Đông sơn là một bài thơ trong “Mân Phong”, miêu tả nỗi nhớ nhà của người đi xa xứ trên đường trở về quê.
Tôi đáp tàu hỏa chiều đi sáng đến, sau khi đến kinh thành, buổi sớm mai giữa thu chờ tôi một cách cung kính tại nhà ga. Xuống tàu, tôi nhìn nhà ga và quảng trường quen thuộc như quen thuộc nhà cửa và cây cối trên dãy núi Bả Lâu. Bỗng nhiên tôi lại cảm thấy hai chân có vẻ căng cứng và không yên. Cảm giác vì xúc động muốn vào nhà vệ sinh lại một lần nữa chợt ùa đến. Vội vàng ôm chặt cột đèn đường cạnh quảng trường để giảm bớt cơn buồn đi tiểu tiện, rồi tôi lên chuyến xe bus đến trước cổng Trường đại học Thanh Yên.
Khi ánh nắng thu vàng như ngày nào năm nào chiếu lên cổng Trường đại học Thanh Yên, tôi xách hành lí xuống xe. Đặt hành lí xuống một cách bản năng, tôi chỉnh đốn lại bộ quần áo Tôn Trung Sơn màu sẫm cố ý mặc trên người vì trở về Trường đại học Thanh Yên (trước kia tôi chỉ mặc khi lên bục giảng bài). Tóc đã cắt. Giày da đã thay. Râu cũng cạo gọn gàng sạch sẽ. Trường đại học Thanh Yên là nơi sở tại sự nghiệp của tôi. Nhưng xa trường đã gần một năm rưỡi, khiến tôi có cảm giác xa lạ khi trở lại nhà trường. Tôi giống như một đứa trẻ bỏ đi lâu năm, mọi người đã quên chuyện tôi bỏ đi và mất hút, nay bỗng trở về và xuất hiện, ngay đến chính mình cũng cảm thấy không nên bỏ đi và có vẻ mất tự nhiên. Đứng dưới một cây hòe cổ trước cổng trường, nhìn cổng lớn cổ kính tô xanh vẽ đỏ, khi trông thấy đã có sinh viên cắp sách cắp cặp đi vào cổng, tôi ra vẻ như đi công tác xa về mặt trơ trán bóng, thản nhiên đi vào trường. May mà trong đám sinh viên đi vào trường, có một thạc sĩ khoa Trung văn đã nhận ra tôi trước (tốt lắm, không phải tôi nhận ra anh trước, mà anh nhận ra tôi đầu tiên, chứng tỏ Trường đại học Thanh Yên vẫn là trường học sở tại của Dương Khoa này, dự báo phòng 306 đơn nguyên 3 nhà gác số 4 khu gia đình nhà trường vẫn là nhà tôi). Anh đi phía trước tôi, lúc sắp vào cổng đột nhiên quay lại:
– Giáo sư Dương, anh đấy ư? Giáo sư Dương.
– Hơn một năm nay anh đi đâu?
– Anh còn đi nữa là chúng tôi sắp quên anh hẳn.
Tôi cười vội bước lên hai bước, rõ ràng đã quên lú tên anh thạc sĩ, tôi vẫn tỏ ra hết sức quen thuộc thân thiết nói với anh:
– Mình xuống cơ sở khảo sát - Đến dãy núi Bả Lâu lưu vực sông Hoàng Hà ở trung nguyên khảo sát hơn một năm.
Tôi hỏi, anh có tin không? Tôi đã phát hiện nhiều thơ ca ngoài "Kinh thi" lưu truyền ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà hơn hai ngàn năm trước. Có những bài thơ còn hay hơn, còn sâu sắc thú vị hơn thơ trong "Kinh thi" hiện nay. Vừa nói tôi vừa hãnh diện giơ hành lí trong tay lên lưng chừng (trong đó chứa toàn là những phát hiện và sao chép của tôi ở thành phố thơ ca), để bọn họ nhìn túi hành lí vải bạt căng phồng của tôi một cách thần bí, rồi lại đặt túi hành lí xuống một cách thần bí (như sợ bọn họ cướp mất hành lí của mình). Ý tôi vốn là để chứng minh sự mất tích của mình hơn một năm nay không phải bỏ đi, mà là được nhà trường cử về quê cũ dãy núi Bả Lâu của tôi khảo sát và nghiên cứu. Nhưng tôi không ngờ, khi tôi thu hành lí về, anh thạc sĩ kinh ngạc đứng trước mặt tôi, y như mười ngày trước tôi kinh ngạc đứng trước bài thơ dài bốn chữ năm trăm tám mươi sáu câu, hai ngàn ba trăm bốn mươi bốn chữ khắc trên khán đài bãi xem múa hát của thành phố thơ ca cổ.
Mấy sinh viên cùng đi với anh thạc sĩ (vốn đều là sinh viên chính quy khoa Trung văn đã từng nghe tôi giảng bài) cũng đột nhiên đứng cả lại, quay nhìn tôi một cách ngạc nhiên, hỏi tôi anh nói gì?
– Thật không? Sao lại thể được nhỉ!
– Hơn một năm nay thầy không ở trong khoa, thì ra thầy đi khảo sát ư? Trời ơi, đúng là đã phát hiện hơn hai trăm bài thơ ca ngoài "Kinh thi" bị Khổng Tử cắt bỏ?
Trường vẫn như trước, vẫn là những nhà gác, vẫn là những cây xanh, những quảng cáo và tượng đài. Hình như ngay đến vết nứt trên lối đi, mạng nhện trên tường và dây điện chăng ngang trên không cũng không hề thay đổi. Không khí của mùa thu tháng chín đã trở thành mùi gạch cũ của nhà cửa trong trường và mùi lá vàng của những cây hòe cổ, còn có mùi tanh tanh của sâu xanh vẫn bám kín dưới cây và mùi thối thối của cứt sâu rơi kín đất. Trên cây hòe cổ đã nở đầy hoa vàng nhỏ lấm tấm, rụng xuống đất bị chân người giẫm lên, nhoe nhoét như bùn sau cơn mưa ở thành phố thơ ca. Mùi ấy tôi vừa quen vừa lạ, nhìn mãi đâm quen, lại ngửi thấy như chưa ngửi bao giờ, khiến tôi đi vào trường không nén nổi xúc động và hưng phấn khó kìm nén (tôi sắp về đến nhà, sắp được gặp vợ Như Bình. Đêm qua trên tàu hỏa tôi luôn luôn nghĩ câu đầu tiên gặp Như Bình nên nói gì thì hơn, nhưng mãi đến lúc xuống tàu, tôi vẫn chưa nghĩ ra câu nên nói đầu tiên với vợ). Nhưng lúc này cuối cùng tôi đã nghĩ ra:
– Anh đã về, em có tin không? Anh đã phát hiện ra hơn hai trăm bài thơ ngoài "Kinh thi".
Đi trên trục đường chính giữa vườn trường, tôi phấn khởi nét mặt tươi rói. Gặp ai tôi cũng chủ động bước lên chào hỏi. Người ta gật đầu, tôi cũng gật đầu. Người ta hết sức ngạc nhiên bỗng đúng lại hỏi, anh là giáo sư Dương phải không? Hơn một năm nay anh đi đâu? Tôi đứng ngay giữa đường, tí ta tí tởn kể lể với người ta một cách không biết ngán, mình đã đến bên sông Hoàng Hà ở trung nguyên khảo sát và phát hiện. Cho dù người ấy hoàn toàn không biết mình là ai, tôi cũng chủ động chào hỏi người ta như đã quen nhau lắm.
– Chào anh, anh có biết năm qua tôi đi đâu không?
– Chào các bạn, mình đi khảo sát nghiên cứu về, các bạn đi đâu?
– Ồ, chào thầy Ngô, rèn luyện buổi sáng à? Thầy có dám tin không, tôi đã phát hiện hơn hai trăm bài thơ ngoài "Kinh thi".
Sinh viên trong vườn trường không đông, vẫn chưa đến giờ lên lớp buổi sáng, chỉ có một số thầy giáo và học trò dạy sớm tập thể dục và ôn bài trong bãi trống và vườn cây. Đúng như một người đi công tác khảo sát trở về, tôi hớn hở và mệt mỏi đi trong vườn trường, toàn thân đều toát lên sự chủ động và say sưa ấm áp. Gặp giáo sư Lưu dạy văn học hiện đại khoa Trung văn của chúng tôi cạnh đường Hồ Sen, tôi cất tiếng, xin chào giáo sư Lưu, bên bờ sông Hoàng Hà tôi đã phát hiện ra một thành phố thơ ca cổ, đã phát hiện một bãi xem ca hát cổ, đã phát hiện hơn hai trăm bài thơ ngoài "Kinh thi", trong đó có một bài Thanh minh thượng hà đồ viết toàn bằng thơ, một bộ sách "Thánh kinh" viết bằng thơ. Giáo sư Lưu vốn mừng rỡ nhìn tôi, chuẩn bị đứng cạnh hồ sen nói nhiều chuyện với tôi, nhưng sau khi tôi tham lam, nhanh mồm nhanh miệng kể hết mọi chuyện chiếm mất thời gian mấy phút (cũng chỉ mấy phút) của anh, ánh mắt anh trở nên nghi hoặc mà gượng gạo, ngắm nghía từ đầu đến chân tôi một lúc, anh hỏi tôi một tiếng về rồi hả? Mình ra bờ hồ đi bách bộ, rồi bỏ lại tôi, anh đi về phía tây bờ hồ.
Đi đã xa lắm, anh còn quay đầu nhìn tôi, giống như tôi quả thật là một kẻ mắc bệnh tâm thần.
Rác rưởi và những vật mục nát trôi nổi trên mặt nước của một bên hồ sen, biến nước hồ thành màu đen như mực, nhưng nửa hồ bên kia hoa sen lại nở trắng như tuyết, đung đưa như đóa mây. Lá sen cũng xanh như trời xanh trên đầu. Bên hồ sen, gặp ai tôi cũng kể, gặp ai tôi cũng nói, vừa đi vừa nói cho đến khi đi tới cửa cầu thang gác căn hộ riêng số 3 nhà số 4, bà xã của giáo sư Ngô từ cửa một căn hộ khác đi ra, tay xách chiếc làn tre hoa công nghệ mua thức ăn. Tôi cất tiếng, chào chị, chị đi mua thức ăn ư? Đứng dưới gác, chị nhìn tôi, như không quen biết tôi. Tôi nói tôi là giáo sư Dương Khoa, đi ra ngoài khảo sát vừa về. Chị ngạc nhiên a một tiếng, sững người ra một lúc, sau khi nhận ra tôi, mới từ từ bước đến gần tôi. Đến trước mặt tôi, chị đứng lại hỏi, nhà anh chuyển đi rồi, anh không biết sao?
– Nhà anh chuyển đến lầu chuyên gia trí thức cao cấp của nhà trường. Nhà gác ấy xây dành riêng cho những trí thức có cống hiến đặc biệt của nhà nước, anh không biết thật à?
– Mau mau đến đó, gia đình anh ở nhà gác số 4 này đã có một thầy giáo mới chuyển đến ở. Lẽ nào vợ anh không nói chuyện này với anh sao?
Mặc dù vợ giáo sư Ngô ngạc nhiên nói thế nào đi nữa (lời đàn bà, ngôn luận của phụ nữ gia đình), tôi vẫn cố chấp đi vào cửa thứ ba, lên gác ba, lấy chìa khóa nằm im im một năm rưỡi trong túi du lịch, thoăn thoắt cầm một chìa to nhất xỏ vào lỗ khóa, vặn sang trái một cái, một cái nữa, quả thật không mở được cánh cửa mà trước kia tôi chỉ vặn một cái là mở ngay. Khi cúi xuống nhìn khóa ngầm đồng vàng trên cửa, từ bên trong cánh cửa lại mở ra. Một phụ nữ đứng tuổi trạc hơn bốn mươi đứng giữa khe cửa (nom dáng là người có trình độ học thức). Chị đang bưng một cốc sữa bò nóng trên tay (mùi vừa tươi vừa thơm), còn cầm một đôi đũa nhựa màu trắng (giống ngà voi), chị nhìn tôi như nhìn một người đến tận cửa rao bán hàng.
– Anh tìm ai?
– Nhà Triệu Như Bình dọn đến lầu chuyên gia, số 19 căn hộ đơn nguyên 2.
– Anh là chồng chị ấy? Anh đúng là chồng chị ấy phải không?
Khi hỏi tôi, cốc sữa bò trong tay chị nghiêng một cái, suýt nữa rơi xuống đất. Nhưng chị nhận ra ngay câu hỏi của mình đối với tôi không lịch sự và bất kính (rõ ràng chị có vẻ thông minh tự biết), lập tức thu ánh mắt liếc nhìn tôi, tươi cười tự giới thiệu, tôi là Mẫn Tú Văn, là giảng viên văn học cổ điển mới về khoa Trung văn, chuyên nghiên cứu và chủ trì giảng "Sở Từ". Chị nói, giáo sư Dương, gia đình anh chuyển sang lầu chuyên gia, nhà vừa to vừa đẹp, vợ anh vừa trẻ vừa xinh, học vấn cũng là số một. Tôi đứng một lát trước cửa nhà cũ của mình, một người đứng bên trong, một người đứng bên ngoài, nói chuyện với giáo sư Mẫn một lúc. Tôi giới thiệu sơ qua việc nghiên cứu và phát hiện của mình trên dãy núi Bả Lâu. Tôi nói khu vực ấy hẻo lánh, giao thông và thông tin đều khó khăn, lại bận nghiên cứu và phát hiện mới, cho nên đã lâu lắm không liên lạc với Như Bình vợ tôi, cho nên vẫn chưa biết việc gia đình tôi chuyển nhà, cho nên cũng đột nhiên về nhà, đi nhầm cửa.
Tôi xin lỗi lui khỏi gác 3, như bị người ta tát vào mặt, tôi đứng ngây như phỗng trong cầu thang, sau khi người láng giềng quen thuộc ở gác dưới đi qua, tôi mới đi ra như một kẻ trộm, nhanh chóng rời khỏi ngôi nhà gác gia đình mình ở trước kia.
Gặp người tôi không còn tí tởn khoe với người ta mình đã đi khảo sát ở lưu vực sông Hoàng Hà trung nguyên, đã phát hiện thành phố thơ ca, bãi xem biểu diễn và hàng loạt thơ ca ngoài "Kinh thi" hơn hai ngàn năm trước. Tôi cúi đầu, tránh người (như con chó chết chủ), đi vào rừng cây phía đông hồ sen. Tôi biết lầu chuyên gia mà họ nói cấp cho tôi ở phía bắc hồ sen, cách hồ hơn chục mét. Khi tôi chưa đi khỏi trường, ngôi nhà ấy đã sắp xây xong. Trong tiết trời giữa thu, mặt nước hồ sen đen sì, nhưng cây hoa vẫn xanh, lá sen đen như mực, hoa sen trắng như tuyết được từng cành sen đỡ lưng chừng như mây, những giọt nước như ngọc trai đang lăn đang đọng trên lá sen hoa sen. Có sinh viên đi dạo chơi thong thả bước bên hồ. Còn có cả nam sinh nữ sinh vừa sáng sớm đã hẹn gặp, ngồi ôm nhau trên ghế đá cạnh hồ (niềm vui sướng và đam mê của họ khiến tôi nhớ đến chuyện của mình trên phố Thiên Đường). Để tránh những người này, tôi đi quành từ rừng cây hỗn tạp tùng bách ngoài hồ đến lầu chuyên gia dành riêng cho trí thức cao cấp.
Đứng ở dưới gác một lúc, chọn giây lát vắng vẻ, tôi đi lên số nhà đơn nguyên giáo sư Mẫn đã chỉ.
Tôi thận trọng bước vào cầu thang điện, lên đến lầu mười, lại ra khỏi cầu thang (may mà không gặp người điều khiển cầu thang, có lẽ vốn không có thợ chuyên trách). Đúng trước của phòng chống trộm chưa khô mùi sơn, tôi nhìn vào không gian trước cửa rộng như một sảnh họp (sạch sẽ như phòng họp của đảng ủy nhà trường), sau khi xác nhận số tầng và số phòng, tôi hết sức lịch sự bấm chuông cửa, lại gõ gõ mấy cái.
Từ trong nhà vọng ra tiếng Như Bình như gió rất quen thuộc đối với tôi.
– Ai? - Cô ấy hỏi.
– Anh - Tôi đáp.
Tiếp theo là một lúc yên lặng đến lạ lùng (yên lặng đến lạ lùng lúc ấy như chết lặng trong nhà mồ). Trong một chặp do dự tôi có thể cảm giác thấy, Như Bình mở một bên cánh cửa gỗ sơn đỏ bên trong ra trước, sau đó mở cánh cửa phòng chống trộm bằng thép sơn xanh ngoài cửa. Khi Như Bình nhìn đúng là tôi, nét mặt cô ấy tái đi (đúng là còn trẻ đẹp), có vẻ ngạc nhiên sững sờ ở cửa, đã không sốt sắng cất tiếng anh đã về, mau mau vào trong nhà, cũng không trách sao anh về đột ngột không báo trước với em một tiếng? Sao không gọi điện báo trước? Sau khi đứng thuỗn người ở cửa một lát, cô ấy quay đầu nhìn vào (nhìn cái gì không biết?), lại thuỗn ra một lúc, tránh người sang một bên, lại tỏ ra vừa lạnh nhạt vừa thờ ơ, cầm một đôi dép lê ở sau cửa để trước cửa, rồi lùi một bước đứng tại chỗ.
Không hề nghi ngờ gì nữa, tôi trở về khiến cô ấy hết sức bất ngờ, như nước kị lửa. Trong phút chốc, kẻ bên trong người bên ngoài, yên lặng tới mức ngay đến tiếng trượt ngọt xớt của cầu thang điện một buồng hai cửa cũng nghe như tàu hỏa chạy trong yên tĩnh. Tôi biết giây lát ấy, Như Bình sợ tôi sẽ đột nhiên bước một bước vào trong nhà, lại sợ cửa đối diện có người đột nhiên mở cửa đi ra, bỗng gặp tôi. Vậy là mới sững sờ như phỗng ở trước cửa không biết làm thế nào, cho đến lúc quay nhìn vào trong (cô ấy nhìn cái gì?), mới vỡ lẽ phải để tôi đi vào (về nhà).
Tôi tỏ vẻ ân hận cười nhìn vợ, khẽ nói, Như Bình, anh đã về. Em thử đoán xem anh đã phát hiện ra gì ở lưu vực sông Hoàng Hà? Anh đã phát hiện rất nhiều thơ ca không sưu tầm ghi chép trong "Kinh thi".
Như một em bé mắc lỗi, tôi định lấy công chuộc tội, đầu tiên khoe khoang công tích và nỗi vất vả của bản thân, đi vào trong nhà, đóng cửa lại, thay đổi dép lê bông Như Bình vừa đưa (vừa mềm vừa nhũn, có lần ở khách sạn loại xịn tôi đã đi dép lê này). Tôi đặt hành lí trên nền nhà ở cửa. Nhưng khi tôi thay dép, Như Bình lại nhấc hành lí của tôi ra cửa, đập mấy cái phủi bụi trên hành lí, rồi quay về để nó vào trong góc phía sau cửa (y như một bà chủ để hành lí của khách vào một chỗ không ai để ý). Cho đến lúc này tôi mới bỗng nhận ra, trong căn hộ mới năm buồng ba sảnh này, phòng khách to như một tiệm nhảy, tường trắng màu sữa không phải là vữa sơn trắng như trang trí nhà thông thường, mà là một thứ sơn quét nhập khẩu hiếm thấy. Màu trắng sữa trên tường bóng bảy mịn màng, mát mắt, một thứ màu trắng kín đáo, một thứ bóng nhẵn kín đáo không nhức mắt không khoa trương. Chung quanh trần nhà nóc treo rộng một thước. Nóc treo uốn lượn như nước chảy, nét cong nét thẳng tinh tế, bốn góc treo một hình vẽ như hình học lại như một bông hoa, làm cho phòng khách vừa có sự ấm cúng của gia đình, lại vừa không tầm thường và kệch cỡm của những nhà trí thức nói chung. Còn có đèn treo sát trần giữa phòng khách. Khung đèn là giá gỗ hồng khắc hoa rất cổ kính, tạo cho phòng khách có một đẳng cấp và tinh thần cơ bản là cổ kính chất phác mà hiện đại (trong cái hiện đại có hàm chứa nét truyền thống đậm đà). Tôi đứng ở cửa, nếu không phải Như Bình mở cửa cho tôi và cầm dép lê cho tôi thay, thì cho dù có văn bản của Trung ương bày ra trước mặt, tôi cũng không dám tin đó là nhà của mình.
Có vẻ si ngố, tôi thay dép lê, đứng thẫn thờ trên tấm thảm nhung Tân Cương dành riêng cho khách thay giày trải trước tủ giày ở cửa. Quay đầu nhìn bốn chung quanh, tôi cười bảo, trời ơi, to thật, chất quét trên tường này giống như vải lụa nửa bông nửa tơ. Sau đó tôi cẩn thận nhấc chân xuống khỏi tấm thảm thay giầy, thận trọng đặt chân lên sàn nhà bằng thứ gỗ bền chắc lát kín phòng khách. Kín nhà (sàn nhà màu hỗn hợp không phải cọ không phải hồng, lại như cọ như hồng, vân gỗ sâu mà bề mặt lại nhẵn, hình như là vân gỗ giả, lại hình như vân gỗ hoàn toàn thật, khiến bạn cứ tưởng những gỗ lát nền ấy không phải chế tác qua nhiều trình tự, mà từ trên cây chặt xuống đã có sẵn màu đó, vân gỗ đó). Trong vân gỗ tự nhiên gần như nguyên thủy, có một mùi thơm đến từ giữa màu trắng và màu đỏ rừng già, lan tỏa mù mịt khắp nhà một cách y nguyên. Ánh sáng từ ban công ùa xuống ăm ắp và sang trọng. Cây Brazil và gỗ châu Phi trong chậu hoa lớn, còn có mấy chậu hoa hiếm thấy lại hình như thường thấy bày ở góc tường và hai đầu một hàng ghế sô pha da thật màu vàng sữa. Tivi và dàn loa loại mới (tôi hoàn toàn mù tịt không nói được tên và đặc sắc của một dãy đồ điện gia đình ấy, y như tôi vẫn chưa tổng kết được phong cách kiến trúc của di chỉ thành phố thơ ca và đặc điểm thiết kế của bãi xem biểu diễn). Điểm xuyết trên tường là tranh sơn dầu (phong cảnh của Nga), tranh thư pháp nổi tiếng và những tác phẩm nghệ thuật trừu tượng, bởi phòng khách quá rộng, không thể không bày vào những chỗ trống những đồ gốm sứ bày trên giá tôi không biết rõ niên đại nào (như lọ hoa, tượng gốm và đồ đồng thau cũng như ca Hán không biết thật hay giả. Nhưng tôi tin chắc những thứ đó đều là thật). Những thứ này nên có mặt ở đâu nó sẽ xuất hiện ở đó, không nên ở đâu, chắc hẳn nó sẽ không xuất hiện và để thừa ở đó.
Thẫn thờ ở trong cửa, tôi cứ tưởng mình vào nhầm nhà. Nhưng đúng là Như Bình đang đứng cạnh tôi. Nét mặt cô ấy đã bớt lúng túng và căng cứng, tỏ ra bình tĩnh và kiến nghị như nước đến có đất che, quân đến có tướng chắn. Tôi hỏi nhà này phân phối cho chúng ta khi nào? Như Bình nói, Dương Khoa, theo phép lịch sự, anh về đột ngột, lẽ ra anh nên gọi điện báo cho chúng tôi trước (chúng tôi?). Tôi hỏi trang trí đẹp thế này, tiêu hết bao nhiêu tiền? Như Bình nói, anh về cũng tốt, có nhiều chuyện chúng ta nên bàn trước mặt nhau. Sau đó, giống như một trận gió thổi ào sang thu, cô ấy đi đến phòng ăn đối diện phòng khách.
Nhà ăn và phòng khách so le, trong bậc thềm hai lớp cao hơn phòng khách bố trí một đường lan can gỗ (đây là trang sức và kiểu cách trong nhiều gia đình bộ trưởng ở kinh thành mới có). Tôi nhìn theo bóng Như Bình bước đi, đến bây giờ (cho mãi đến bây giờ), tôi mới nhìn thấy ông hiệu trưởng Lý Quảng Trí ngồi cạnh bàn trong nhà ăn, mặc bộ quần áo ngủ móng nhung đỏ đang ăn sáng bên cạnh bàn ăn (sữa bò và bánh mì). Hiển nhiên ông biết tôi đã đến (về). Ông nhìn tôi, y như nhìn một viên chức chuyên đến nhà tìm ông giải quyết vấn đề khi ăn cơm, có vẻ khó chịu, nhưng lại không thể không giả đò tỏ ra sốt sắng.
Về rồi hả? Lý Quảng Trí đứng dậy trước bàn ăn. Không nhìn Như Bình nữa, ông quay sang nhìn tôi. Nét mặt tươi cười tỏ vẻ hoan nghênh, nhưng từ trong sự lấp liếm, không giấu nổi thái độ thờ ơ lạnh nhạt. Chưa ăn sáng hả? Chưa ăn ngồi đây ăn một thể. Ông lại nhìn Như Bình giục, mình đi pha cho giáo sư Dương cốc sữa. Sáng nay tôi bận họp, không ở nhà tiếp các bạn được.
Nói rồi ông ra khỏi bàn ăn, đi qua phòng khách, lại đi vào buồng ngủ (ông cũng đi đôi dép lê nhung), khép cửa vào, mặc xong quần áo, lại đi ra, tay xách cái cặp tài liệu da đen mà lãnh đạo nhà trường vị nào cũng xách khi đi làm. Đến trước mặt tôi, ông nói, giáo sư Dương, anh gầy đi, trở về chịu khó bồi dưỡng, nếu chê trong nhà này không tiện lợi, thì ra ở khách sạn, đưa hóa đơn cho Như Bình là được.
Vừa nói ông vừa đi ra cửa. Ra cửa, khi thay đôi giày da, ông còn quay đầu lại vẫy tay chào tôi. Ông giục, anh ngồi xuống, sao cứ đứng mãi thế.
Lý Quảng Trí đi ra, y như chủ nhân dời khỏi nhà.
Tiếng đóng cửa êm mà sống sượng, y như một tấm sắt rơi mạnh trên đất xốp. Vẫn như đi sai lối, vào nhầm cửa, tôi đứng ngây như phỗng bên cạnh sô pha phòng khách, không biết nên ngồi hay nên đứng. Lý Quảng Trí đi rồi, Như Bình từ nãy đến giờ vẫn đứng cạnh lan can ngang nhà ăn có vẻ được giải thoát. Cô ấy không pha sữa bò cho tôi, mà lấy cốc thủy tinh pha cho tôi một cốc trà búp sơ sài (như pha trà cho khách). Trong nước nóng lá chè búp co quắp bắt đầu nở ra, mỗi chiếc lá đều to lên và tản ra lung linh, trong nước nóng xanh nhạt có tiếng hoa nở hoa rụng và mùi thơm, sau đó tất cả lá chè đều đứng thẳng chĩa mũi lên trong cốc như cánh rừng. Như Bình giục, uống nước đi, anh chưa uống loại trà này bao giờ. Năm vừa rồi tôi xuất bản một quyển sách chuyên đề, được giải cao nhất của Ủy ban học thuật quốc gia duy nhất cả nước, nhà trường đã đặc cách công nhận tôi là người có cống hiến đặc biệt đối với nhà nước, đã cấp cho ngôi nhà này. Vừa nói, cô ấy vừa ngước nhìn chiếc đồng hồ quả lắc gỗ đỏ to đùng đặt ở một góc phòng khách, nói tiếp, thực ra anh đều đã thấy, không có Lý Quảng Trí, không có ngôi nhà này, không có Lý Quảng Trí, không có giải học thuật cao nhất của tôi.
– Không có gì có thể giải thích với anh. Tất cả đều là thế, tôi và anh ấy đã hoàn toàn chung sống với nhau.
– Chúng tôi phối hợp bù phụ cho nhau, ân ái với nhau. Hiện giờ anh ấy là hiệu trưởng nhà trường. Trước khi ông hiệu trưởng cũ nghỉ hưu, có bốn ứng cử viên tranh làm hiệu trưởng. Nào biếu xén, nào tìm tầng lớp cán bộ cao cấp, nếu không có Như Bình tôi lo lót chạy chọt, có lẽ anh ấy không lên nổi chức hiệu trưởng cấp bộ trưởng của trường đại học số một Trung Quốc này.
– Anh có thể tưởng tượng được không? Trong khoa chúng tôi có một nữ sinh viên, thành tích thi đại học còn chưa đến ba trăm điểm, tôi đã phá khung phá lệ nhận cô ấy vào khoa nghệ thuật. Vừa nhận cô ấy vào, thì bố cô ấy từ tỉnh bên dưới được điều về làm việc trong bức tường đỏ kinh thành. Trong giờ phút then chốt nhất, bố cô ấy đã nói mấy câu, Lý Quảng Trí được bổ nhiệm chức hiệu trưởng.
Trong khi kể chuyện này, Như Bình đi vào buồng ngủ vừa rồi Lý Quảng Trí từng vào, cởi bỏ bộ quần áo ngủ màu hoa vẫn mặc chơi trong nhà, thay chiếc quần nhãn hiệu nổi tiếng màu tro nhạt vẫn mặc khi giảng bài và chiếc áo len nhung màu lốm đốm to rộng mà đàn bà trong giới biểu diễn nghệ thuật ở kinh thành lúc ấy ai cũng thích mặc, còn mái tóc thì cô ấy vừa tùy tiện, vừa cẩn thận dùng một cái que xương gài ra sau gáy. Lúc đi ra, giống như cho tôi một tờ báo buổi chiều, cô ấy đặt lên bàn trà một quyển sách (bàn uống trà vừa vuông vừa to, trên giá gỗ hồng đỡ một tấm thép thủy tinh vuông vắn), rồi nói với tôi, tôi phải đi làm, anh có thể tùy tiện mở xem quyển sách này. Tôi tin anh sẽ không cầm quyển sách này đi gây khó dễ cho tôi.
Tôi hỏi, Như Bình, em không đưa cho anh một chìa khóa nhà hay sao?
Như Bình đáp, coi như Triệu Như Bình này xin lỗi anh, Dương Khoa, anh hãy suy nghĩ kĩ, có yêu cầu và điều kiện gì, anh cứ việc nêu hết ra.
Tôi hỏi, gian phòng nào của anh?
Cô ấy nói, tôi đi giảng bài, có việc anh gọi đến văn phòng của tôi.
Tôi nói, em không đưa chìa khóa cho anh, anh muốn ra ngoài làm thế nào?
Cô ấy bảo, lần này anh trở về cũng coi là một cơ hội. Hiện nay tôi là chủ nhiệm khoa của khoa nghệ thuật phim ảnh và truyền hình, bao gồm chức vụ, danh hiệu, cả tiền nữa, anh có yêu cầu gì đều có thể nêu ra.
Sau đó Như Bình gấp bước đi theo bụi trần sau Lý Quảng Trí. Ra đến cửa, cô ấy lại quay đầu nói, bản thân biết nấu cơm, anh muốn ăn gì tự làm, muốn ngủ thì gian phòng ở cửa này là phòng khách. Không ăn không ngủ, thì giở sách của tôi ra mà đọc.
Tiếp theo, hai lớp hai cánh cửa, trước mềm sau cứng lần lượt vang lên. Trong nhà chỉ còn lại một mình Dương Khoa. Như một vị khách bất đắc dĩ không được hoan nghênh, Dương Khoa ở lại lẻ loi trong phòng khách to rộng sang trọng của chủ nhà. Nghe tiếng động của cầu thang điện trượt bên ngoài, anh ẻo lả ngồi phịch xuống, té ra ghế sô pha dưới mông mềm kinh khủng bất chợt, mông anh lọt thỏm vào trong đống mù mây.