Y hi - Đây là bài thơ cúng tế ngũ cốc mùa xuân, khuyên nhủ nhà nông chăm chỉ cấy cày. Ngoài ra còn hàm ý sụt sùi thương xót than thở sự đời.
Sử việc cứ xảy ra hết chuyện này đến chuyện khác, giống như mùa thu đến lá phải rụng, mùa đông sang phải mưa tuyết. Tôi vẫn cứ cách một tuần, hoặc mười ngày lại đến phố Thiên Đường một chuyến (trên phố Thiên Đường phồn hoa như gấm, người qua lại như mắc cửi, lần nào đến đấy tôi cũng có cảm giác vinh quy bái tổ, về với cố hương). Lần nào đi tôi cũng nói với mọi người trong tay thiếu tư liệu, phải lên thư viện của thành phố mượn sách. Trong thôn không ai nghi ngờ tôi không lên thư viện thành phố, không ai biết tôi lần nào đi cũng đến phố Thiên Đường. Họ trông thấy tôi mặc áo nhung, hỏi lần trước anh đi lên thành phố mua phải không? Thấy tôi mặc chiếc áo len mới dệt bằng máy, họ hỏi anh mua áo này ở bách hoá Đại Lầu phải không? Cứ hỏi cứ nói, thế rồi trời mưa tuyết, trong một trận mưa tuyết lớn, đã bước sang tháng chạp, có một sự việc không hẹn mà đến, tôi chợt giật mình - sắp sửa đón tết xuân.
Một trận mưa tuyết đã phủ trắng xoá dãy núi Bả Lâu, tuyết ngập đến đầu gối. Lúa tiểu mạch vốn đang xanh mơn mởn, chỉ trong một đêm đã biến mất. Không khí trở nên xanh thẫm và giá lạnh. Người già và trẻ con ở thôn Chùa trước, đều ở trong nhà sưởi ấm bên bếp lửa và bóc ngô hạt, rất hiếm có ai sang nhà tôi nói chuyện trời chuyện đất, hỏi tôi những chuyện ở kinh thành, hỏi tôi những của quý và kiến trúc ở Cố Cung, hỏi tôi khi lãnh đạo nhà nước đi máy bay có phải chỉ ngồi có một người? Khi đi tàu hỏa có phải một mình ngồi hẳn một đoàn tàu?, còn lại đều là nhân viên phục vụ của ông ấy? Không có chuyện gì mới mẻ hơn, cũng không có chuyện gì ghê gớm cả. Giữa lúc tôi cảm thấy cô quạnh, núi cao sông dài, không biết làm thế nào, thì có một sự việc. Sự việc này không hẹn mà đến, đến như đúng hẹn, tất nhiên mà hợp lí. Nhưng tôi cảm thấy đường đột và bất lực, y như tai nạn từ trên trời giáng xuống càng khiến tôi vì trở tay không kịp mà không thể ủng phó và xử lí so với khi nghe tin Linh Trân đã từng hầu hạ một người đàn ông họ Ngô ở huyện lị.
Sắp sửa ăn tết xuân, mừng năm mới.
Đã mưa một trận tuyết. Tuyết vừa dừng, trong thôn đã có người lên thành phố mua về một cuộn giấy viết câu đối, một can dầu lạc và một túi pháo tết. Vẫn chưa đến lúc làm hàng tết, ông này đã bắt tay làm hàng tết. Ông còn bảo con trai ông đi miền nam làm thuê, ba năm nay không về quê ăn tết đón xuân, năm nay cũng sắp về ăn tết đã nhắc ông sớm chuẩn bị sắm hàng tết.
Hôm ấy cũng vào lúc sắp hoàng hôn, trong thôn vừa ồn ào vừa tĩnh mịch, người thì quét dọn tuyết ở cổng, người thì bắc thang lên mái hiên gạt tuyết đọng xuống sân. Trong mấy ngày mưa tuyết, tôi không thể đi lên phố Thiên Đường, chỉ ngồi ru rú trong nhà đọc lại cuốn sách chuyên đề của mình một lần (lấy đó để giết thời gian khó chịu đựng), ngoài phát hiện ra mấy chữ mình viết sai, còn phát hiện cuốn "Phong nhã chi tụng" quả là một cuốn sách tuyệt vời. Tôi tự hào bởi sự lí giải mới của mình đối với "Kinh thi", cảm thấy kiêu hãnh và đắc ý bởi sự tường trình và lập luận giản dị dễ hiểu, chặt chẽ nghiêm túc trong "Phong nhã chi tụng", tỏ ra đáng tiếc bởi nhà xuất bản đã không muốn bỏ tiền ra in sách "Phong nhã chi tụng". Tôi cho rằng "Phong nhã chi tụng" không thể chào đời không những là một sự đáng tiếc và tổn thất đối với cá nhân tôi, mà còn là sự đáng tiếc và tổn thất đối với nhà nước này. Cuối cùng đọc xong "Phong nhã chi tụng" lần cuối, tôi vẫn chia thành năm phần cho vào trong năm chiếc phong bì giấy xi măng, lại xếp năm chiếc phong bì giấy xi măng căng phồng lên bàn, rồi lặng lẽ bước ra khỏi nhà nhìn tuyết đọng đầy trong sân nhà mình và lối đi tôi đã quét tuyết trước cổng. Vừa bước ra đến cổng, tôi đã nhìn thấy chú Tư xách túi hàng tết, lội dưới tuyết sâu kêu óc a óc ách từ ngoài thôn đi về.
Tôi cất tiếng hỏi, chú Tư ơi, chú lên thành phố sắm hàng tết sớm thế?
Chú Tư bước đến, giậm giậm chân trước mặt tôi, vẩy hết bã tuyết bám trên quần bông đen và trên ủng bông đen, chú nhìn tôi hỏi, Dương Khoa, anh có về ăn tết với vợ không?
Bất chợt tôi nhận ra sắp sửa bước sang năm mới. Tôi đã rời khỏi kinh thành gần sáu tháng trời. Trường đại học Thanh Yên, bệnh viện tâm thần và vợ tôi Triệu Như Bình không ai viết cho tôi một lá thư, cũng không ai gọi cho tôi một cuộc điện thoại, cũng không hề có tin nhắn từ kinh thành hỏi thăm tôi (được cái lương hàng tháng tài vụ đều gửi vào sổ tiết kiệm của tôi). Tôi đi khỏi y như một chiếc lá từ trên cây Trường đại học Thanh Yên rụng xuống không ai để ý, không ai hỏi han. Giống như Trường đại học Thanh Yên vốn không có Dương Khoa này. Triệu Như Bình cũng chưa bao giờ kết hôn với một giáo sư có tên là Dương Khoa. Bệnh viện tâm thần ngoại ô kinh thành xưa nay cũng chưa hề có một người bệnh bỏ đi có tên là Dương Khoa.
Bởi vì có người sắm hàng tết trước, nên bà con trong thôn cũng lục tục có người lên thị trấn, lên thành phố mua pháo tết, mua giấy đỏ. Chuyện ăn tết đã nghiễm nhiên trở thành chủ đề bàn bạc của dân chúng. Thế là luôn luôn có người hỏi tôi, thầy Dương, bao giờ thầy về kinh thành ăn tết với gia đình?
Bà con còn bảo, khi nào trở về thôn nhất định phải dẫn vợ về. Lấy nhau đã mười năm, hai mươi năm nay, bà con dân làng vẫn chưa trông thấy dáng dấp vợ anh như thế nào.
– Này Dương Khoa, anh về quê dễ có đến nửa năm nay sao không thấy chị ấy gửi thư về cho anh? Cũng không thấy vợ anh gọi điện thoại cho anh?
Họ nhận xét, người thành phố khác người nhà quê, có xa nhau vài tháng nửa năm, cũng chẳng ai nhớ đến ai.
Hình như họ bức tôi rời khỏi thôn, càng gần đến tết, càng có nhiều người hỏi anh ăn tết ở nhà quê hay về kinh thành? Khi tôi trả lời, tôi muốn ăn tết ở nhà quê, họ trố mắt ngạc nhiên nhìn tôi, ăn tết tại sao không về nhà đoàn tụ với vợ anh? Khi tôi bảo tôi chuẩn bị về kinh thành ăn tết, họ liền hỏi dồn, bao giờ anh đi? Ăn tết xong còn trở lại nữa không?
Bỗng dưng, tôi tiếp tục ở trong thôn đã trở thành một việc khó khăn, lí do ở lại thôn trở nên bế tắc, không có lối thoát. Trở về kinh thành, nhưng ở đó hình như xưa nay không có con người Dương Khoa này. Sống ở thôn Chùa trước lại hình như không phải người thôn Chùa trước. Tôi là người thừa và vô vị trên thế giới này, giống như một cây cỏ thừa bên lề đường, một tổ sâu thừa giữa những chiếc lá nảy mầm khi xuân đến. Té ra tôi sống ở đâu cũng là người thừa, đều phải tìm một lí do thiết thực nhất, thích hợp nhất mới ở được.
Nhưng hiện tại, sắp đến tết xuân rồi, tôi không tìm được lí do tiếp tục ở lại thôn Chùa trước.
Chú Tư từ ngoài thôn đi về, đến trước cửa nhà tôi, đặt túi đựng pháo tép và giấy đỏ lên hòn đá ở cổng, xách một túi hàng to khác lách qua bên cạnh tôi đi vào sân. Chú bảo túi đồ này Linh Trân nhờ tôi đem từ phố huyện về cho anh để khi về kinh thành ăn tết, anh đem theo làm quà, vừa nói chú vừa để túi xuống đất. Lại từ trong túi to lấy ra từng túi nhỏ, chú bảo, đây là nấm đầu khỉ rừng, đây là nấm kim châm, đây là nấm hương nhỏ sản xuất từ trong vùng núi sâu, gói nào cũng bỏ trong túi ni lông trong suốt, để trên sân giống như bày bán hàng. Giữa trời tuyết sáng trắng, trong sân nhà tôi bay mùi thơm đỏ vàng khô ấm, giống như nhà ai đó đang sấy khô đặc sản rừng vừa đào hái từ núi về. Tuyết trong sân đều được quét vào một khoảng đất trống phía nam sân, chất đống lên cao bằng nửa người, sáng lấp loá dưới ánh nắng toả ra màu trắng tinh và thanh sạch đặc biệt của mùi tuyết. Mùi thơm của đặc sản khô rừng ấm áp như một bếp lửa nhạt giữa trời băng đất tuyết. Có một con chim khách đang hót trên cành cây du nhà tôi, cũng có con quạ kêu trên cây du đó. Chim khách và quạ đen xưa nay vốn không kêu không hót chung một cành, nhưng hôm nay, trên một cây du nhà tôi, chúng líu ríu vui nhộn, tiếng xanh như trúc từ trên cây lọt xuống y như những hạt mưa đá trước mùa đông.
Tôi ngẩng đầu nhìn lên cây.
Chú Tư cũng nhìn lên cây.
– Linh Trân có khoẻ không chú?
Chú Tư quay nhìn tôi nói có vẻ trách móc, mỗi lần lên phố huyện anh cũng nên rẽ vào thăm Linh Trân, tốt xấu gì thì anh chị cũng đã từng đính hôn hồi còn trẻ.
Tôi tiện tay xách đến hai chiếc ghế, một chiếc cho chú Tư, một cái tôi ngồi (giống như hai tháng trước, người đàn ông đứng tuổi trông coi nghĩa trang thuận tay đem đến hai chiếc ghế, một cái cho tôi, một cái ông ngồi). Sau khi ngồi lại im lặng một lúc, thấy chú Tư rút ra một điếu thuốc, châm lửa hút mấy hơi, tôi cất tiếng, chú Tư, tại sao Linh Trân lại lấy lão họ Ngô nhỉ? Có phải cô ấy hám ngôi nhà của ông ta?
Điếu thuốc chú Tư châm sững lại ở lưng chừng, mãi đến lúc tàn thuốc rơi xuống đất kêu đánh tẹt một tiếng.
– Lão họ Ngô nào?
– Lão họ Ngô béo phị phải không?
– Lão Ngô Đức Quí phải không?
– Anh định nói lão họ Ngô giúp Linh Trân mở Dự Tây Yến trước khi có khách sạn Bả Lâu phải không?
Chú Tư nhìn tôi một lúc, nghĩ một lúc, giống như nhìn tôi mười năm hai mươi năm, nghĩ mười năm hai mươi năm, nếp nhăn trên mặt chú ban đầu càng lúc càng dày, càng lúc càng sâu, sau đó mỗi lúc một nông, đột nhiên trở nên thưa sáng. Chú rít liền mấy hơi thuốc, nhả khói tối đen một khoảng trời sáng láng, chợt hiểu ra. Chú nói, anh định nói lão Ngô hơi beo béo phải không? Tại sao Linh Trân lại kết hôn với lão ta phải không? Tại sao Dự Tây Yến lại là khách sạn lão ta mở phải không? Sau khi Tôn Lâm chết, để an táng Tôn Lâm, Linh Trân đã vay nợ. Để trả món nợ này, cô ấy đã bán lợn nhà mình, bán cây ở cổng nhà mình, còn bán cả của hồi môn và quà tặng khi cưới mới kiếm được hơn một ngàn đồng ra thành phố buôn bán. Lúc đầu bán rau xanh trong thành phố, nửa đêm thức dậy đi ra ngoại ô thành phố mười mấy dặm mua rau tươi để kịp đem về bán tại chợ rau thành phố lúc sáng sớm. Nhờ chịu khó thức khuya dậy sớm, cô ấy đã kiếm được một ít tiền, thuê mấy gian nhà ở phố Uỷ ban, mở một quán cơm nho nhỏ chính là Dự Tây Yến. Lão họ Ngô là một đầu bếp lớn Linh Trân tuyển dụng, có thể xào nấu món ăn ngon, có thể chế biến món mì sợi hợp khẩu vị, bởi vì tay nghề của lão tốt, nên Dự Tây Yến đã ăn nên làm ra. Nhưng về sau, Linh Trân đã bỏ tiền ra mua hết mấy gian nhà đã thuê và ngôi nhà ở phía sau. Khi chuẩn bị làm ăn lớn, thì lão Ngô bị ốm chết, buôn bán của Dự Tây Yến bị đổ vỡ. Linh Trân lại thay đầu bếp, đổi Dự Tây Yến thành khách sạn Bả Lâu.
– Tại sao lão Ngô lại là chồng của Linh Trân?
Tại sao Linh Trân lại lấy lão đầu bếp mình tuyển dụng? Huống hồ lão đầu bếp ấy còn hơn Linh Trân những hai mươi tuổi tròn?
Nghe chú nói nhé, Dương Khoa này, lẽ nào anh không bết cả đời Linh Trân chỉ yêu có một người là anh? Anh có biết không lấy được anh, suốt đời cô ấy không quên anh không? Người ta là gái trinh nguyên tại sao lại lấy Tôn Lâm người cùng thôn hơn cô ấy những mười tuổi lại có một đời vợ? Chính là vì lấy người thôn Chùa trước, cách nhà anh gần hơn, mỗi lần anh từ kinh thành về, cô ấy cũng có thể trông thấy anh, lẽ nào anh không nhận ra chút lòng thầm kín này của Linh Trân?
– Đúng là anh không nhận ra chút tâm sự này của Linh Trân phải không?
Nói xong, chú Tư ra về. Khi đi chú giận dữ đứng khỏi ghế, trợn mắt nhìn tôi nói, xa thôn Chùa trước hai mươi năm anh không hiểu Linh Trân, tại sao không đến hỏi tôi? Tôi là chú của Tôn Lâm, nhưng cũng là cậu họ của Linh Trân. Dưới gầm trời này có ai hiểu Linh Trân hơn tôi? Có ai biết ngọn nguồn của Linh Trân hơn tôi? Nói đến đây không hiểu sao chú di chân trên đất một cái thật mạnh (y như tôi di mạnh chân trên đống mạt vụn hương trước bia mộ Ngô Đức Quí trong nghĩa trang công cộng). Sau đó chú hùng hục bước ra khỏi nhà tôi. Ra khỏi cổng chú còn quay lại hỏi, Dương Khoa này, anh đi khỏi kinh thành đã gần sáu tháng rồi, trong sáu tháng qua chú không thấy anh nhận được thư nhà, không thấy anh nói đến chuyện gia đình anh và chuyện của nhà trường các anh. Nếu ở trong nhà trường và gia đình có việc gì không tiện nói, không tiện về ăn tết, Linh Trân bảo, bệnh có nặng đến mấy đi chăng nữa cũng sẽ từ thành phố trở về ăn tết với anh.
– Bệnh có nặng đến mấy đi chăng nữa cũng phải về ăn tết với anh.
Nói đi nói lại mấy câu này, chú Tư nhìn tôi đứng ở cổng, thấy tôi vẫn im lặng cúi đầu đứng trong cổng, chú Tư nói, anh hãy suy nghĩ xem mình ăn tết ở đâu, suy nghĩ kĩ xem mình ăn tết ở đâu! Rồi chú xách túi hàng tết để ở ngoài cổng đi về nhà.