Phong Nhã Tụng

Lượt đọc: 2420 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
thiên tác

Thiên tác - Đây là bài hát vui Chu Vương cúng tế núi Kỳ Sơn.

Tất cả sự việc đều lộn tùng phèo và thay đổi trong chốc lát.

Chàng thợ mộc họ Lí hình như đã chết (có lẽ chết thật! Thì ra mạng sống vốn mềm yếu y như ngọn cỏ dưới miệng bò). Cảnh tượng bất ngờ này, trong chớp mắt đã biến tôi từ một giáo sư thành kẻ giết người, trở thành tên tội phạm chạy trốn không có lối thoát.

Như con khỉ bị đẩy khỏi "vương vị" đành phải đi về nơi hoang vu lạnh lẽo nhất, tôi cứ đi mãi, đi đến nơi đèo heo hút gió của dãy núi Bả Lâu.

(Một năm trước, với danh nghĩa tìm về khởi nguồn của "Kinh thi", tôi đi tìm đá khắc chữ, có thể đi theo hướng này thêm một hai ngày thì tốt. Đi thêm một hai ngày sẽ không có tai nạn hôm nay. Lúc đó tôi coi đá khắc chữ Hán cổ thành vật kỉ niệm của lịch sử và đền chùa trung nguyên để lại cho người Bả Lâu. Nào ngờ hôm nay khi chạy nạn, vật cứu vớt tôi cuối cùng vẫn là những hòn đá khắc chữ. Thật không ngờ những hòn đá khắc chữ ấy lại có mối liên hệ và duyên ngầm sâu sắc đến thế với "Kinh thi" và số phận của tôi).

Tôi cứ đi theo hướng chính tây, cứ tưởng tôi sẽ vượt núi băng đèo, không biết mệt mỏi như những chàng trai người Hán trong truyền thuyết, nhưng tôi đâu ngờ, tôi chỉ đi có một ngày đã bở hơi kiệt sức, định rẽ về theo hướng huyện lị, muốn trở về ở trên phố Thiên Đường, hú hí với những cô gái ở đó đến khi ngán đến tận cổ, sẽ lại vác cái mặt thớt về cõi nhân gian, hoặc về thẳng kinh thành. Nhưng ý nghĩ này vừa nảy ra trong đầu, chưa kịp đâm chồi đã héo quắt.

Trên con đường ven sườn núi đất vàng khi thẳng tắp, khi uốn lượn thuần thình nằm sâu trong dãy Bả Lâu, tôi gặp một người đứng tuổi đi chợ huyện về. Ông dắt một con lừa. Trên lưng lừa gùi một cái chảo và mỡ muối tương dấm. Tôi hỏi ông vào thành phố phải không?

Ông giẫm chân phủi bụi, nhìn ánh nắng chiều hỏi tôi, anh đi đâu? Trông anh không giống người Bả Lâu chúng tôi.

Tôi hỏi ông, trên đường về ông có đi qua thôn Chùa trước và thôn Chùa sau không?

Ông hỏi anh là người thôn Chùa à?

Tôi hơi giật mình - Ông thấy trong thôn có chuyện gì phải không?

Ông nhìn tôi có vẻ không hiểu - Tôi vào thôn tìm nước uống, có một nhà giàu múc nước rơi xuống giếng.

Trong thôn có cờ phướn và lều đặt linh sàng không?

Tôi trông thấy có thợ mộc chặt cây to ở đầu thôn làm quan tài.

Có người mặc áo tang màu trắng không?

Hình như trong thôn còn có những tiếng khóc lóc hờ trời gọi đất.

Không nói gì hết, tôi lại vội vàng đi về phía tây. Men theo con đường sườn núi, đến trưa hôm sau tôi lại gặp một người từ huyện lị về Bả Lâu. Tôi hỏi, trên đường về ông có đi qua thôn Chùa, có vào thôn uống nước không?

Có nhìn thấy trong thôn có người mặc áo tang trắng không?

Có nghe nói thôn Chùa trước có một người chết phải không?

Ông ấy bảo, hình như ở thôn nào đó có nhìn thấy người chết, hình như có nghe thấy tiếng khóc, hình như còn nhìn thấy một lá cờ phướn màu trắng dài một trượng treo trên cành cây cổng nhà ai đó. Như vậy, tôi đành phải tiếp tục đi sâu vào trong dãy núi Bả Lâu, có phần giống kẻ chạy trốn, cũng không còn là kẻ chạy trốn, có phần giống giáo sư, cũng không còn là giáo sư. Tôi vẫn nơm nớp lo sợ, nhưng không kinh hoàng bối rối nữa. Dáng tôi giống như người đi bộ đến dãy núi Bả Lâu dạo chơi (tôi đang cố gắng giống thế), khảo sát (gặp ai tôi cũng giới thiệu mình như thế). Khát tôi tìm nước, đói tôi tìm bản, cứ thế bước cao bước thấp, tôi thất thểu đi theo hướng chính tây, chỉ thi thoảng quay lại nhìn hướng mình đi tới. Đến lúc mặt trời lặn một lần nữa, tôi men theo con đường mòn hoang dã, đi vào một thôn trang trước mặt. Thôn này có tên là Mã Dịch Trang, là thôn thứ mười một về phía tây của dãy núi Bả Lâu tôi đã từng đi qua trong hai ngày, là một ngọn đèn chiếu sáng trên con đường phát hiện vĩ đại cuối cùng của tôi. Ở đầu làng, tôi nói vài câu với một ông già từ ngoài đồng về nhà, đi theo ông đến nhà ông ở giữa làng.

Ông hỏi tôi, anh đi đâu mà dáng vẻ mệt mỏi thể? Tôi nói các bác đã đi đến kinh thành bao giờ chưa? Tôi là giáo sư Trường đại học Thanh Yên ở kinh thành.

Ông già nói, Mã Dịch Trang chính là vì ngày xưa là trạm dịch để ngựa nghỉ chân, nên mới có tên là Mã Dịch Trang.

Tôi nói, tôi đến để chuyên nghiên cứu về nguồn gốc của "Kinh thi" và sự truyền bá của nó ở lưu vực sông Hoàng Hà cách đây hơn hai ngàn năm. Các bác có biết trước kia ở đây có phong tục và tập quán hát các bài ca thượng cổ không?

Ông già giục, mời anh ngồi, mau ngồi xuống, đứng thế mệt.

Tôi và cả gia đình ngồi trên bàn đá trong sân (chiếc túi du lịch bám đầy bụi vàng để trong nhà ông già). Tôi đã ăn bánh bao trắng, rau cải thìa và bí đỏ của nhà ông. Nhưng khi đang ăn, trong làng chợt có tiếng kêu chói tai dồn dập vọng đến. Tôi giật nảy mình. Bát cơm bưng trong tay rơi xuống sân.

Ông già nhìn tôi hỏi, anh sao vậy?

Tôi đáp, trời ơi, tiếng kêu to thật.

Ông già nói, ở đầu làng có một gia đình chọc tiết lợn ngay cạnh đền.

Tôi hỏi có đền ư? Đền ở đây là đền gì?

Ông già đột nhiên nghĩ đến điều gì, đặt bát trong tay lên bàn, nhân lúc trời còn nhá nhem, dẫn tôi đến trước một ngôi đền nhỏ, nửa đổ nửa sập sau làng, bảo tôi, anh hãy xem xem ngôi đền Bồ Tát thôn quê điển hình.

Ngôi đền cách thôn nửa dặm, có ba gian, nằm trên một sườn dốc, trông như rùng rùng chực đổ, nhưng vẫn trụ vững tại chỗ. Trong đền, ngoài một bức tượng Bồ Tát bằng đất, còn có ba lư hương và tro hương, còn có một hòm quyên góp công đức cũ nát, có lẽ vĩnh viễn trống không. Trước đền tôi hỏi hết cái này đến cái kia, xem bức tường đá bị hương khói hun đen sì, cuối cùng theo chỉ dẫn của ông già, tôi trông thấy trên một phần ba bức tường đá đều là đá to bằng cái làn hình vuông, có góc có cạnh, mặc dù bên trong hoặc bên ngoài tường, mỗi mặt tường đều có mấy hòn đá khắc chữ, có hòn một chữ, có hòn hai chữ, lại có hòn khắc ba chữ năm chữ, chữ nào cũng khắc thể đồng triện xù xì, đều to bằng cái bánh bao. Trong đó có nửa chữ tôi chịu chết không nhận ra, càng không đọc nổi. Nhưng ở ngoài tường trái có một hòn đá to màu xám, hình vuông hai thước, trên hòn đá này lại khắc hai câu: "Thiên khẩu cao sơn, khẩu khẩu hoang chi". Tôi bỗng nhớ đến hai câu này là hai câu thơ "Thiên tác" trong "Tụng" của "Kinh thi": Thiên tác cao sơn, đại vương hoang chi (tức Thượng đế sinh thành núi cao này, Thái Vương trị lí đồng ruộng tươi xanh). Thể chữ của hai câu thơ khắc trên đá này giống y hệt thể chữ trên đá tôi sưu tầm, nhìn thấy ở thôn Chùa trước, hoặc to hoặc nhỏ, đều cổ kính, chất phác thô vụng, nửa đứng nửa tròn, giống như mấy quả bầu hỏng, hoặc mấy cành cây khô nghiêng ngả, hoàn toàn là chữ của người trí thức thôn quê, do thợ đá nhà quê khắc bằng dao. Bởi vì đá này đều là loại nham thạch cát của dãy núi Bả Lâu, phần nhiều đã phong hóa bào mòn làm mất ba chữ t ác, đại, vương trong hai câu thơ (giống như cành khô mất đi theo năm tháng). Qua đây tôi nghĩ đến một cụ già ở thôn Chùa trước nói với tôi một câu Nếu anh giúp cháu ngoại tôi thi đỗ đại học, tôi sẽ nói với anh ở đâu có hàng đống hàng bãi đá khắc chữ.

Sờ vào chữ khắc trên đá, tôi bị đá phơi nắng làm bỏng tay, giống như máu chảy từ đầu ngón tay vào trong huyết dịch. Tôi ngạc nhiên nhìn mặt ông già đứng bên cạnh, hỏi ông bằng giọng hơi run run:

Trong thôn có loại đá này không, thưa ông?

Các thôn khác cũng có đền đá này không, thưa ông?

Ở đây còn cách sông Hoàng Hà bao nhiêu cây số, thưa ông?

Tôi cho ông tiền, ông dẫn tôi đi đến nơi ông nói được không, thưa ông?


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mot Sach đưa lên
vào ngày: 14 tháng 7 năm 2025

« Lùi
Tiến »