, chữ đồng âm, chữ tam âm ở mặt sau của bản thảo viết tay cuốn sách chuyên đề "Phong nhã chi tụng" (chứng cớ đấy), cả sổ tay cũ, giấy bản thảo ố vàng và những thứ vụn vặt linh tinh, vì lúc ấy không có giấy, nên không thể không viết lên khăn mùi xoa hoặc lên sách công cụ, lên một quyển từ điển nào đó, giống như một em bé để tìm vật gì đó đã lôi hết mọi thứ trong cặp sách ra bày lên bàn. Sau đó tôi tiện tay cầm một quyển sổ tay, đọc bài thơ "Cát thảo" không có trong "Kinh thi" tôi phát hiện trước cửa gia đình thứ hai mươi bảy. Lại cầm mấy tờ giấy viết tay, đọc hai đoạn mười tám câu trong bài thơ dài không có tiêu đề quý báu nhất, trôi chảy nhất không thiếu dòng thiếu chữ trong bãi thơ cổ. Cuối cùng tôi nhìn vào mặt tất cả mọi người kể cả Lý Quảng Trí. Tôi có vẻ đắc ý và ngạo mạn nhìn bọn họ nói, các vị đều là lãnh đạo, đều là tinh anh, đều là chuyên gia và trí thức trong tầng lớp trí thức của Trung Quốc, các vị hãy nói xem, phát hiện thành phố thơ ca cổ của tôi bên bờ sông Hoàng Hà ở trung nguyên liệu có phải lại là phát hiện to lớn của nền văn hóa Trung Quốc gần một trăm năm nay?
– Liệu có phải là một cống hiến trọng đại đối với "Kinh thi" và đối với toàn bộ nghiên cứu quốc học truyền thống Trung Quốc?
– Đối với khởi nguồn và sự phong phú của nền văn hóa Hoàng Hà, liệu có ý nghĩa tư liệu và chứng cứ thực tế xưa nay chưa từng có hay không?
– Đối với những phát hiện như văn giáp cốt, gò Tam tinh, người vượn Bắc Kinh, văn hóa Bán pha, tượng người ngựa vân vân, so với phát hiện thành phố thơ ca cổ của tôi liệu có mờ nhạt đi trong chốc lát?
Tôi nói thao thao bất tuyệt, mỗi câu mỗi từ đều sôi nổi có âm có điệu có thanh có sắc, lên bổng xuống trầm, đan xen vào nhau (như một con ngựa tung bốn vó trên cánh đồng). Lúc ấy tôi nhìn thấy lời của mình nở hoa bốn phía, tỏa hương tám hướng trong ánh sáng phòng họp, y như у trong chớp mắt đông qua xuân về, vạn vật nở hoa, đầy thế giới, kín gầm trời đều là mùi thơm trong giọng điệu và bông hoa lời nói của tôi, còn có cả bươm bướm và ong mật bay liệng nhảy nhót giữa các từ ngữ tôi dùng. Tôi nhìn Lý Quảng Trí đang ngây người nhìn mình và giọng nói của mình như si như dại cùng tất cả tinh anh và lãnh đạo của Trường đại học Thanh Yên, một khí phách hào hùng và đắc ý mạnh mẽ ập đến tràn ngập cả phòng họp. Tôi liếc nhìn mặt từng người, nói với các nhà lãnh đạo không hề khách sáo, thật ra sự phát hiện của tôi, chính là sự phát hiện của Trường đại học Thanh Yên chúng ta, thành quả nghiên cứu của tôi chính là thành quả của Trường đại học Thanh Yên chúng ta. Sự phong phú và cống hiến của tôi đối với nền văn hóa quốc học Trung Quốc, chính là sự phong phú và cống hiến của Trường đại học Thanh Yên chúng ta đối với sự phong phú và cống hiến đối với nghiên cứu văn học cổ đại và toàn bộ nền văn hóa phương Đông. Vì thế tôi hi vọng Trường đại học Thanh Yên có thể lập tức quyết đoán, gấp rút điều động vốn và nhân lực, thành lập một tiểu tổ nghiên cứu gồm những người năng nổ và trí tuệ, cùng tôi đi đến bên sông Hoàng Hà dãy núi Bả Lâu tỉnh Hà Nam, do tôi thống nhất điều hành quản lí số chuyên gia và tiền vốn này, tranh thủ trong một tháng đào bới và chỉnh lí triệt để phát hiện này, sau đó nhanh chóng công bố trước công chúng, để cả nước và toàn thế giới đều nhận thức lại Trường đại học Thanh Yên của chúng ta và nền văn hóa cổ của chúng ta trong sự ngạc nhiên, khơi dậy một cơn sốt nghiên cứu văn hóa Trung Quốc và "Kinh thi" mới trong phạm vi toàn thế giới. Tôi vừa nói vừa đẩy sổ ghi chép trong tay, giấy bản thảo, những bài và câu thơ có hoặc không có trong "Kinh thi" ghi trên sách công cụ và khăn mùi xoa sang phía ông hiệu phó và ông trưởng ban giáo vụ bên cạnh, biểu thị tôi muốn (đồng ý) các ông xem ghi chép và nghiên cứu bằng tâm huyết của mình, đồng thời để họ chia sẻ niềm vui và sự phấn chấn do phát hiện to lớn của tôi đem đến. Khi tôi đẩy những sổ ghi chép, những mẩu những mảnh mình ghi chép rút cuộc có ngày sẽ trở thành những vật bày quan trọng nhất trong viện bảo tàng lịch sử đến trước mặt họ, tôi nói bằng giọng cưỡng chế và mệnh lệnh, bây giờ tôi có ba yêu cầu, mong các lãnh đạo có thể lập tức đồng ý trả lời tôi. Thứ nhất, vì tôi đã phát hiện và nghiên cứu thành cổ thơ ca này, tôi hi vọng sẽ lấy tên giáo sư Dương đặt tên cho thành cổ thơ ca này, gọi nó là thành cổ thơ ca Dương Khoa. Thứ hai chờ sau khi Dương Khoa này cuối cùng từ bờ sông Hoàng Hà trở về, nhà trường sẽ thành lập cho tôi một sở nghiên cứu Kinh thi học, đương nhiên phải do tôi làm giám đốc sở, do cá nhân tôi tuyển chọn nhân viên nghiên cứu, trực tiếp chiêu mộ nghiên cứu sinh và tiến sĩ Kinh thi học, đồng thời năm nào cũng có đủ kinh phí nghiên cứu riêng và ủng hộ vật chất (như nhà, xe, dụng cụ văn phòng hoàn toàn tự động, khỏi cần nói khoản kinh phí và vật chất ấy đều do Dương Khoa này quản lí và điều phối). Thứ ba, tôi nghe nói Hội đồng giải Nobel, thời gian gần đây định lập một giải toán học, một giải học thuật văn hóa, giải học thuật văn hóa sẽ coi trọng trao cho người phương Đông, nhằm động viên cổ vũ cho nghiên cứu và học thuật phương Đông. Vậy thì tôi hi vọng Trường đại học Thanh Yên có thể với tốc độ nhanh nhất, giới thiệu và báo lên Hội đồng xét giải Nobel về tôi và thành tựu của tôi một cách công bằng hợp lí. Nếu quả thật tôi được trao giải học thuật Nobel, tôi sẽ quyên góp toàn bộ tiền thưởng cho nhà trường để làm quỹ và tiền thưởng học thuật của Trường đại học Thanh Yên chúng ta.
Nói xong ba điều trên, giống như một bài luận văn dài trình bày rất hay của một nhà chính trị, tôi vung tay lên lưng chừng một cách bản năng và nhìn nét mặt mọi người bằng ánh mắt thúc bách, cuối cùng không hề khách sáo tôi nhìn chòng chọc vào khuôn mặt hốc hác của Lý Quảng Trí (lại có vẻ ngô ngô), thọc tay vào gói chứng cứ trong túi hành lí, làm như nếu ông ta và mọi người không lập tức trả lời tôi, không hoàn toàn đồng ý ba yêu cầu của tôi, tôi sẽ lập tức quyết đoán đưa toàn bộ chứng cứ ra, bày lên bàn hội nghị. (Đương nhiên tôi sẽ làm như thế. Trước khi xông vào phòng họp, tôi đã quyết định khi bị bức lên Lương Sơn, tôi nhất định sẽ làm thế). Tôi nhìn chằm chằm Lý Quảng Trí, cứ tưởng vẻ mặt ông ta sẽ tràn đầy hưng phấn và tươi rói, cảm thấy bất ngờ và ngạc nhiên trước phát hiện của tôi, sẽ lập tức lấy đi những sổ sách và giấy tờ ghi chép và nghiên cứu của tôi, sẽ lập tức đồng ý toàn bộ yêu cầu và kế hoạch của tôi. Nhưng tôi không ngờ, khi tôi nhìn ông, ông đã nhìn tôi bằng ánh mắt khác thường, giống như nhìn một thằng điên trên đường phố Bắc Kinh, hoặc một thằng ngố cởi hết quần áo trước mặt mọi người, im lặng lâu lắm không nói gì. Cuối cùng khi ánh mắt ông và ánh mắt tôi chòng chọc nhìn nhau như đọ súng đua gươm ở giữa chừng, ông đã chịu thua thu ánh mắt lại, suy nghĩ một lát, ông lại nhìn vào nét mặt của số cấp dưới trên bàn họp (như trưng cầu kiến mọi người). Tiếp theo là một sự im lặng đến lóe sáng, im lặng đến đen ngòm trong phòng họp, những ánh mắt trắng dã và xám ngoét nhìn nhau làm cho phòng họp to rộng hàng trăm mét vuông chìm nghỉm trong im lặng như chết, giống như một lăng đế vương bị đào trộm mộ vừa mở ra, vô cùng trống vắng, hoang lạnh và tràn đầy tử khí. Giữa lúc trống vắng và hoang lạnh kéo dài mênh mông, tôi chuẩn bị lấy từ trong túi hành lí ra gói chứng cứ gây án thông dâm giữa Lý Quảng Trí và Như Bình, thì rút cuộc Lý Quảng Trí đã cất tiếng.
Giọng ông ta sáng láng trầm khàn, lại có sức kêu gọi hấp dẫn. Không nhìn mọi người nữa, ông ta đứng thẳng người nói một mạch.
– Trường đại học Thanh Yên chúng ta là đỉnh kim tự tháp trong các trường cao cấp của Trung Quốc. Mọi người đều là tinh anh và tinh hoa cấp cục và cấp bộ trong giới trí thức Trung Quốc. Mọi việc chúng ta làm đều phải thực hành công khai, dân chủ, trong sáng và có kiểm tra giám sát. Giáo sư Dương Khoa một năm sáu tháng qua rời khỏi Thanh Yên vào bệnh viện trực thuộc của nhà trường chúng ta, điều dưỡng trong bệnh viện chuyên khoa tâm thần. Tại đó anh đã mấy lần giảng "Kinh thi" và quốc học cho các bệnh nhân tâm thần, hiệu quả rất tốt, được cả hội trường hoan hô nhiệt liệt, thậm chí đối với tâm lí và tinh thần của nhiều người bệnh lâu năm không chữa khỏi, đều có hiệu quả điều trị và hiệu năng của thuốc một cách không ngờ. Vì thế, bệnh viện tâm thần đã từng ba lần gửi công văn lên, hi vọng điều giáo sư Dương Khoa từ trường học về bệnh viện tâm thần làm giáo sư tâm lí văn hóa cho bệnh nhân của họ. Bây giờ, ai đồng ý điều giáo sư Dương Khoa đến bệnh viện tâm thần xin đề nghị giơ tay.
Lý Quảng Trí nói xong, là người thứ nhất dẫn đầu giơ tay phải lên cao.
Tiếp theo ông, tất cả mọi người trong phòng họp (trừ tôi), kẻ nọ nhìn người kia, y như thảo luận, rồi đều không hẹn mà cùng giơ tay phải lên không trung, giống như một rừng cây, mọi cây đều ngả về phía có ánh nắng, đều đồng loạt giơ một cành lên lưng chừng trời, bỗng chốc không khí phòng họp trở nên nghiêm túc, mây gió đột biến, thần bí khôn lường.
Có một thứ ngưng tụ đông đặc và tan ra trong phòng họp. Giữa lúc này, Lý Quảng Trí liếc nhìn mọi người nói luôn, mọi người đã đồng tình thì vấn đề coi như được xác định. Sau đó ông ta lập tức tuyên bố, vậy thì giải tán, ai về việc ấy.
Sự việc đột biến như mây gió, giống như một đoàn tàu đang lao vun vút bỗng cua gấp lao thẳng dừng lại trên đường ray, rồi lao theo hướng ngược lại. Cục diện này ngoài dự liệu của tôi, tôi không đề phòng, trở tay không kịp, đúng như tôi vừa nhấc chân là xộc vào nhà vệ sinh nữ, còn đang có đàn bà ở bên trong. Lúc này những đốm sáng ánh nắng trong phòng họp nhảy nhót trước mắt tôi, giống như vô số đốm lửa đang bay trước mắt tôi. Trong lúc các đốm sáng nhảy nhót, các ông hiệu phó, các ông trưởng ban giáo vụ và trưởng ban tổ chức của nhà trường đều đã kéo ghế, bắt đầu đi ra ngoài phòng họp.
Trong nháy mắt, chỉ còn lại một mình tôi và Lý Quảng Trí trong phòng họp.
Ông ta ở trước bàn đầu kia của phòng họp. Tôi ở trước bàn đầu này. Hai người nhìn nhau. Tôi thò tay vào cái túi vàng vải bạt của mình trên bàn họp, nắm chặt cái gói bảy tám thứ chứng cớ, như nắm chặt dây cháy chậm của một quả bom. Nhưng lúc này tôi nhìn thấy một thoáng lo sợ và kinh hoàng trong mắt Lý Quảng Trí. Sắc mặt ông ta vàng như nến, y như một người bệnh mất quá nhiều máu. Trên sống mũi ông ta lấm tấm một lớp mồ hôi hoảng loạn. Điều này khiến tôi có vẻ thương hại ông ta, có vẻ đồng tình ông ta.
Trong im lặng suy nghĩ hồi lâu, sự thương hại và đồng tình này khiến tôi dần dần trở nên độ lượng và thư thái. Tôi do dự để tay lên đống chứng cớ một lúc (có lẽ khá lâu, có lẽ chỉ một lát). Cuối cùng tôi lại rút tay khỏi đống chứng cớ. Lạnh lùng cười với ông, tôi nói, sớm biết có ngày hôm nay, việc gì hồi đó ông làm thế. Họ Dương tôi quân tử không ghi lỗi tiểu nhân, có thể tha cho ông lần nữa, mong ông có thể nhanh chóng nhận thức ra sự tôn nghiêm và giá trị của Dương Khoa này là một giáo sư, một nhà trí thức, còn có cả giá trị và ý nghĩa văn hóa của thành phố cổ Kinh thi tôi đã phát hiện. Ông Lí, tôi có thể lại cho ông một cơ hội, vì Trường đại học Thanh Yên, vì nhà nước và dân tộc này, tôi dành cho các ông một cơ hội, để các ông dẹp bỏ sự nghiên cứu và quyết định chó má của các ông lại tập trung tinh lực của lãnh đạo toàn trường vào thành cổ thơ ca và Kinh thi học, vào nền văn hóa cổ xưa và nền quốc học của nhà nước mà chúng ta đều yêu quý. Nếu không tôi sẽ làm các ông hối hận suốt đời.
Vừa nói tôi vừa nhìn Lý Quảng Trí. Nhưng ông ta hoàn toàn phớt lờ tôi, không nói với tôi một câu nào. Ông ta liếc nhìn tôi, giống như nhìn một thằng điên ăn mặc bẩn thỉu, lè lưỡi, đi ra khỏi phòng họp.
Mẹ kiếp, ông ta lại bỏ đi, để lại một mình tôi lẻ loi, như một chiếc lá vàng mùa thu ở lại giữa đồng không mông quạnh.