Thảo trùng trong “Triệu Nam”, là một bài thơ người hát khi nhớ vợ.
Buổi sáng lúc lên lớp, tôi nghe thấy tiếng bước chân lang nhà gác, gác dưới và vườn trường trở nên vắng vẻ như hết mưa trời nắng. Tôi ngồi trên sô pha, đưa tay bóp da ghế mềm nhẵn (y như da của các cô gái trên phố Thiên Đường), lại thử uống một hớp nước trà Như Bình pha cho mình (có vị thơm mát đậm chạm vào lưỡi, khiến lưỡi tôi có cảm giác thư thái nhẹ nhõm như cỏ non được làn gió hưu hưu thổi qua). Tôi để một búp trà hít vào mồm lên răng cửa khẽ nhai. Khi vị ngọt tanh thực vật ứa đầy khoang miệng, tôi nuốt lá chè vào bụng.
Tôi uống ừng ực một hơi hết nửa cốc trà, định vào bếp lục tìm đồ ăn (cho dù bản thân tự tay xào nấu cũng được), song cảm thấy mình không nên tùy tiện vào nhà ăn, nhà bếp của người ta. Tôi định đứng dậy đi xem các phòng (nhất là gian phòng Như Bình và Lý Quảng Trí đều đã vào thay quần áo), lại cảm thấy đó là buồng ngủ của người ta đương nhiên không nên vào. Trong nhà tràn ngập ánh sáng. Từ ba hướng ánh sáng ùa vào, hình như ánh sáng trong phòng khách chất đống ở lưng chừng bởi quá ư sung túc. Tôi nhìn những chùm những đống ánh sáng trắng bạc và sáng thấu ấy, nghe thấy tiếng chảy của không khí trong ánh sáng, tĩnh lặng ấm cúng, như chiếc lá lẻ loi của mùa thu bị ánh nắng phơi rụng trong một khe núi. Có mùi thơm của sơn trong căn nhà mới tu sửa, được ánh nắng vượt qua cửa sổ rọi vào khi nhạt khi đậm, đang bốc hơi bay trong nhà. Tôi cứ thế ngồi tại chỗ không nhúc nhích, muốn đi lại trong phòng khách, lại sợ giẫm bẩn nền nhà người ta. Muốn đứng lên đi mở một cánh cửa sổ, hứng gió thu bên ngoài thổi vào, lại e gió thổi tung buồng, tường nhà, sô pha, bàn ăn và không khí nhà người ta. Vậy là đành phải ngồi lì một chỗ, không nhìn ánh sáng nữa, mà nhìn vào cuốn sách Như Bình để trên bàn trà trước khi đi.
Quyển sách kích cỡ 32, dày như một hòn gạch, trang bìa thứ bốn màu vàng sữa bò trong ánh sáng của bàn trà, ánh lên vẻ mềm đẹp và tỏa ra mùi thơm mực in chỉ sách mới ra mới có. Tôi với tay cầm quyển sách, tay tôi bất chợt trĩu xuống (bản in bằng đồng, 450 trang). Nhưng trong lúc tôi định cân nhắc xem quyển sách nặng bao nhiêu, thì tên sách và màu đen thể chữ khải đề tên tác giả bỗng đập vào mắt, khiến con người tôi đau nhức như bị lửa bỏng, vội chớp chớp mấy cái, mới mở ra một cách không dám tin.
Tên sách là "Gia viên chi thi" (thơ quê hương).
Phụ đề của tên sách lại là - Nghiên cứu về nguồn gốc của tinh thần nghệ thuật (Ôi, sao giống "Phong nhã chi tụng" - nghiên cứu về nguồn gốc của tinh thần "Kinh thi" của tôi đến thế.).
Tác giả là Triệu Như Bình.
Như đói không kén ăn, vội không chọn lối, tôi vội vàng giở xem mục lục, cứ ngỡ mình đang xem mục lục cuốn sách chuyên đề "Phong nhã chi tụng" của mình. Đọc tiếp kĩ càng từng câu từng chữ, tôi phát hiện mục lục này quả thật giống, lại quả thật không giống mục lục cuốn sách chuyên đề của tôi.
Chương thứ nhất trong mục lục cuốn sách chuyên đề của tôi tên là - Dẫn luận: Khởi đầu nguyên thủy của nguồn gốc tinh thần trong "Kinh thi". Chương thứ nhất của người ta có tên là - Dẫn luận: Khởi đầu nguyên thủy của nguồn gốc tinh thần nghệ thuật. Chương thứ hai của tôi có tên là - Khởi đầu nguyên thủy của tồn tại vật chất trong "Kinh thi". Chương thứ hai của người ta có tên là - Khởi đầu nguyên thủy của tồn tại vật chất trong nghệ thuật. Chương thứ ba của tôi có tên là - Tính tồn tại tinh thần nội tại trong "Kinh thi". Chương thứ ba của người ta có tên là - Tính quê hương tinh thần nội tại trong nghệ thuật. Chương thứ tư của tôi có tên là - Tính nguồn gốc tôn giáo trong "Kinh thi". Chương thứ tư của người ta có tên là - Tính căn bản tôn giáo trong nghệ thuật. Chương cuối cùng của tôi có tên là: Kết luận: Nguồn gốc tinh thần cuối cùng của dân tộc Hán trong "Kinh thi". Chương cuối cùng của người ta có tên là - Vĩ thanh: Nguồn gốc tinh thần cuối cùng của dân tộc Trung Hoa trong nghệ thuật.
Bưng quyển sách "Gia viên chi thi" của người ta, hai tay tôi như bưng một cục sắt nóng đỏ. Tôi đọc ngấu nghiến từ chữ thứ nhất đến chữ cuối cùng của mục lục, lại nghiền ngẫm kĩ lưỡng từ chữ cuối cùng đến chữ thứ nhất, lúc này bìa giấy in chữ vàng đóng khá đẹp run lẩy bẩy trong tay tôi, tự động đóng lại hai ba lần, cho đến khi tôi thật sự đọc kĩ mục lục hai ba lần, tiện tay mở đến trang thứ 120 của cuốn sách. Trang này là tiết thứ ba chương thứ hai của người ta. Tiết thứ ba chương thứ hai của tôi là bàn về kiến tạo thẩm mỹ của tồn tại trong "Kinh thi", chủ yếu bàn về sản xuất thu lượm trong phạm vi thêu thùa ở đồng bằng thời Ân Chu, ví dụ tính kế thừa và tính sáng tạo của phạm vi thu lượm, nơi sản xuất thu lượm và phương pháp sản xuất thu lượm, còn có cả những hình tượng anh hùng cởi trần săn hổ dữ, đàn bò dê nườm nượp trên bãi chăn nuôi đồng núi, lao động hái dâu nuôi tằm ngày xuân và dệt gấm lụa tơ gai. Còn tiết thứ ba chương hai của người ta bàn về văn minh và lao động tồn tại thời cổ ở Trung Quốc, như so sánh cảnh vật và tranh vẽ hái lượm của loài người nguyên thủy với cảnh vật và tranh hái lượm của loài người hiện nay trong phim ảnh, hình tượng anh hùng săn bắn trong phim, cảnh giết mổ bò dê trong tranh đá và nuôi tằm dệt vải của tranh trên tường trong mộ cổ. Trong tiết này mở đầu của tôi là - Người Ân Chu thể hiện trong "Kinh thi" là dân tộc cần lao và trí tuệ,là một bộ phận của loài người được cổ vũ động viên trong tính sáng tạo và trong cái đẹp. Mở đầu tiết này của người ta là - Người cổ xưa thể hiện trong tất cả tác phẩm nghệ thuật như tranh tường, tranh đá, tranh mộ và thơ ca (như "Kinh thi") đều là tổ tiên cần lao và trí tuệ của chúng ta, là một trong những dân tộc vĩ đại được cổ vũ động viên trong tính sáng tạo và trong cái đẹp. Tôi mở tiếp từng trang tác phẩm mới của người ta và tùy tiện giờ đến một trang nào đó, đọc "Gia viên chi thi - nghiên cứu nguồn gốc của tinh thần nghệ thuật" của người ta, đều như đọc "Phong nhã chi tụng - nghiên cứu về nguồn gốc của tinh thần "Kinh thi" của tôi, chữ, từ, đoạn, chương tiết và logic chứng minh, nêu ví dụ, thuyết lí và phân tích trong quyển sách đó, hơi thở và mùi vị của ngôn ngữ mù mịt trong quyển sách đó đều y hệt, không khác gì "Phong nhã chi tụng" của tôi. Trong bản thảo cuốn sách "Phong nhã chi tụng" của tôi có một đoạn kết thúc viết thế này: Tinh thần căn bản nhất của người phương Đông không ở đô thị, thôn xã quật khởi hôm nay và trong xây dựng hiện đại hóa nhìn thấy sờ thấy, mà ở trong kí ức của "Kinh thi" không thể sờ mó và mất đi theo thời gian trong câu chữ của "Kinh thi". Còn câu cuối cùng trong kết thúc "Gia viên chi thi" của người ta là - Tinh thần căn bản nhất của chúng ta không ở thôn xã, đô thị quật khởi hôm nay và trong kiến trúc hiện đại, mà ở trong ký ức của nghệ thuật không thể sờ mó và mất đi theo thời gian trong mảnh đất nghệ thuật.
Xem xong câu cuối cùng của trang cuối cùng, tôi gập quyển "Gia viên chi thi" của người ta vào.
Đến lúc này, tôi mới phát hiện mình đang xem tác phẩm chuyên đề học thuật in ấn khá đẹp, giống như xem trộm cô dâu chú rể trong buồng cưới của người ta (tôi nhớ lại cái đêm mình bóp chết chàng thợ mộc họ Lí, chồng mới cưới của Tiểu Mẫn). Mồ hôi trên tay tôi đã làm ướt một mảng lớn của trang bìa cuốn sách.
Tôi ngồi bần thần trên sô pha, nhìn cuốn sách "Gia viên chi thi" của người ta, nhìn thấy vô vàn hạt bụi đang nhảy nhót trong ánh sáng với tư thế xinh đẹp cùng những lời thủ thỉ, những ý thơ rạng rỡ được viết được vẽ từng nét từng chữ dày đặc trong nhà. Còn có mùi mực in của "Gia viên chi thi", sau khi được ánh sáng phơi ấm, mọc rễ và ra hoa kết quả trên bàn trà một cách tự nhiên, hoa nở rộ chẳng khác gì cỏ hoang và cây dại được thành phố cổ Kinh thi tôi phát hiện ở tận đầu cùng dãy núi Bả Lâu bên bờ sông Hoàng Hà nuôi dưỡng. Trên gác cầu thang ngoài cửa, có tiếng giày cao gót của đàn bà khua trong yên tĩnh và ngọt ngào của thế giới, giống như sự thiêng liêng trong sạch do nhà sư trong chùa gõ ra từ cái mõ. Tôi cứ ngồi ngẩn người ra lâu lắm (ngẩn người dài như trời lâu như đất). Trước tiên trong đầu trống rỗng, về sau mênh mông mù mịt, cuối cùng trở nên có hoa có lá, có xuân có hạ.
Nhìn cuốn sách "Gia viên chi thi" của người ta, tôi bất chợt muốn phá lên cười (suýt nữa cười thành tiếng). Giữa lúc tiếng giày cao gót giòn giã mất đi, trong đầu mịt mù của tôi, gió xuân đã thổi đến. Mùa đông giá buốt đã qua đi, tôi chợt nhìn thấy tác giả của cuốn sách "Gia viên chi thi" ngoài viết tên Triệu Như Bình, còn có mấy chữ vàng tối ở góc trên bên trái vàng nhạt của tờ bìa, viết là: Tổng biên tập Lý Quảng Trí. Tên hai người và cuốn sách này khiến tôi nhìn thấy một tia sáng le lói ở hầm cổng thành.
Như vị quan tòa thanh lí chứng cứ, tôi thu quyển sách này lại, hiên ngang đứng thẳng dậy. Không sợ gì, tôi đi vào trong buồng ngủ của hai người, (để không làm bẩn mắt đọc giả, xin cho phép tội lược bỏ miêu tả buồng ngủ của họ ở đây). Không mất mấy công sức, tôi đã tìm được trong buồng ngủ mấy chục tấm ảnh hai người mặc áo tắm ôm nhau chụp kỉ niệm không biết ở bờ biển nào đó. Tôi tìm được hai hộp bao cao su tránh thai để ở đầu giường họ. Còn có cả xi líp và áo lót để chung trong đống quần áo của Lý Quảng Trí và Như Bình, rồi bàn chải đánh răng, thuốc đánh răng và dao cạo râu để trong nhà vệ sinh. Tôi bỏ những thứ này cùng quyển sách chuyên đề "Gia viên chi thi" của Như Bình vào trong một túi nhựa màu trắng cất vào trong túi hành lí của tôi.
Tôi xách hành lí đi ra khỏi nhà.
Khóa cửa nhà người ta lại, lúc đi khỏi cầu thang điện của người ta, bước chân tôi nhẹ tênh tênh như gió. Tôi biết kế hoạch to lớn có liên quan đến nghiên cứu, đào bới thành cổ Kinh thi trên dãy Bả Lâu của mình đã thành công già một nửa. Lý Quảng Trí và Trường đại học Thanh Yên của ông ta không thể không đáp ứng mọi điều kiện và yêu cầu của tôi, không thể không dốc sức ủng hộ việc đào bới và nghiên cứu của tôi. Chỉ cần ông ta và nhà trường tỏ ra đôi chút do dự và bất lực đối với suy nghĩ của tôi, tôi sẽ đưa ra toàn bộ chứng cứ bẩn thỉu trong hành lí của mình, tôi sẽ so sánh từng chương từng tiết quyển sách chuyên đề của Triệu Như Bình do ông ta làm tổng biên tập với bản thảo viết tay "Phong nhã chi tụng" của tôi và bày ra giữa quảng trường của vườn trường và bên lề đường cái cho thiện hạ người ta bình phẩm.
Khỏi cần nói, tấm màn lớn của một vở kịch hay đã bị tôi kéo ra, cuộc biểu diễn bất đắc dĩ của họ sắp sửa chính thức bắt đầu trong sự lúng túng hoảng loạn.