Phong Nhã Tụng

Lượt đọc: 2415 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
tang nhu

Tang nhu, đây là bài thơ đau buồn thời thế trong "Đại nhã".

Tôi đã về nhà.

Đã về đến dãy núi Bả Lâu.

Tôi không biết ngày hoàng đạo tốt lành này lại là ngày xảy ra biến cố và tai nạn cả đời mình, không biết sự việc xảy ra ở thôn Chùa trước ngày hôm ấy là ngày cuối cùng và kết thúc của tôi trong thôn. Giống như mùa đông vượt qua mùa hè ép thẳng sang mùa xuân, khiến mùa xuân lơ là không đề phòng, mùa đông liền ép chuyển sang xuân. Dọc đường tôi ngồi xe, cuốc bộ, lúc chạy lúc đi, mang trong lòng sự đố kị và nỗi bất an khó tả, hình như là để nhanh chóng về đến thôn Chùa trước, đến buồng cưới của Tiểu Mẫn nhìn mặt anh chàng thợ mộc (gã đáng chết kia!). Chân nam đá chân chiêu, tôi đi hấp ta hấp tấp, khi về đến đầu thôn Chùa trước, mặt trời cũng chỉ vừa mới ngả về tây. Ánh nắng sáng vàng ngột ngạt, như nước vàng nước bạc dội lai láng trên sườn núi và đầu thôn. Từ trong ngôi nhà mới cưới của Tiểu Mẫn sau làng, mùi xác pháo đã đốt xộc đến, đang bay, đang tản mát trên đường thôn nóng bỏng. Bởi vì Linh Trân vừa mới chết chưa quá nửa năm con gái đã đi lấy chồng, theo phong tục nhà quê, lễ cưới phải dán một trăm tờ giấy trắng để tận hiếu trên tường trên cây ở một ngàn chỗ khắp trong thôn ngoài làng. Bởi vì mẹ chết, bà ngoại tuổi cao, Tiểu Mẫn phải có người trông nom (việc đồng áng cũng cần một lao động khỏe), lấy chồng cũng là lẽ đương nhiên, nên lại phải dán một trăm tờ giấy đỏ ở chỗ đã dán một trăm tờ giấy trắng, lấy giấy đỏ phủ kín toàn bộ giấy trắng, lấy việc cưới xua ép việc tang. Vậy là dưới giấy đỏ đầy cây đầy đường đầy thôn, lại lộ ra ít nhiều mép giấy trắng, giống như trong đất đỏ khắp dãy núi lộ ra những tàn sương đốm tuyết đã qua đông. Cảnh ồn ào của lễ cưới đã được gió xuân thổi át đi trong buổi sáng, cảnh tĩnh lặng và phân tán còn lại, giống như áng mây mù còn sót sau buổi sớm lảng vảng trong ngóc ngách thôn xóm. Ở đầu thôn tôi nhìn giấy đỏ dán khắp làng và mép trắng lộ ra dưới giấy đỏ (triệu chứng chẳng tốt lành), nhìn cành tùng cành bách gài trên cổng gia đình Tiểu Mẫn, có một mùi thơm của tùng bách bay đến với tôi, nhìn câu đối đỏ ẩn hiện dưới cành bách (mừng lớn mà), có mấy người làng giúp đám cưới đang khiêng một chiếc chảo to chưng bánh bao, từ trong sân nhà Tiểu Mẫn loạng choạng đi ra, loạng choạng đi vào trong thôn. Giống như con dê về chuồng muộn, tôi bắt đầu lẳng lặng đi vào thôn. Có ve sầu kêu ra rả trên đầu tôi. Tiểu mạch ở chỗ nắng chín sớm, trong nháy mắt đã vàng ruộm. Một vài người giúp xong đám cưới của Tiểu Mẫn đang gặt mạch chín sớm trong thửa ruộng trên sườn núi. Trên sườn núi và đầu thôn, trong khắp đồng khắp núi, mùi thơm tiểu mạch lan tỏa ra chung quanh giống như những giọt mưa kiễng ngón chân lên mà chạy. Một vài người gánh những bó tiểu mạch từ ruộng về sân phơi, đặt bó lúa xuống, đứng vào bóng cây, giơ can nước uống ừng ực, trông thấy ai không hỏi tiểu mạch nhà ông bà chín chưa, đã bắt đầu cắt chưa, cũng không nói con cà con kê chuyện cưới xin của Tiểu Mẫn và chồng cô, mà đưa can nước lã ra hỏi có uống không? Thôn nhà ông nhà bà có em học sinh nào thi đỗ đại học?

– Con nhà nào thi đỗ?

– Chà chà, thi đỗ thật à?

– Chà chà, không có em nào thi đỗ ư?

Lúc này, mùi tiểu mạch nóng hầm hập và mùi khét đốt pháo mừng đám cưới còn lại, vẫn tiếp tục lan tỏa trên đường làng. Bầy gà mải miết kiếm ăn thường ngày đều căng diều, kêu lục cục ở đầu thôn. Khi tôi về đến thôn, những con gà ấy đều im lặng nhìn tôi. Những con chó nằm dưới bóng cây cũng ngạc nhiên nhìn tôi. Dân làng có ai đó chợt trông thấy tôi, tay cầm thứ gì đó thừ người ra, y như định tránh tôi nhưng không kịp, đúng như phỗng giữa đường, miệng cười hỏi một câu anh đã về? Mau mau về nhà mà xem, nói rồi có vẻ bối rối rẽ vào ngõ. Có một cậu bé thấy tôi về làng, không nấp tôi, không né tôi, từ đâu đó chạy nhanh ra, đứng sững trước mặt tôi - Chú vừa về à? Mau mau về nhà chú mà xem, xem xem chú không dự lễ cưới đã xảy ra chuyện gì. Nói xong cậu bé quay người chạy về nhà tôi, rảo bước dẫn tôi chạy theo như dẫn lối.

Vừa bước vào cổng, tôi đã sững lại (ngẩn người ra). Trước cửa nhà tôi để mấy cái xe cải tiến. Trên xe đang đặt những hòn đá to có khác chữ hán dân trong làng và dân làng bên biếu tôi trước kia, cùng bàn ghế còn dùng được hay bỏ đi của nhà tôi. Có một xe chở hai hòn đá khắc chữ. Có xe chở ba hòn đá khắc một chữ, còn có cả hòm gỗ tôi mới mua ở thành phố. Có hai người đang khiêng hòn đá khắc hai chữ: Thảo, Thổ từ trong sân đi ra. Trên hòn đá ấy còn để chiếc ghế tựa mà họ "tiện tay thó luôn" lấy từ nhà tôi ra (lúc xem sách, viết sách tôi đều ngồi trên ghế này). Còn một vài người khác không chuyển không khiêng hòn đá, nhưng họ lấy đèn bàn và chậu rửa mặt trong nhà tôi đem đi, lấy cả giá chậu rửa mặt và một lọ gốm cuối thời nhà Thanh đầu thời Dân quốc tôi vẫn bày trên bàn (cũng do dân làng biếu tôi). Người làng và người làng bên đứng đầy trong nhà và trong sân nhà tôi, người nào cũng cầm trong tay một thứ của nhà tôi chuẩn bị đi. Còn có các chị trong thôn thấy trong nhà tôi không có thứ gì đáng lấy, liền vào bếp lấy nồi, lấy bát, lấy dao bài, chậu nhào bột, thớt và ống đũa (như cướp đi). Thật ra không phải cướp mà là tiện tay chia nhau mỗi người lấy một thứ, y như bà con đến nhà tôi phân chia tài sản một cách ôn hòa.

Tôi đứng sững người ở cổng.

Sự xuất hiện đột ngột của tôi, giống như một năm trước tôi đột nhiên về nhà thấy Như Bình và Lý Quảng Trí nằm trần truồng trên giường (thật là có lỗi với hai người). Lần này đột nhiên trở về, cũng khiến tôi cảm thấy có lỗi với bà con thôn xóm.

Tôi đã khiến họ trở tay không kịp. Để họ nhìn thấy tôi, như nhìn thấy một con ma từ dưới mộ chui lên.

Lúc này nắng chiếu xiên khoai. Cảnh tĩnh lặng ngột ngạt khiến thôn xóm giống như một đống bùn lớn nằm trên dãy núi. Có người kẹp trong nách cái bát và chậu nhào bột bị tôi xuất hiện đột ngột đã sững sờ. Tiếng vỡ bát rơi lọ trong yên tĩnh giống như búa sắt đột nhiên gõ vào chuông một cái rồi bỏ lửng giữa chừng. Cách tôi gần nhất là hai người thôn bên đang sắp sửa khiêng hòn đá ra khỏi cổng, một già một trẻ trông thấy tôi có vẻ ngượng nghịu đặt đá xuống, lấy đòn khiêng ra khỏi vai. Một người nói, giáo sư Dương, sao anh nói về là về liền? Thằng con tôi nay tuy anh xoa đầu xoa trán nó, nhưng năm vẫn thi trượt đại học, dù sao hòn đá này anh để ở sân cũng bằng thừa, chúng tôi muốn khiêng về xây móng nhà.

Một người khác cũng nói với tôi, cháu ngoại tôi cũng thi trượt đại học, may mà tôi chưa nói với anh bãi đá với hàng loạt đá khắc chữ giống như đá cuội ông tôi đã nhìn thấy ở đâu, nếu nói ra tôi sẽ bị thiệt lớn.

Phải rồi, lúc đó chẳng phải nói hễ anh xoa đầu học sinh một cái là em đó học giỏi, thi được vào phổ thông cơ sở, phổ thông trung học và đại học. Nhưng nhà tôi đã cho anh lạc ba lần, đào hạt hai lần, anh đã từng xoa trán cháu tôi ba lần, mà sao ngay đến phổ thông cơ sở thi cũng trượt? Tại sao học phổ thông cơ sở vẫn đòi nhà tôi phải nộp ba trăm đồng?

Giáo sư Dương, người ta bảo anh đi rồi, không bao giờ trở về thôn nữa, không cần ngôi nhà này nữa. Không thì tại sao hai ngày liền cổng nhà anh mở toang cửa ra vào nhà cũng không khóa? Chúng tôi thấy có người vào nhà anh lấy đồ đạc, chúng tôi cũng vào lấy. Người ta lấy trước, rồi bà con mới người nọ học người kia đến nhà anh lấy của.

Chủ yếu nhất là có người nói, anh lên phố Thiên Đường hưởng thụ. Họ trông thấy anh trên phố Thiên Đường ngoài thành phố. Họ hỏi tôi, anh đến phố Thiên Đường thật à? Anh cứ nói thật với chúng tôi một câu, đúng là anh đến phố Thiên Đường chứ? Họ bảo lần nào đến phố Thiên Đường, anh cũng ở khách sạn, đều đú đởn chung sống với các cô gái ăn diện trên phố Thiên Đường.

– Đúng thể không giáo sư Dương?

– Đúng là anh thường xuyên đến phố Thiên Đường tìm gái chứ?

Loại ấy là gái đĩ, anh đi tìm gái đĩ, còn coi là người gì? Anh là giáo sư hay là khách làng chơi? Bọn gái ấy đều là gà, anh đi tìm chúng nó, anh đâu còn là trí thức, là người có học?

Khi sồn sồn hạch tôi như thế, họ liền đặt đá đang khiêng đang chuyển xuống đất, đều để đồ đạc lấy từ nhà tôi vào dưới tường, dưới cây. Có một số người xấu hổ cứ đứng trơ như phỗng, hình như nói tôi đi phố Thiên Đường là đang xuyên tạc bôi nhọ tôi, là vì ùa vào nhà tôi tranh cướp đồ đạc, bị tôi bắt quả tang, không thể không vạch người tôi bới lông tìm vết. Họ cứ đứng như phỗng trong sân nhìn tôi, xin tôi tha cho họ, xin tôi tìm cho họ một bước lùi khi đến hôi của. Ánh nắng đằng tây chiếu chênh chếch, từng cột, từng luồng nắng hắt vào sân, hắt lên mặt dân làng, khiến những khuôn mặt ấy đều tỏ vẻ xấu hổ và ân hận, bối rối và bơ vơ, người thì cúi gằm mặt xuống, người thì nhìn đi nơi khác.

Tôi hỏi, đúng là không có em nào đỗ đại học ư?

Đúng là ngay đến học phổ thông cơ sở cũng phải nộp tiền ư?

Đúng là tôi đã đến phố Thiên Đường, tôi đã ăn uống ê hề, chơi trò ma với các cô gái ở đó. Con cái các ông các bà đúng là không thi đỗ đại học, nếu các ông các bà đúng là cần những thứ này nhà tôi, thì các ông các bà cứ việc khiêng đi lấy đi.

Bà con thôn xóm ai ai cũng xấu hổ nhìn tôi. Họ nói, thì ra anh lên phố Thiên Đường thật à? Tại sao anh lại đến đấy thật? Giáo sư Dương, không đến anh cứ nói không đến. Nếu anh đến thật, bọn tôi sẽ khiêng những thứ này đi thật đấy!

Vậy là mọi ánh mắt đều trở nên như dao, như dây, có lí có cớ, rào đón, thúc bách, như hỏi mà không phải hỏi, hình như họ ùa vào nhà tôi cướp của, quả thật là vì tôi đến phố Thiên Đường. Hình như tôi không đi đến phố Thiên Đường, thì tuyệt nhiên họ không ùa vào nhà tôi như thế này. Họ cứ trừng trừng nhìn tôi, né tránh tôi, chờ tôi nói câu cuối cùng có đến phố Thiên Đường hay không có đến họ sẽ mang vác mọi thứ đi, không đến họ sẽ để mọi thứ lại.

Hai bên cứ giằng co cầm cự trong lúc mặt trời lặn, mọi người đều chờ tôi nói một câu.

Tôi liền nói, tôi có đi, đúng là tôi có đi.

Mọi ánh mắt của họ nhìn tôi, lúc đầu có vẻ ngạc nhiên, không dám tin. Sau đó bởi vì tôi luôn luôn nói khẳng định mình đã đi phố Thiên Đường, trong mắt họ lại không thể không tỏ ra căm ghét nói, anh không thể nói một câu anh không đến phố Thiên Đường hay sao? Anh không thể lui một nấc, xuống một bậc để cho bà con khiêng đồ đạc đi sao?

Tôi nói tôi đã đi thật, không nói dối bà con đâu. Tôi đã đi đến phố Thiên Đường thật mà!

Hai người khiêng hòn đá khắc chữ trợn mắt nhìn tôi, không phải bọn tôi muốn lấy của đi đâu, chính anh đã nói chọc tức chúng tôi, khích chúng tôi. Vậy là chúng tôi không thể không lấy, không thể không khiêng. Vừa nói họ vừa tức tối lại khiêng hòn đá để ở đất đi ra ngoài ngay bên cạnh tôi. Hai người trẻ tuổi này chống chọi lần nữa và mở mào, một cuộc cầm cự đã bị phá vỡ, người nọ học kẻ kia, tất cả dân chúng, ai để bàn xuống lại khênh lên, ai để ghế xuống lại vác lên, họ nối đuôi nhau đi bên cạnh tôi, người có vẻ ngang nhiên, kẻ có vẻ lúng túng, nhất loạt đều thoăn thoắt, nhanh nhẹn. Người khiêng đá sơ ý đã va hỏng khung cổng nhà tôi. Mảnh mạt gỗ bị văng ra từ khung cổng trắng nhờ nhờ, giống như một mẩu xương rơi xuống. Chị cùng thôn ôm đèn bàn và một lọ gốm của tôi, bởi trong tay còn xách một chiếc ghế gỗ nhỏ nhà tôi, trên lọ gốm còn để một cái chổi cọ tôi dùng để phẩy giường khi ngủ, hai tay chị lúng ta lúng túng lo cả trên lẫn dưới, mồ hôi từ trán chảy ròng ròng, chảy thẳng xuống chiếc chổi cọ. Khi đến trước mặt tôi, cái chổi cọ từ miệng lọ rơi xuống. Chị ngượng nghịu nhìn tôi cười, chị nói, giáo sư Dương, đại nhân thấy tiểu nhân không trách, phiền anh nhặt giúp tôi cái chổi cọ, bỏ vào miệng lọ này.

Chị bảo tôi đem cái lọ này về đựng muối, cái chổi cọ mang về để con tôi phẩy giường. Vừa nói chị vừa liếc nhìn tôi, vẻ mặt đỏ bừng bối rối. Tôi vội cúi xuống nhặt chổi cọ đút sâu vào miệng lọ gốm, khiến nó không bao giờ rơi xuống nữa.

Cũng đã đi hết.

Tất cả đều đi hết.

Nói đi là đi luôn.

Tôi né người sang một bên.

Bà con trong thôn nối đuôi nhau đi vào, nối đuôi nhau đi ra, đường hoàng tự nhiên, có lí có lẽ, chuyển toàn bộ đồ đoàn trong nhà tôi đi qua bên cạnh tôi. Nhưng được cái, những quyển sách luôn luôn đặt ở góc giường tôi và quyển bản thảo cuốn "Phong nhã chi tụng" trên bệ cửa sổ buồng tôi vẫn để nguyên tại chỗ. Việc này khiến tôi cảm thấy được an ủi phần nào, như khi mình đang khát, có người để lại cho một bát nước mát ngon lành.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mot Sach đưa lên
vào ngày: 14 tháng 7 năm 2025

« Lùi
Tiến »