Không ngờ, Linh Trân đã đột ngột qua đời trong dịp tết.
Ngày mồng sáu tết tôi về đến thôn Chùa trước của dãy núi Bả Lâu, vừa vặn kịp đám tang Linh Trân.
Sau khi tiễn các cô gái đi khỏi nhà trọ Thiên Đường thanh toán xong tiền, tôi xách hành lí, tìm một nơi gọi điện thoại công cộng. Tôi gọi điện thoại về nhà ông trưởng thôn thôn Chùa.
Thưa ông, ông là trưởng thôn thôn Chùa phải không?
Thưa phải, ngài là ai vậy?
Tôi đáp, tôi là hiệu trưởng Trường đại học Thanh Yên, thưa ông!
Ôi, ngài là hiệu trưởng Trường đại học Thanh Yên, anh Dương Khoa là thầy giáo của trường các ngài, ngài có biết anh Dương Khoa không thưa ngài?
Tìm ông, tôi muốn nói đến việc của giáo sư Dương Khoa thôn các ông. Tôi nói Dương Khoa là giáo sư có tên tuổi, chuyên gia văn học cổ điển, người có thẩm quyền nghiên cứu "Kinh thi" của trường chúng tôi. Năm ngoái giáo sư Dương Khoa đã về thôn Chùa trước ở mấy tháng nhằm khảo sát khởi nguồn và sáng tác "Kinh thi" ở vùng dãy núi Bả Lâu lưu vực sông Hoàng Hà. Năm nay ăn tết xong, tổ chức lại cử giáo sư Dương Khoa tiếp tục về quê hương khảo sát và nghiên cứu. Vì nền văn hóa truyền thống vĩ đại của nước nhà, chúng tôi hi vọng các ông sẽ giúp đỡ công việc của giáo sư Dương Khoa nhiều hơn được không ạ?
Ý ngài muốn nói giáo sư Dương Khoa sẽ về ngay phải không? Vâng, xin ngài cho anh Dương Khoa về ngay. Thôn chúng tôi vừa có một người chết. Anh Dương Khoa không về ngay, người chết không chôn được.
Có lẽ lần này về thôn Chùa trước, giáo sư Dương Khoa sẽ ở lại lâu dài, một hai năm, dăm ba năm đều được.
Hôm nay liệu anh Dương Khoa có về đến nhà không?
Nguyên nhân ở vài năm chủ yếu là đề tài nghiên cứu của giáo sư Dương Khoa quá phức tạp, mỗi dự án trong đó đều phải mất sáu tháng một năm mới sáng tỏ.
Thưa ngài hiệu trưởng, tốt nhất xin ngài bảo anh Dương Khoa về nhà trong hôm nay, muộn nhất là ngày mai. Không được xin ngài nói thẳng với anh Dương Khoa, đối tượng của anh Dương Khoa hồi ở thôn là Linh Trân đã tự vẫn, anh Dương Khoa không về, chúng tôi không thể chôn cất Linh Trân.
Linh Trân đã ra đi một cách lặng lẽ. Tôi liền hấp ta hấp tấp trở về thôn Chùa trước.
Còn cách hoàng hôn trong gang tấc. Ráng chiều đục ngầu, y như nước trà để cách đêm. Tuyết đọng qua đông trên dãy núi còn chất ở trên dốc núi có bóng râm, kết thành một lớp vỏ trắng lạnh. Thời tiết hình như hơi se lạnh, cũng hình như hơi âm ấm. Có người đang khoác áo choàng bông, có người đang mặc áo bu dông mỏng đi trên dốc núi.
Tôi về đến thôn vào buổi chiều. Từ xa xa đã nhìn thấy chiếc lều đặt linh cữu dựng lên ở đầu thôn và cờ phướn treo trên cành cây (giống như lá cờ), còn nghe thấy cả tiếng kèn tiếng tiêu nức nở của ban nhạc tang đang tấu lên trước lều. Tiếng nhạc đồng réo rắt và âm điệu nỉ non từ chiếc lều đặt linh cữu vang ra, thoáng dừng lại trên sườn núi rồi bay xa.
Nghe thấy nhạc tang, tôi bỗng sững người.
Nhìn thấy chiếc lều đặt linh cữu tôi bỗng chột dạ.
Đứng trên lối vào đầu thôn, sau khi đắn đo một lúc, tôi đang chuẩn bị đi đến lều, thì một em bé từ trên cây tụt xuống reo toáng lên: Thầy Khoa đã về rồi, thầy Khoa đã về rồi (hình như cậu bé leo lên cây là để quan sát tôi về thôn từ xa). Cậu bé vừa chạy vừa kêu (đó là cậu bé như con khỉ gầy guộc đã từng được tôi xoa đầu thi kiểm tra được điểm tốt), giọng sáng láng, người lảo đảo. Đến chỗ lều đặt linh cữu, cậu kéo cánh tay ông trưởng thôn (ông trưởng thôn ngoài năm mươi tuổi, khoác chiếc áo choàng quân đội, mái tóc ngắn lốm đốm bạc, nét mặt rất tươi tỉnh), thưa ông trưởng thôn, thầy Dương Khoa đã về. Ông trưởng thôn hơi ngẩn người. Cậu bé nói, thầy Dương Khoa đã về đến đầu đường. Ông trưởng thôn ngẩng đầu nhìn lên sườn núi. Cậu bé nói, thầy Dương Khoa về đến thôn ngay bây giờ. Ông trưởng thôn nghĩ ngay đến thầy Dương Khoa cậu bé nói chính là tôi của Trường đại học Thanh Yên, liền nhún vai một cái (giống như một tướng quân trên sân khấu chuẩn bị đi ra khỏi sở chỉ huy), bước ra lối đầu thôn đón tôi.
Tôi bước nhanh đến chỗ lều đặt linh sàng.
Ông trưởng thôn cũng bước nhanh đến đón tôi. Đến trước lều, ông bắt tay tôi. Tôi nói xin chào ông trưởng thôn. Ông nói, ngài hiệu trưởng của các anh đã đích thân gọi điện thoại cho tôi về việc của anh. Tôi hỏi, tại sao Linh Trân lại ra đi đột ngột như thế? Ông bảo anh yên tâm, vì việc của nhà nước, chúng tôi nhất định sẽ phối hợp chặt chẽ với anh, giúp anh khảo sát và nghiên cứu, huống hồ thôn Chùa lại là quê hương của anh.
Tôi hỏi, tại sao Linh Trân lại ra đi đột ngột như thế?
Ông trưởng thôn nói, thật đáng tiếc cô ấy đang ở độ tuổi này.
Tôi hỏi, rút cuộc tại sao thưa ông?
Ông trưởng thôn nói, cái chính là đứa con gái hơn mười tuổi cô ấy để lại rất đáng thương.
Tiếp theo ông trưởng thôn nhận hành lí trong tay tôi, dẫn tôi đi xuống dưới lều đặt linh sàng. Lều dựng bằng mấy cây gỗ, phủ vải bạt mới. Mùi sơn vải bạt sực nức, y như vừa sản xuất ra từ nhà máy vải bạt. Dưới tấm vải bạt, kê hai ghế băng đặt chiếc quan tài màu đen của Linh Trân. Trên chiếc bàn nhỏ trước quan tài, bày ba đĩa đồ cúng táo tàu, bánh bao và bánh quẩy (có cả ba thẻ hương). Trên chân bàn nhỏ bày đồ cúng có dán một câu đối nhỏ màu trắng, một bên là Tận tâm tận sức suốt đời lao động, một bên là Trên đường về nhà cả đời bình yên .Trên cột lớn ở ngoài lều dán một câu đối to màu trắng. Một vế là Vì anh vì tôi vì anh ấy vì nhà nước. Một vế là Thổ lại thổ khứ thổ mai như về nhà (có vẻ ý nghĩa). Tôi đứng thẫn thờ trước lều đặt linh sàng, xem câu đối nhỏ trước, đọc câu đối to sau. Thấy tôi xem câu đối, ông trưởng thôn cười xấu hổ nói, nông thôn không có văn hóa, không cầu kì (rất cầu kì), tùy tiện viết như thế cho có chút ý nghĩa.
Ông trưởng thôn nói câu đối này đều do các em học sinh viết.
Tôi khen viết hay lắm.
Tôi hỏi Linh Trân ra đi hôm mồng bốn tết phải không? Ông trưởng thôn đáp cô ấy ra đi lúc nửa đêm ngày mồng bốn tết.
Nói rồi ông dẫn tôi đi đến chỗ quan tài.
Kèn đám ma im bặt. Trong lều đặt quan tài im phăng phắc, chỉ có tiếng gió lạnh và tiếng nắng nóng. Đám trai trẻ thổi kèn, kẻ hút thuốc, người uống trà (có anh còn uống rượu). Rõ ràng họ nhìn tôi bằng ánh mắt xa lạ, song y như họ đã biết tôi từ lâu, ai cũng gật đầu chào tôi. Trên đất chung quanh quan tài phủ rơm mạch rất dày, có mười mấy, hai mươi mấy người chịu tang quỳ trên đất nhìn tôi (giống như sinh viên trong lớp học đều quay đầu nhìn tôi khi giảng bài). Khi nhìn tôi, trong mắt họ phần lớn không có nước mắt, chỉ có một cô bé mười sáu mười bảy tuổi quỳ sát quan tài nhất nét mặt u buồn và ngơ ngẩn, như cúi xuống lại như ngẩng lên nhìn tôi, hình như định khắc vào trong mắt cô khuôn mặt tôi (hình như tôi quen cô, lại cảm thấy như chưa khi nào gặp cô ở thôn Chùa trước. Cứ tưởng như xa lạ, nhưng hai mắt đều thấy quen quen). Cô gái nhìn tôi một lát, rồi đứng lên trước quan tài hỏi, chú là Dương Khoa phải không? Tôi hơi ngẩn người, gật đầu với cô. Ông trưởng thôn bước đến nói, đây là Tiểu Mẫn con gái của Linh Trân, hai người vẫn chưa gặp nhau phải không?
Tôi đứng lại trước mặt Tiểu Mẫn.
Tiểu Mẫn khẽ cười gượng với tôi.
Tôi bước đến giơ tay xoa đầu cô gái như bố đẻ.
Nước mắt cô gái bỗng trào ra, tôi vội vàng lấy tay lau nước mắt cho cô (Khi lau nước mắt, tôi rất không nên nghĩ đến các cô gái trên phố Thiên Đường). Sau đó tôi im lặng (tôi không biết nên nói gì), lại bước theo ông trưởng thôn đến gần quan tài.
Đến trước quan tài đưa mắt nhìn mới thấy nắp quan tài chưa đóng kín, còn chừa một khe hở (có phải để người chết hít thở?), vẫn còn đè một sợi dây đay đỏ trong khe hở (có phải để cách biệt giữa cõi âm và cõi dương, tránh cho xác người chết khỏi bật dậy đi vào cõi dương chăng? Trong "Kinh thi" hơn hai ngàn năm trước cũng có thơ kể về mai táng như vậy). Ông trưởng thôn đứng cạnh tôi, lại xê dịch nắp quan tài của Linh Trân sang một bên để nhìn rõ toàn bộ đầu Linh Trân trong quan tài. Tôi nhìn thấy rõ Linh Trân đang mặc chiếc áo dài đại thọ thêu hoa bằng đũi màu đen thay cho chiếc áo len lông cừu cô vẫn mặc. Mép cổ áo thọ đều bọc vải lụa vàng (như thiếp vàng), mép các túi áo đều có khuy xanh (như ngọc thạch), các mép áo đều viền chỉ bằng tay (rất mịn màng và cân xứng). Cổ áo chùng đều là cổ đứng viền vàng (hết sức gọn gàng). Trên cổ đứng thêu hoa cúc vàng (đẹp vô cùng). Trên ngực áo chùng thêu mấy bông hoa mẫu đơn trắng rất to (hết sức sống động). Áo đũi đen bóng, sợi thêu lấp lánh làm cho chiếc áo quan như một ngôi nhà sáng bừng bốn phía. Trong ánh sáng bừng ấy, đầu Linh Trân gối lên chiếc gối thêu trắng vàng kim, trên mặt phủ một chiếc khăn bông trắng. Mái tóc được chải phủ lên vai và gối (bên đầu không đặt chiếc hộp trang sức gỗ hồng hình chữ nhật mà Tiểu Hạnh đã từng bưng cho tôi xem). Sau khi xê dịch nắp áo quan, ông trưởng thôn cẩn thận mở một góc khăn mặt trắng che mặt Linh Trân (nhẹ tới mức như gió thoảng, từ từ mở ra, như sợ mặt Linh Trân đột nhiên lộ ra ngoài bị ánh sáng thiêu cháy), từ từ nhấc lên để khuôn mặt có phần tím tái của Linh Trân lộ dần từ trán, đến lông mày, cặp mắt (nửa nhắm lại) và cái sống mũi vốn dọc dừa của cô (giống như ông kéo nhích từng tí bức màn lớn thần bí). Cuối cùng khi mặt Linh Trân lộ ra hai phần ba (lúc này, trong lều đặt quan tài im lặng, ai nấy như nín thở, không biết ai trong số người đang quỳ động đầu gối một cái, rơm mạch dưới đầu gối kêu sột soạt cùng với tiếng cành cây bị gió thổi gãy kêu răng rắc). Giữa lúc ấy, tay ông trưởng thôn dừng lại ở lưng chừng, ông ngẩng lên nhìn tôi giống như nhìn một khán giả quan trọng nhất trong vở diễn. Nhìn thấy chưa, giáo sư Dương Khoa?
(Tôi nhìn Linh Trân sau khi chết, trong lòng trống trải, mênh mông như tuyết phủ trên dốc núi không có ánh nắng mặt trời. Có một luồng khí lạnh từ quan tài lùa ra phả lên người tôi, khiến tôi run rẩy).
Anh nhìn khí sắc Linh Trân khác hẳn, tôi cảm thấy anh vừa về, mặt Linh Trân đã ửng đỏ.
(Lại có mấy người bên cạnh ghé vào quan tài nhìn như tôi).
Chỉ cần anh có mặt ở nhà, ngày mai chúng ta có thể an táng như dự định, Linh Trân cũng được yên nghỉ trong lòng đất.
(Hình như ông trưởng thôn còn nói gì nữa nhưng tôi nghe không rõ).
Còn một việc nữa cần bàn với anh. Giáo sư Dương Khoa, việc này là điều kị lớn trong an táng cũng là tâm nguyện lớn khi Linh Trân còn sống, nếu anh có thể thỏa mãn chị ấy, cuộc đời này chị ấy đã biết đủ.
Tôi ngẩng lên nhìn mặt ông trưởng thôn, y như nhìn một bức tranh thuốc nước vẽ một người đứng tuổi có vẻ hào hứng (khi tôi nhìn ông, lại trông thấy Tiểu Mẫn quỳ tại chỗ đang nhìn tôi, khát vọng trong ánh mắt sâu thăm thẳm như cánh đồng hạn hán bao la đang mong mưa).
Đi thôi, ông trưởng thôn hất chiếc áo choàng trên vai, quay lại nói với Tiểu Mẫn, cháu cũng về nhà một chút. Chờ Tiểu Mẫn đứng dậy, ông nhìn tôi bảo, chúng ta về nhà Linh Trân nói việc này. Ông chủ tịch xã và cụ Tứ của Tiểu Mẫn đều ở đó đợi anh về. Cụ Tứ của Tiểu Mẫn chờ anh sốt ruột lắm, ngày nào cũng ra ngõ ngóng anh có đến vài trăm lần.
Ông trưởng thôn lại từ từ phủ chiếc khăn mùi xoa trong tay lên khuôn mặt tím tái của Linh Trân. Không phủ ngay ngắn, ông lại thò tay vào trong áo quan kéo hai bên khăn tử tế, sau đó lại dịch nắp áo quan về vị trí cũ (vẫn chừa một khe hở bằng ngón tay để trong áo quan có không khí). Ngẩng lên nhìn tôi, y như xin ý kiến, lại giống như giao cho tôi một việc một cách đương nhiên. Ông nói việc này nói ở đây không thích hợp, phải về nhà Linh Trân nói, phải về nhà chị ấy để anh xem một gian nhà, một gian nhà với những đồ đạc và sự sắp xếp anh không ngờ tới và cũng không ai ngờ tới. Vừa nói ông trưởng thôn vừa kéo cánh tay tôi đi ra ngoài lều bạt, hình như để tôi đi vào lều nhìn Linh Trân một lát là một nghi thức và một quá trình, không nhìn Linh Trân là quyết không xong. Nhìn thì cũng đã nhìn rồi, tiếp theo nên bước sang một trình tự khác.
Khi ra khỏi lều bạt, Tiểu Mẫn đã đi nhanh hơn và đang đợi tôi ở ngoài. Những ánh mắt ở đằng sau đều dõi theo chúng tôi, giống như xem một vở kịch đã mở màn, chỉ còn chờ diễn viên bước ra sân khấu trong tiếng trống tiếng chiêng (tôi cũng ra sàn diễn một cách không tự giác). Tôi cùng Tiểu Mẫn và ông trưởng thôn đi vào trong thôn. Đi vài bước, ông trưởng thôn chợt nghĩ đến việc gì, bỗng đứng lại, quay đầu nghiêm giọng nói với những người đang nhìn theo tôi, khóc đi chứ, bọn bay không khóc thì làm gì. Thổi kèn đi chứ, không thổi kèn thì mời các bạn đến thôn làm gì.
Trong lều bạt lại vang lên tiếng khóc tiếng hờ ầm ĩ, chị Linh Trân ơi, số chị khổ quá, vừa được vài năm khá lên, chị đã ra đi. Sao chị lại nghĩ quẩn thế? Sao chị lại khờ dại thế Linh Trân? Thím Linh Trân ơi, thím không nên ra đi như thế, đời sống của thím sung túc thế cơ mà, sao thím nỡ vứt bỏ cuộc sống tốt đẹp như vậy ra đi?
Ban nhạc tang cũng bắt đầu thổi kèn, thổi nhạc đưa tang buồn đau ảo não nhất trong đưa đám. Tiếng nhạc đồng réo rắt mà giá lạnh như áo thọ của Linh Trân bay phần phật trong gió, khiến người nghe cũng theo tiếng nhạc đi vào một thế giới khác. Tôi chợt nghĩ đến bài thơ ba đoạn mười tám dòng, ba mươi sáu câu của "Tần Phong Hoàng Điểu" trong "Kinh thi" (Hoàng Điểu - trong thơ miêu tả năm 621 trước Công nguyên, Tần Mục Công chết, chôn theo 177 người sống, trong đó có ba người họ Xa, quan tốt của nước Tần là Yểm Tức, Trọng Hành và Kim Hàm Hổ. Người Tần thương khóc ba người, cho nên đã viết bài thơ này, buồn thảm, thê lương, đọc lên ai cũng phải rùng mình nổi gai ốc), chính là một bài thơ hay viết về cảnh bi thảm đưa đám của người dân Bả Lâu bên bờ sông Hoàng Hà.
Giao giao hoàng điểu, chỉ ư cức
(chim sẻ vàng lích chích, đậu trên cành táo chua)
Thùy tòng Mục Công, tử xa Yểm Tức
(Ai đi theo Mục Công? Yểm Tức nhà họ Xa)
Duy thử Yểm Tức, bách phu chi đặc
(Nói đến Yểm Tức này, một người địch nổi trăm người)
Lâm kỳ huyệt, chủy chủy kỳ
(Đến gần mộ ông ấy, sợ hãi run bắn người)
Bỉ thương giả thiên, tiêm ngã lương nhân
(Trời xanh hỡi trời xanh, người tốt của chúng tôi, một kẻ không giữ lại)
Như khả thục hề, nhân bách kỳ thân!
(Nếu chuộc được mạng ông ấy, lấy một trăm người chúng tôi cũng đánh đổi).
Tôi vừa đứng tại chỗ, vừa nhẩm đọc bài thơ an táng "hoàng điểu", hồi tưởng hình dáng Linh Trân mình vừa nhìn thấy. Nhưng ngoài cảnh tượng lều đặt quan tài, ban nhạc tang, những người chịu tang, quan tài và áo thọ mà tôi nghĩ đến (nhìn thấy), tôi bỗng quên sạch sành sanh hình dáng Linh Trân trong áo quan, không hề nhớ lại một tí chút, mờ nhòa như một đám mây sau khi mặt trời lặn. Hình dáng khi Linh Trân còn sống, hình dáng Linh Trân sau khi chết, hình dáng Linh Trân mặc áo thọ phủ khăn trắng hoàn toàn mờ nhòa trong đầu tôi, sánh như một bát canh mì sợi đổ trên đất.
Tôi rất muốn quay trở lại lều bạt nhìn kĩ mặt Linh Trân.
Ông trưởng thôn nói, con cháu chịu tang không nhiều lắm, chủ yếu là do gia đình Tôn Lâm chồng chị ấy trong thôn ít người.
Tôi luôn luôn quay đầu nhìn chỗ lều bạt không nhúc nhích.
Ông trưởng thôn nói, nhưng Linh Trân có nhân duyên tốt, lại có tiền, ban nhạc tang là ban nhạc tốt nhất ở dãy núi Bả Lâu được mời đến. Mấy hôm trước trong huyện có một ông cục trưởng qua đời cũng dùng ban nhạc này.
Từ chỗ lều bạt quay đầu lại tôi nhìn thấy Tiểu Mẫn đã vào giữa ngõ thôn.
(Cô bé có dáng đi giống Tiểu Hạnh, bước nào cũng tung tăng hoạt bát).
Đi thôi, ông trưởng thôn giục, ông Trương chủ tịch xã (cũng cùng họ với hiệu trưởng chúng tôi), rất có quyền, quan hệ tốt với tôi. Nhưng dù có tốt đến mấy đi chăng nữa cũng không thể để người ta chờ suông mình ở nhà.
Tôi lại theo ông trưởng thôn leo lên những tấm đá trên dốc ngõ đi vào nhà Linh Trân.
Trong nhà Linh Trân người qua kẻ lại, ra ra vào vào cũng như trong lều bạt, song cũng có khác, người ta nấu cơm, thái rau, chuẩn bị vòng hoa, gấp dán giấy thành những núi vàng, núi bạc, bé trai, bé gái, còn có các loại giấy tiền đã cắt xén tử tế, các thỏi giấy bạc đang bao gói và chuẩn bị những đồ đạc, những thứ chôn theo người cuối cùng sẽ đặt vào quan tài. Tất cả mọi người đều đang bận rộn những việc này, tấp nập ồn ào như ở hội trường. Khi tôi theo ông trưởng thôn đi vào sân, chú Tư đang phát thuốc lá cho người khác bỗng sững người, nói với tôi: Ôi, về rồi hả? Về nhanh thế? Già một nửa ánh mắt đổ dồn vào tôi. Tiếng ồn ào bỗng im bặt, giống như dàn nhạc trên sân khấu đột nhiên đứt dây, hỏng trống, diễn viên đang hát buộc phải dừng lại nửa chừng.
Mặt trời đã lặng lẽ lặn xuống phía tây. Ở đầu thôn vẫn tiếng hờ tiếng khóc khô khốc, nhạc kèn vẫn réo rắc, còn trong nhà Linh Trân thì im ắng hẳn. Mọi người ngồi ở chính giữa sân. Ông trưởng thôn giới thiệu tôi với ông chủ tịch xã. Ông nói đây là danh nhân lớn, giáo sư lớn, người có thẩm quyền lớn của Trường đại học Thanh Yên ở kinh thành, những ai biết "Kinh thi" trên thế giới đều biết giáo sư Dương. Ông lại hỏi tôi, suy cho cùng, "Kinh thi" là một quyển sách như thế nào? Tiếp theo ông lại giới thiệu ông chủ tịch xã với tôi, đây là ông Trương chủ tịch xã đích thân từ xã về đây lo việc tang của Linh Trân, cũng muốn bàn với anh việc tổ chức tang lễ cho chị ấy. Chúng tôi cùng bắt tay, gật đầu, chào hỏi nhau. Tôi chìa một tay tay ông chủ tịch xã nói, từ nay về sau có việc gì ở kinh thành ông cứ đến tìm tôi. Ông chủ tịch xã giơ hai tay nắm bắt một tay tôi nói, vâng vâng, kinh thành là thủ đô, tôi vẫn chưa có dịp lên thủ đô.
Ông hỏi tôi, kinh thành lớn lắm nhỉ?
Nhà anh ở khu nào?
Vợ anh cũng là giáo sư đại học phải không?
Ông nói nhất định sẽ có ngày tôi lên kinh thành thăm anh, nhất định sẽ đến nhà anh chơi, khách sạn đắt đỏ, tôi sẽ ăn ngủ tại nhà anh. Cán bộ vùng núi chúng tôi, ở cơ sở xã xóm coi là một cán bộ, một con người, nhưng lên đến kinh thành chỉ là một cái rắm của người ta. Ông giục tôi, ngồi xuống đi, giáo sư Dương, muộn rồi, nên đi vào việc chính, để Tiểu Mẫn và chú Tư của chị ấy kể lại cái chết của Linh Trân. Thế là mọi ánh mắt dồn vào Tiểu Mẫn và chú Tư luôn luôn đứng chờ ở một bên. Chú Tư là người quản lí tiền đám tang của Linh Trân. Mua rau, thái thịt, rót rượu, phát thuốc, tất cả mọi khoản chi đều phải qua tay chú. Khi ông chủ tịch xã bảo chú Tư và Tiểu Mẫn kể lại cái chết của Linh Trân, chú Tư đang gục trên bàn nhỏ trong sân tính sổ và các khoản chi tiêu trong ngày. Nghe lời ông chủ tịch xã, chú Tư vội quay lại nhìn mặt ông trưởng thôn, đẩy Tiểu Mẫn đến trước mặt tôi.
Ông trưởng thôn bảo, Tiểu Mẫn, cháu nói đi.
Chú Tư quay hẳn người lại, dịch ghế đang ngồi ra phía chúng tôi, lại kiếm đâu ra một cái ghế bảo Tiểu Mẫn ngồi đối diện với tôi, cùng với tôi, ông chủ tịch xã, ông trưởng thôn quây thành một vòng tròn nhỏ. Ngẩng lên nhìn trời, ông nói, sắp ăn cơm rồi, Tiểu Mẫn đầu đuôi thế nào cháu hãy kể lại tỉ mỉ cho chú Dương Khoa nghe một lượt. Tiểu Mẫn lại nhìn tôi bằng ánh mắt cầu khẩn nói, thưa chú Dương Khoa, mẹ cháu đã qua đời, bố cháu cũng đã mất, cháu cũng không sợ chú cười cháu, cháu có nói gì chú cũng đừng để bụng. Thưa chú Dương Khoa, cháu nói ra chú có giận cháu không? Cô bé hỏi tôi đều bằng tiếng quê nhà, đều là những việc không nghĩ đến. Những năm trước mẹ cháu đều ăn tết ở thành phố. Năm nay mẹ cháu lại về quê ăn tết, đón cả cháu từ nhà bà nội về thôn. Thưa chú Dương Khoa, ra ngoài chú là giáo sư, về đến quê nhà chú vẫn là người trong thôn, trước mặt ông chủ tịch xã, ông trưởng thôn, có chuyện gì cháu xin nói thẳng. Thật ra mẹ cháu về thôn ăn tết là nhằm vào chú. Chuyện ngày xưa, cháu không nói mọi người cũng đã biết, mẹ cháu là người đã từng đính hôn với chú Dương Khoa, chỉ có điều chú Dương Khoa lên kinh thành học tập trở thành người nổi tiếng, nên cuộc hôn nhân mới không môn đăng hộ đối. Nếu bảo cháu là con gái của nhà họ Tôn không nên nói chuyện này, nhưng người đều đã chết, có nói ra cũng thế thôi. Các bác các chú xem, bố cháu Tôn Lâm đã từng có vợ, lớn hơn mẹ cháu những mười hai tuổi, dù sao thì mẹ cháu cũng không nên lấy bố cháu. Nhưng mẹ cháu đã lấy. Tại sao mẹ cháu lại lấy? Chính là vì mẹ cháu muốn được gả về thôn Chùa trước, gần nhà chủ Dương Khoa, được nhìn thấy nhà chú Dương Khoa, được nghe thấy một số tình hình và tin tức của chú Dương Khoa ở kinh thành. Chính vì điều này, mẹ cháu đã lấy bố cháu hơn mình những mười hai tuổi lại có một đời vợ. Phải nói mẹ cháu lấy chồng về đây sống rất tử tế, đối với bố cháu cũng rất tử tế, đối với bố chú Dương Khoa - ông hai cháu cũng rất tử tế.
Thưa chú Dương Khoa, chú ở kinh thành không biết, ông hai cháu khi còn sống, mùa đông nào mẹ cháu cũng sắm cho ông một đôi ủng bông. Trong ủng bông không phải bông, mà toàn là lông cừu và lông thỏ.
Anh Dương Khoa này, chú Tư nói, có thể nói hai chân bố anh sướng cả đời. Khi ông mất Linh Trân còn kịp làm cho ông một đôi ủng lông cừu, coi là đồ chôn theo bỏ vào trong quan tài.
Tiểu Mẫn nói, mẹ cháu không có số lấy chú Dương Khoa, nhưng trước bố chú Dương Khoa, mẹ cháu đã làm trọn nghĩa vụ của một người con dâu.
Nói như thế có thể nhận xét Linh Trân đối xử với chồng không tốt phải không? Chú Tư vừa nêu ra câu hỏi vừa trả lời, tốt lắm, đẻ con cho anh ấy, lo mọi việc trong nhà, làm nhà cho anh ấy. Tôn Lâm bị xe đâm chết, Linh Trân ôm xác chồng lao đầu vào chiếc xe đó đòi bằng được lái xe cũng đâm chị chết luôn, đừng để chị mẹ góa con côi sống trên đời, mãi đến khi Tiểu Mẫn quỳ xuống đất van xin mẹ đừng khóc, Linh Trân mới chịu thôi.
Chú Tư hỏi, sao các vị có thể nói Linh Trân đối xử với chồng không tốt?
Đều tốt, chú Tư nói, đúng là đều tốt.
Nhưng sau đó, khi an táng bố cháu, Tiểu Mẫn nói theo phong tục, đã chôn bố cháu cùng với người vợ trước ốm chết. Mẹ cháu đã suy nghĩ khác, mẹ cháu cảm thấy bố cháu là chồng của người vợ trước đã chết, chứ không phải là chồng của mẹ cháu, không cùng một nhà với mẹ cháu. Rồi từ nhà trên vẫn ở chung với bố cháu, mẹ cháu dọn sang ở hai gian nhà ngang phía nam. Vừa nói Tiểu Mẫn vừa quay đầu nhìn ngôi nhà ngang đằng sau. Ngừng một lát, lại nhìn trời đã tối, Tiểu Mẫn nói rất nhanh như hãm phanh, mẹ cháu ở trong nhà kia hơn sáu tháng, đưa cháu sang ở nhà bà nội đi học, còn bản thân ra thành phố buôn bán kiếm sống. Đầu tiên bán rau, sau bán hủ tiếu và bánh bao, về sau nữa thuê nhà mở nhà hàng gọi là Dự Tây Yến, tự tay vào bếp xào nấu thức ăn, đích thân bưng bê cơm canh ra tận bàn cho khách. Mẹ cháu đã mời một ông béo họ Ngô giúp mẹ canh giữ cửa hàng ban đêm, nào ngờ ông họ Ngô kia đã rắp tâm ăn cắp tiền của mẹ cháu, lấy hết số cháu dành dụm trong hai năm, làm ầm ĩ cục công an ba ngày cũng không lấy lại được khoản tiền mất cắp. Hiện nay con người họ Ngô kia còn sống ở huyện lị. Ông ta ăn uống toàn là tiền ăn cắp khi ở Dự Tây Yến. Qua sự việc này mẹ cháu bị ốm một trận, chữa khỏi bệnh, mẹ cháu xây dựng lại từ đầu, sửa quán ăn Dự Tây Yến thành khách sạn Bả Lâu, từ đấy mới dần dần bắt đầu lại có vốn, lại có tiền và có được nếp buôn bán hiện nay cùng với ngôi nhà này.
Cũng chính vào lúc này, chú Dương Khoa từ kinh thành trở về.
Mẹ cháu cứ tưởng chú Dương Khoa ăn tết ở thôn, nên mới từ thành phố về nhà ăn tết. Nhưng hôm mẹ cháu về, lại đúng ngày chú Dương Khoa lên huyện lị đáp xe về kinh thành ăn tết. Trước tết khi ông trưởng thôn nói trên loa công cộng, ông hiệu trưởng Trường đại học Thanh Yên gọi chú Dương Khoa khẩn trương về kinh thành dự hội nghị, mẹ cháu vừa về đến nhà, cũng đứng ở sân nghe loa thông báo. Nhưng sang ngày mồng ba tết, có người ở thôn bên đến đây thăm họ hàng. Ông ấy làm thuê cho một nhà hàng trên phố Thiên Đường ở huyện lị. Bởi vì quen biết ông ấy ở thành phố, mẹ cháu đã đứng lại ở đầu thôn nói chuyện với ông. Ông nói hình như mồng hai tết ông nhìn thấy chú Dương Khoa trên phố Thiên Đường. Ông kể chú Dương Khoa hình như mặc bộ quần áo màu tro, lúc hoàng hôn mồng hai tết từ nhà trọ Thiên Đường đi ra một cửa hàng nhỏ mua nến ngoại gì đó.
Chuyện ấy nói xong cũng cho qua.
Nhưng đến hôm mồng bốn tết, lúc cháu ngủ trong gác nhà trên, mẹ cháu đột nhiên gọi cháu từ nhà trên ra ngoài cửa. Lúc ấy sắc mặt mẹ cháu tái nhợt, giọng thều thào như không còn chút sức nào. Cháu hỏi, mẹ sao thế? Mẹ cháu bảo không sao, Tiểu Mẫn. Cháu hỏi, có việc gì thế mẹ? Mẹ cháu đứng dưới hai cây trong sân, lưỡng lự một lát nói, Tiểu Mẫn, mẹ không muốn vào thành phố, mẹ định sai con lên huyện lị, đến phố Thiên Đường, tìm xem chú Dương Khoa con có ở phố Thiên Đường không?
Cháu đáp, chú Dương Khoa về kinh thành ăn tết với vợ, mẹ không biết sao?
Mặt mẹ cháu thừ ra vàng lè. Gượng cười mẹ cháu nói, mẹ biết, mẹ chỉ muốn con đi một chuyến, loại bỏ căn bệnh trong lòng mẹ thôi mà.
Cháu biết chuyện giữa mẹ và chú Dương Khoa, liền bảo mẹ, bố con đã chết, mẹ cũng đã có tuổi, mẹ đừng thương nhớ chú Dương Khoa làm gì.
Mẹ cháu đứng ở sân đến khi mặt mẹ cháu càng vàng nhợt nhạt như tuyết trên dốc núi dưới ánh mặt trời lặn hôm nay, mẹ liền quay về ngôi nhà lớn phía nam. Đi được hai bước, mẹ quay đầu lại nói với cháu, con không đi lên huyện lị thì thôi, nhưng con chớ nói với ai việc mẹ sai con lên thành phố tìm chú Dương Khoa.
Chuyện đã rồi.
Sự việc cũng lần lượt trôi qua.
Nhưng sang ngày mồng bốn tết vừa ăn xong cơm tối, cháu định đi vào thôn, mẹ cháu lại gọi cháu vào nhà. Nhìn cháu một lát dưới ánh đèn, đột nhiên nói, Tiểu Mẫn, theo con, chú Dương Khoa con liệu có phải người như thế?
Cháu hỏi là người như thế nào?
Mẹ cháu lại im lặng, nhìn cháu một lát, cười, bỗng nói mẹ mệt rồi, cả đời cũng không thiết lên thành phố nữa. Mẹ bảo mình giữ lại tiền, biếu ngôi nhà trên phố Ủy ban cho chính quyền được không con? Không đợi cháu trả lời mẹ hỏi cháu ngay, Tiểu Mẫn, theo con một ngày nào đó mẹ chết đi, bố con và vợ cũ của bố con cùng chôn với nhau, mẹ muốn chôn riêng, con xin chú Dương Khoa con mấy bộ quần áo vẫn mặc trên người chôn bên cạnh mẹ liệu chú Dương Khoa con có đồng ý không?
Cháu không biết lúc ấy mẹ cháu hỏi thế có ý gì? Nhìn mẹ một cái có vẻ trách móc, cháu nói mẹ ơi, mẹ nói gì vậy. Mẹ cháu không nói nữa, bảo cháu đi thăm bà con trong thôn.
Tối mồng bốn tết, cháu sang nhà ông Tư. Nhà ông Tư có một người họ hàng là bạn học cùng lớp cháu ở đó.
Tại nhà ông Tư chúng cháu nói rất nhiều chuyện, nói mãi cho đến hơn một giờ đêm mới về nhà. Thấy đèn ở buồng mẹ còn sáng, cháu gọi qua cửa sổ: Mẹ ơi, con về rồi. Mẹ chưa ngủ hả mẹ? Cháu gọi mấy tiếng liền không thấy mẹ trả lời. Từ sân cháu đi vào trong nhà, trông thấy mẹ ngủ say trên giường, một cánh tay để ra ngoài chăn. Cháu lại gọi mẹ ơi, mẹ ơi, bước đến cầm cánh tay mẹ chìa ra ngoài đặt vào trong chăn. Khi cầm tay mẹ, cháu chợt giật mình, tay mẹ lạnh ngắt như băng. Cháu lại vội vàng gọi mẹ, kéo tay mẹ lắc lắc, cháu để tay vào trước mũi mẹ, liền co dúm người, chân bủn rủn, suýt nữa cháu lăn quay ra nhà.
Cháu vịn tường đi ra khỏi buồng mẹ, chạy ù té sang nhà ông Tư như một cơn gió. Vừa chạy cháu vừa kêu, gần như đánh thức toàn thôn. Đến nhà ông Tư cháu đập cửa thình thình như đánh trống. Nói đến đây, Tiểu Mẫn nhìn ông Tư ngồi bên cạnh. Hình như để chứng thực lời Tiểu Mẫn, ông Tư nhìn mọi người, tiếp lời Tiểu Mẫn (như kể tiếp câu chuyện). Tiểu Mẫn đập sắp long cánh cửa gỗ nhà tôi. Lúc chạy trên đường thôn, tiếng bước chân của cháu vừa nặng vừa dầy như mưa đá. Cháu vừa chạy vừa kêu, vừa kêu vừa khóc, đến nhà tôi, cháu vừa đập mạnh cửa vừa gọi - Ông Tư ơi, ông Tư ơi, mau mau lên, mẹ cháu chết rồi, mau mau lên, mẹ cháu chết rồi. Nghe thấy tiếng gọi, tôi khoác áo nhảy khỏi giường, mở cửa, chạy theo cháu về nhà. Mọi người biết nhà cháu ở sau thôn này, toàn là đường dốc rải đá tấm, mùa đông mặt đá tấm lạnh như sắt, nhưng mãi đến khi sang đến nhà Linh Trân, đứng trước giường cô ấy tôi mới nhận ra mình không kịp đi giầy. Vì Linh Trân tôi đã chạy chân không từ nhà mình sang nhà cô ấy.
Tôi đã ngoài sáu mươi tuổi, nửa đêm chạy trong thôn chẳng khác gì con sơn dương nhảy vách đá.
Nhưng lúc ấy Linh Trân đã tắt thở.
Không kịp nữa rồi.
Linh Trân nằm trên giường như đang ngủ, nét mặt bình thản, giống như một chậu nước để tại chỗ không động đậy, có phần tím tái, cũng có phần trong suốt và giá lạnh. Tôi để tay trước mũi Linh Trân, giống như để tay trước cục băng lạnh ngăn ngắt, không hề có một chút hơi ấm.
Sau khi ăn cơm tối, Linh Trân nói chuyện với Tiểu Mẫn trong nhà. Tiểu Mẫn vừa đi thăm hàng xóm, cô ấy uống rất nhiều thuốc ngủ rồi nằm ngủ và chết đi. Xét cho cùng, mấy năm sống ở huyện lị, cô ấy đã trở thành người thành phố, không giống nông thôn miền núi chúng ta, muốn tự vẫn nhảy xuống giếng, leo vách núi, uống thuốc sâu chết rồi vẫn còn phải đau đớn. Linh Trân chết như thế không đau đớn gì, cứ như ngủ thiếp đi.
Xét đến cùng, cả cuộc đời của Linh Trân chỉ có anh Dương Khoa ở trong trái tim cô ấy. Cả cuộc đời Linh Trân đều không gạt được anh Dương Khoa ra khỏi trái tim. Nghe người ta nói anh đến phố Thiên Đường, Linh Trân không chịu nổi, đã uống quá nhiều thuốc ngủ. Bà con thử nói xem, thời buổi này tại sao lại trở về xã hội cũ, tại sao ở thành thị lại có phố Thiên Đường?
Sau khi Linh Trân chết tôi mới rõ tại sao cô ấy từ nhà trên dọn xuống ở nhà ngang. Chú Tư nói, nhà trên là nhà gác, đồ dùng hoàn toàn mới, ghế sô pha mềm như chăn bông mới. Còn nhà ngang, nhà tuy mới, nhưng giường, dụng cụ, từ cái bàn cái ghế và một chiếc ghế băng trong nhà đều là đồ cũ, rách nát, cách sắp đặt cũng vô cùng xưa cũ, trong thôn không còn gia đình nào như thế nữa. Vừa nói chú Tư vừa quay người ra đằng sau nhìn ngôi nhà ngang, nhìn cánh cửa vẫn đang đóng, vẫn có một chiếc khóa, như có vẻ yên tâm quay đầu lại nhìn tôi định nói gì, nhưng lại thôi.
Màn đêm đã buông xuống. Ở chỗ lều đặt linh sàng ngoài đầu thôn không còn tiếng khóc và tiếng kèn. Bầy chim sẻ mùa đông đã về tổ, đỗ trên tường trên cây, lốm đa lốm đốm, kêu lích cha lích chích vui tai, dầy đặc và sáng láng như giọt mưa. Tiếng nói chuyện và tiếng bước chân từ bên ngoài vọng vào đua với tiếng chim kêu dầy đặc và sáng láng, đua cả với sự tĩnh lặng và trầm buồn xen giữa những âm thanh.
Ban nhạc tang và những người ở chỗ lều quan tài đều về nhà ăn cơm.
Tiểu Mẫn nói, thưa chú Dương Khoa, mời chú vào xem căn buồng mẹ cháu chết. Nhìn vào chú sẽ biết đời mẹ cháu sống khổ biết chừng nào.
Chú Tư nói, nhìn một cái sẽ hiểu ngay, trong trái tim Linh Trân cả đời chỉ có anh, chứ không phải là cháu tôi Tôn Lâm.
Ông trưởng thôn giục tôi, vào xem đi, cảm động đến rung trời chuyển đất.
Ông chủ tịch xã cũng giục, anh thử vào ngó xem, khúc hát tuyệt vời, đúng là một khúc hát tuyệt vời, cảm động đến rung trời chuyển đất.
Từ thắt lưng, chú Tư lấy ra một chiếc chìa khóa, dẫn chúng tôi đi qua đám đông trong sân, mở cửa ngôi nhà ngang phía nam ra. Chú bấm công tắc vỏ trắng gắn trên tường ở cửa (giống như công tắc vào cửa khách sạn), bóng điện neon trong nhà nháy lên mấy cái rồi sáng bừng như ban ngày, gian nhà ngoài không có gì khác, từ chậu rửa mặt, giá để chậu rửa mặt, đến chiếc sô pha da nhân tạo màu đỏ thẫm và chiếc máy vô tuyến truyền hình mười tám in, thông thường đến mức như một cây giữa rừng mấy cây cỏ trong bãi cỏ. Nhưng vén bức rèm vải trên tường giữa gian trong và gian ngoài, mọi người nhường tôi vào, vừa đứng ở cửa gian trong tôi đã cảm thấy khác hẳn.
Khác hoàn toàn. Ngôi nhà ngang cũng là ngôi nhà mới Linh Trân xây tiếp theo nhà gác trên. Tường và trần nhà quét sơn màu trắng chở từ thành phố về. Nhưng rõ ràng trần nhà vốn là mái bằng, Linh Trân lại sửa lấy cây sậy treo một lớp giàn ô vuông trên mái bằng. Trên giàn ô vuông sậy trải một lớp chiếu sậy mới (ngày trước còn ở quê, trong nhà tôi cũng có một mái treo cây sậy, chiếu sậy trải lên mái). Tường nhà rõ ràng sạch bóng không có một hạt bụi, nhưng trên tường trắng như tuyết, Linh Trân lại dán một lớp giấy báo cũ đã ố vàng (lúc còn bé tôi cũng thường dán báo lên tường), đồng thời treo trên giấy báo ấy một tờ lịch treo cũ hai mươi năm trước (thời đó, lúc này, người Bả Lâu đều thích treo lịch trong phòng khách hoặc bên trong giường). Giường dưới lịch treo là giường gỗ liễu kiểu cũ. Tấm chắn đầu giường hình dao cầu bán nguyệt. Sơn đỏ trên tấm chắn đã tróc hết, hoàn toàn thành màu tro và màu đất cáu đen. Để chân giường không sát hẳn với nền đất đã kê bốn viên gạch dưới chân giường (nhưng nhà Linh Trân vốn không phải nền đất, vốn là nền xi măng), một chiếc vại đựng gạo đang đặt ở đầu giường, trên miệng vại để một chiếc hòm gỗ. Hòm gỗ ấy có thể đựng lương thực, cũng có thể để quần áo (Linh Trân đựng thứ gì bên trong?), còn có một chiếc hòm gỗ cũ kĩ, một bên nắp hòm mất một mảnh gỗ, miệng hòm mở toang hoác ra ngoài (hình như chừa lối cho chuột chui vào hòm). Trong nhà có mùi gỗ mục, giống như đồ dùng trong nhà để lâu khô nẻ có mùi vừa khô vừa ẩm, có cả mùi thơm của chiếu sậy và cây sậy màu vàng nhạt đã rất mỏng rất thưa trên trần nhà.
Chú Tư nói, anh Dương Khoa, anh nhìn lại một lần nữa chiếc ghế băng.
Hãy xem cái ghế này.
– Hãy xem cái bàn có ngăn kéo này.
Vừa nói chú Tư vừa vỗ lên bàn có ngăn kéo dưới tường, giữa cửa và đầu giường. Hai bên chân trước bàn gắn tấm chạm hoa hình tam giác. Mặt bàn vừa bẩn vừa cũ, để che cũ Linh Trân đã phủ lên bàn một tấm giấy xi măng (trước kia tôi cũng thích phủ giấy lên mặt bàn). Trên giấy xi măng đặt chiếc đèn bàn cũ, còn đặt một chiếc đèn dầu thủy tinh kiểu đứng. Khi nhìn cái đèn ấy, tôi giật nẩy người, vội vàng bước đến cầm chiếc đèn dầu thủy tinh lên xem (quả nhiên có một lỗ thủng ở dưới bệ đèn).
Đặt đèn xuống, tôi lại mở tấm giấy xi măng lên xem mặt bàn, rút ngăn kéo ra nhìn, lật cả nệm giường lên xem thang dưới chiếu, mở nắp lớn hòm gỗ ra xem góc hòm.
Trên mặt bàn phủ giấy xi măng, tôi đã nhìn thấy một lỗ đen hai mươi mấy năm trước tôi đổ dầu hỏa lên bàn đốt cháy sém. Trong ngăn kéo bên phải, tôi tìm thấy hai thanh gỗ nhỏ mình đóng đinh sau khi tấm đáy ngăn kéo hỏng hai mươi mấy năm trước. Trên một thang gỗ đầu giường, tôi đã tìm thấy sợi giây thép gỉ buộc thang giường gãy. Trong một góc hòm, tôi đã tìm thấy ba cái lỗ bị chuột cắn thủng.
Chú Tư hỏi tôi, anh đã từng dùng cái bàn này phải không? Cái giường này anh đã từng ngủ ở nhà phải không? Cái hòm này trong nhà anh phải không?
Anh nhìn xem cái vại sành có phải là cái vại đựng thóc gạo ở đầu giường anh không?
Cả cái hòm gỗ để trên vại?
Chú Tư đứng ở chính giữa nhà. Tiểu Mẫn đứng sau lưng chú. Ông chủ tịch xã đứng ở ngoài cửa. Ông trưởng thôn đứng ở cạnh giường. Mọi người nhìn tôi, giống như nhìn một đồ dùng đã mất hai mươi năm lại được đem về nhà. Trong nhà vắng ngắt, ánh mắt của họ lướt qua lướt lại trên người tôi, nhẹ như cơn gió thoảng. Chú Tư chỉ vào chiếc gối trên đầu giường (trên gối phủ một chiếc khăn nhung to màu đỏ) và chiếc chăn dày nền đỏ hoa vàng trên giường nói, khi ngủ Linh Trân gối chiếc gối này, đắp chiếc chăn này. Ngoài gối này, chăn nệm này, anh Dương Khoa, theo anh trong căn nhà này có thứ nào không phải là đồ dùng trong nhà khi anh còn ở thôn Chùa trước?
Cách sắp đặt trong nhà có giống với cách sắp đặt đồ dùng trong nhà khi anh còn ở thôn Chùa trước?
Không nói nhà và sân, căn buồng này chẳng phải gian buồng anh Dương Khoa đã từng ở hai mươi năm về trước?
Bố anh qua đời, gia đình anh không còn ai, sau khi chôn cất bố anh, anh khóa nhà khóa cổng về kinh thành, nhưng không đến nửa năm, không đến ba tháng, có lẽ còn chưa đến một tháng, khóa cửa nhà anh bị bẻ, giường chiếu bàn ghế và mọi đồ dùng, ngay đến một sợi dây thừng, sợi dây thép, cũng mỗi ngày thiếu đi một thứ, mỗi ngày thiếu đi một đoạn, chạy sang nhà hàng xóm. Dù sao trong nhà anh không có người, những thứ ấy cũng để không.
Đồ đạc bỏ không còn chóng hỏng hơn dùng.
Nói thật lòng, năm ấy tôi còn bê từ nhà anh về một cái chảo. Cái chảo gang nhà tôi dùng hiện nay chính là lấy từ nhà anh.
Những thứ này không phải Linh Trân lấy từ nhà anh về. Khi bà con đến nhà anh lấy đồ, chị ấy không lấy một thứ nào. Sau khi lên thành phố buôn bán, chị ấy đã bỏ tiền túi đến từng nhà trong thôn mua lại từng thứ gia đình anh đã dùng trước kia. Chiếc ghế băng này, chiếc ghế này, những dụng cụ gia đình cũ kĩ này, mua lại còn đắt gấp mấy lần sắm mới. Mua về rồi chị ấy xếp đặt đúng như kiểu khi anh còn ở nhà. Còn nhớ lúc ấy Linh Trân vừa qua mười tám tuổi, chính chú Tư này đã làm mối giới thiệu cho anh. Lần đầu tiên hai người gặp nhau là ở trong ngôi nhà ngang này của gia đình anh. Ngôi nhà ngang thời đó chính là thế này.
Không ngờ Linh Trân đã xếp đặt ngôi nhà cũng y như thời đó, giống hệt lúc anh còn ở nhà. Khi về nhà ăn tết, Linh Trân đã ngủ trong buồng này.
Từ lâu Tiểu Mẫn đã nói với tôi, sau khi bố cháu mất, mẹ cháu bắt đầu dọn sang ở gian này, không bao giờ còn ngủ trên cái giường ở nhà trên cháu trai tôi đã từng ngủ. Lần nào từ thành phố về Linh Trân cũng ngủ ở gian buồng này. Linh Trân ngủ ở gian này giống như ở nhà anh. Anh Dương Khoa, cái giường này trước kia anh đã từng ngủ. Có lẽ ngủ trên giường này, Linh Trân sẽ cảm thấy như đã từng kết hôn với anh Dương Khoa.
Nói thật, ngôi nhà này, cái bàn này, cái giường này đã hại Linh Trân.
Cũng không thể nói, tại ngôi nhà này, cái bàn, cái giường này đã hại Linh Trân. Linh Trân vốn khỏe mạnh tử tế, không đau không tai họa, mấy thang thuốc bắc đem từ thành phố về, cũng đã mời thầy thuốc đến xem bã, thầy thuốc bảo, thuốc bắc dưỡng sinh nuôi sắc đẹp, không chữa bệnh gì. Thầy thuốc còn bảo, lúc còn sống, Linh Trân không có bệnh, sống khỏe mạnh hẳn hoi, ngày nào cũng giữ gìn dưỡng sinh dưỡng sắc. Nhưng một khi nghe nói anh ăn tết xuân ở phố Thiên Đường đã uất lên, uống hàng vốc thuốc ngủ. Thật vậy, chẳng đã nghe nói không được tùy tiện bán bừa phứa thuốc ngủ là gì? Tôi và Tiểu Mẫn đều đã nói với Linh Trân, anh về kinh thành ăn tết với vợ, nhưng Linh Trân không tin. Ông trưởng thôn đã gọi oang oang trên loa, ngài hiệu trưởng của các anh thúc anh về dự họp. Nhưng chị ấy vẫn không tin lời ông trưởng thôn.
Chị ấy tin anh ăn tết trên phố Thiên Đường.
Uất quá chị ấy đã uống nhiều thuốc ngủ.
Đáng tiếc, ở độ tuổi này, chị ấy đang còn trẻ.
Nhưng uống thuốc ngủ còn tốt hơn treo cổ, nhảy xuống giếng, còn tốt hơn lao xuống vực và uống thuốc trừ sâu, bớt đau đớn, cứ nằm ngủ lịm đi rồi chết. Vài năm nữa có ốm đau, tôi cũng uống thuốc ngủ, đỡ nhiều đau đớn.
Ăn cơm tối xong, mọi người quây quần trong ngôi nhà trên của gia đình Linh Trân. Phòng khách của ngôi nhà gác rộng lắm, rộng gấp ba lần phòng khách nhà tôi ở Trường đại học Thanh Yên. Xung quanh kê sô pha, ghế, bàn uống trà, mà phòng khách vẫn như trống. Chú Tư ra kho đám tang bưng về lạc và đào hạt, lại đốt một bếp than to ở giữa phòng khách. Trong nhà ấm cúng, vui vẻ, những người ăn xong cơm ngoài sân đang rửa nồi rửa bát, nói chuyện phiếm, giống như cảnh tượng trước lúc khai diễn ở rạp kịch.
Ở chỗ lều bạt đầu thôn, bọn thợ kèn sau khi ăn no uống say trở về bắt đầu nổi nhạc inh ỏi trong giá lạnh. Họ thổi bài "Đi đưa ma", bài "Hoan hỉ ca", thổi cả bài "Chim khách náo đầu cành". Kèn đồng sáo trúc rộn rã, dồn dập trong đêm tối, giống như vải lụa phần phật lúc rõ lúc không trong gió. Mọi người nghe tiếng nhạc, xúm quanh ngọn lửa hồng trong nhà, mặt đỏ tay hồng, khẽ dẫm chân lên đào hạt nướng chín, mùi thơm tỏa ra hoặc đọng lại trong nhà. Ông chủ tịch xã bỏ vào mồm một cánh đào hạt nướng ra dầu, giục giáo sư Dương, anh ăn đi, kinh thành không nướng đào hạt như thế này, khi anh còn nhỏ ở nhà có lẽ đã từng nướng. Bây giờ lại bàn một chút việc của Linh Trân. Từ thôn Chùa trước, Linh Trân lên huyện lị làm ăn buôn bán, khi đi trong tay không có một xu, lên ủy ban xã xin vay một khoản tiền. Thời ấy Ủy ban xã rất eo hẹp về tài chính, cán bộ xã ba tháng không có lương nhưng xét tới tình hình đặc biệt của Linh Trân, xét đến việc để nông dân miền núi đi ra ngoài lao động làm giàu là chức trách và lương tâm của cán bộ xã chúng tôi, tôi đã đứng ra cho Linh Trân vay một khoản tiền. Linh Trân thông minh tháo vát, cần cù tiết kiệm, đã rất nhanh chóng mở nhà hàng Dự Tây Yến ở thành phố bằng số tiền này, sau đó còn mở rộng nhà hàng và đổi Dự Tây Yến thành khách sạn Bả Lâu, tôi lại cho cô ấy vay một khoản tiền làm vốn. Đương nhiên sau khi ăn nên làm ra, Linh Trân đã rất nhanh chóng trả lại tài chính xã số tiền này, cho nên xã mới tôn vinh Linh Trân là người dẫn đầu là tấm gương vay nợ làm giàu, giống như sinh viên giỏi được hưởng học bổng ở trường đại học các anh. Hiện nay Linh Trân đã qua đời, cô ấy biết chịu ơn phải trả, trước khi chết đã quyết định quyên góp cho Ủy ban xã khách sạn Bả Lâu và ngôi nhà của mình ở thành phố để làm văn phòng của Ủy ban xã ở huyện. Vì vậy tôi mới thay mặt Ủy ban xã đến thôn cảm ơn. Giáo sư Dương, tình yêu của Linh Trân dành cho anh đã cảm động đất trời, cho nên tôi cũng thay mặt mười mấy vạn bà con toàn xã hi vọng anh có thể thỏa mãn một ý tưởng một nguyện vọng của cô ấy khi còn sống, xin anh đáp ứng yêu cầu của cô ấy, bỏ ra một bộ quần áo, giầy tất mặc trên người làm đồ chôn theo đặt bên thân cô ấy, dành cho cô ấy một ngôi mộ quần áo, cũng coi như cô ấy không uổng phí một đời với anh, cho dù là tương tư một chiều, cũng coi như cô ấy sống không được cùng nhà, nhưng chết được cùng huyệt.
Còn cả sách anh đã từng dùng, chú Tư nói, anh là người có học, là giáo sư lớn, thân cô ấy ở nhà họ Tôn, nhưng trái tim ở trên người anh, anh cũng bỏ mấy quyển sách anh viết vào trong quan tài của cô ấy được không?
Ở ngoài đầu thôn, sau một hồi kèn sáo dồn dập, đến lượt con em chịu tang hờ khóc. Nhạc tang dừng nghỉ, giữa dãy núi trống vắng yên tĩnh, tiếng khóc tiếng hờ nổi lên ầm ĩ, như sao lạnh nhấp nháy trên bầu trời. Âm ĩ thì ầm ĩ, nhưng vì tiếng khóc tiếng hờ đơn điệu yếu ớt, càng tỏ ra yên tĩnh cô quạnh xa vời. Những người thu dọn xoong nồi bát trong sân đang chuẩn bị cơm và thức ăn cho đám tang ngày mai. Bởi vì trời lạnh như cắt da xé thịt. Trên thót thịt, người đầu bếp dùng hai dao băm thịt băm xương, vừa băm ông vừa nói, ta lạnh ngươi, ngươi lạnh ta, có lạnh đến mấy đi chăng nữa, ta cũng băm ông trời dưới lưỡi dao của ta.
Nói liền một hơi, băm tới tấp một chặp, ông đã ra mồ hôi, đã ấm lên, dao băm trên thớt cũng cất lên đều đều có nhịp điệu.
Ông trưởng thôn không ăn đào hạt nướng. Ông luôn luôn ngồi bên bếp lửa bóc lạc ăn. Vỏ lạc bóc trên nền nhà đã chôn ngập một đầu ngón chân ông. Mép ông bám những chấm dầu lạc mầu trắng như sữa. Khi lạc đã ăn đủ, người khác cũng đã nói hết chuyện, ông trưởng thôn chùi mép, hất đống vỏ lạc trước chân. Ngồi tại chỗ, ông trưởng thôn khẽ giậm chân hất vỏ lạc nói, giáo sư Dương chôn theo người sống là việc lớn tày trời ở dãy núi Bả lâu, xét cho cùng thì người còn đang sống, chỉ dùng quần áo chôn xuống đất theo người chết, nói gì thì nói cũng không tốt lành đối với người sống. Nhưng các anh ở ngoài, sống ở kinh thành, xóa bỏ mê tín, coi trọng khoa học, điều này dễ hiểu, huống hồ Linh Trân chết là vì anh, chết đến mức trời đất phải xúc động. Ông trưởng thôn vừa khuyên tôi, vừa lấy chân vun vỏ lạc vãi tóe loe vào một đống như một ngôi mộ, nói tóm lại như tổng kết, đời một người được một người đàn bà yêu si mê như vậy cũng xứng đáng.
Ông nhắc lại, thật xứng đáng!
Ông hỏi tôi, giáo sư Dương, anh có đồng ý không? Đồng ý anh sẽ gật đầu, không đồng ý ông chủ tịch xã cũng thông cảm. Ai nấy dồn cả ánh mắt lên mặt tôi, người nào cũng tha thiết chờ tôi gật đầu.
Tôi không hề do dự gật đầu (có một chút do dự) nói đồng ý, bỏ chiếc mũ của mình vào trong quan tài Linh Trân. - Đồng ý, bỏ quần áo của tôi vào trong quan tài của cô ấy.
– Đồng ý, bỏ cả giày tất của tôi vào trong quan tài của cô ấy.
Đồng ý bỏ cả sách tôi viết và sách tôi đọc vào trong quan tài của cô ấy.
Chỉ cần quan tài của Linh Trân bỏ được, cần thứ gì tôi đều đồng ý bỏ chúng vào quan tài. Tôi nói, nếu không ngại tôi chết đi, vợ hiện nay của tôi Như Bình không chịu nổi, cô ấy sẽ khóc đến mức chết đi sống lại, ngại bởi vì tôi chết đi cô ấy cảm thấy sống không có ý nghĩa, thì tôi cũng đồng ý bỏ mạng của mình vào trong quan tài của Linh Trân để bà con khiêng tôi và Linh Trân cùng chôn vào mộ của cô ấy. Tôi nói, nếu không ngại thầy trò và việc giảng dạy của Trường đại học Thanh Yên sẽ tách khỏi tôi, thì tôi thật sự đồng ý để dân làng chôn tôi và Linh Trân với nhau, để tôi và Linh Trân sống không được cùng nhà, chết sẽ được cùng huyệt.
Trong nhà trở nên yên tĩnh, yên tĩnh như không có người. Tôi nói, còn việc đi học của Tiểu Mẫn, năm nay mười bảy tuổi, cháu sắp thi đại học, chỉ cần cháu chịu học, muốn đi học, tôi phụ đạo là thành tích của cháu cũng sẽ lên. Thi đại học dù có thiếu một hai, dăm ba điểm, tôi nói với nhà trường một tiếng, nhà trường không thể không nể mặt tôi, không thể không đặc biệt chiêu thêm một sinh viên.
Tiểu Mẫn, tôi hỏi cháu có đồng ý lên kinh thành học không?
Cháu có muốn theo chú học khoa Văn, sau này nghiên cứu "Kinh thi" như chú không?
– Cháu có muốn trở thành giáo sư, chuyên gia như chú không?
Trong lúc tôi hỏi, có tiếng nổ lép bép của than gỗ trong chậu lửa, giống như tiếng đá cát mịn từ vách đứng rơi xuống. Tôi hỏi và ngẩng lên nhìn mọi người, thấy trong ánh mắt của ông chủ tịch xã, ông trưởng thôn và chú Tư đều ánh lên vẻ vui mừng. Cuối cùng tôi nhìn vào Tiểu Mẫn, như trưng cầu ý kiến của cháu (y như vừa rồi mọi người đều nhìn tôi).
Tiểu Mẫn ngồi quay lưng vào cửa ngôi nhà, khăn tang và áo tang trên người, trong ảnh lửa mang màu trắng hồng thẫm, hình như đằng sau có mây của nắng trời.
Nghe lời tôi, ánh mắt xúc động của cô bé long lanh và mềm mại như nước. Hai bàn tay của cô bé vừa giờ còn giơ vào lửa bếp than bị hơ nóng sáng thấu, như có ánh lửa trong ngón tay, thì bây giờ cô bé rụt hai bàn tay nhỏ nhắn đáng yêu vào ống tay áo, cúi đầu, mím môi dưới, suy nghĩ một lát, không nói gì, chợt lại ngẩng lên nhìn tôi, bỗng quỳ xuống trước mặt tôi.
Quỳ sụp trước tôi, mặt đỏ ửng, mắt rơm rớm, Tiểu Mẫn nói, thưa giáo sư Dương Khoa, thưa chú Dương Khoa, chú coi cháu là con gái chú ư, chú có thể coi cháu là con gái chú, thế thì mẹ cháu qua đời cũng đáng, cũng có thể nhắm mắt dưới suối vàng.
Trong yên tĩnh, mọi người đều nhìn Tiểu Mẫn quỳ trên đất im lặng, lại nhìn tôi chờ tôi nói một câu, nhưng khi tôi sắp nói ra, đã trông thấy có người từ sân đi vào nhà, đứng ở cửa, cởi chiếc tạp dề, phủi hoa tuyết trên người nói, bên ngoài lại mưa tuyết, trong nhà này ấm áp như chui vào trong quan tài.
Nghe giọng nói tôi ngẩng đầu lên, quả nhiên đã trông thấy ngoài trời tuyết đang bay lả tả.
Mưa tuyết kéo dài suốt một đêm. Cả thế gian mênh mông trắng xoá.
Sáng hôm sau đưa tang Linh Trân.
Từ sáng sớm bà con trong thôn đã vội vàng ra khỏi nhà. Để lời nói của Linh Trân quyên tặng nhà cuối cùng thành sự thật, ông chủ tịch xã đã đích thân làm thầy địa lí an táng Linh Trân. Ngay trong đêm, theo tuần tự từ trong ra ngoài ông xếp lên bên trái Linh Trân (nam trái nữ phải mà) áo lót, quần lót, mũ, khăn quàng, áo nhung, quần nỉ xám của tôi. Đôi giày da và đôi tất của tôi ông để ở mũi chân Linh Trân trong quan tài, lại còn lấy trên bàn nhà tôi mấy quyển sách (trong đó có một quyển "Kinh thi") cũng để ở đầu quan tài, (ở đó vẫn không có cái hộp gỗ hồng Tiểu Hạnh đã bưng cho tôi xem). Vậy là đã chôn cả tôi lẫn Linh Trân trong sự yên tĩnh.
Mưa tuyết tầm tã. Từ trên trời, tuyết xoáy tròn thong thả rơi xuống. Mọi cành cây trong thôn đều phủ từng lớp từng lớp trắng xóa. Những cành hòe bị tuyết lớn đè gãy treo lơ lửng ở đầu thôn, làm cho xung quanh lều bạt đặt quan tài thoang thoảng mùi nhựa hòe trong trắng ngọc ngà. Mọi người đều bận rộn đưa đám, đều xúm quanh quan tài, xem ông chủ tịch xã xếp từng thứ quần áo của tôi bên cạnh Linh Trân.
Khi xếp mũ của tôi, bà con bảo, đây là giáo sư Dương, thay người khác sẽ không ai đồng ý.
Khi xếp khăn quàng của tôi, dân làng nói, Linh Trân chắc sẽ hạnh phúc lắm, xét đến cùng chị ấy đã được chôn cùng người mình yêu suốt đời.
Khi xếp áo bông nhung của tôi, dân làng bảo, chiếc áo còn mới, tiếc thật, tại sao không xếp chiếc áo cũ?
Chiếc quan tài nam nữ chôn chung đã nhét đầy quần áo, để Linh Trân và tôi (quần áo) kề bên nhau nằm trong quan tài xong, thì trời đã sáng hẳn (ngày mưa tuyết lớn, bầu trời trái lại sáng rất sớm), dãy núi, thôn bản đều yên tĩnh và cứng đờ trong màu trắng. Tuyết vẫn rơi không ngớt, lạnh đến nỗi hơi nóng vừa thở ra đã đóng thành băng ở giữa chừng, lại vỡ thành hạt băng theo hoa tuyết rơi trên bãi tuyết. Ban nhạc tang phải thổi liên tục trên bãi tuyết, họ phải đốt một đống lửa lớn ngoài trời. Họ xúm quanh đống lửa thổi dồn dập, say sưa, sôi nổi hừng hực, ai nấy toát mồ hôi trán, bốc thành hơi nước bay thẳng lên như ống khói (bốc lên không cao lắm). Từ trán mồ hôi chảy xuống má lại lã chã rỏ lên áo bông của họ, sau đó bị lạnh đột ngột, bỗng đóng thành những cục băng mỗi lúc một dày trên quần áo (cũng không dày lắm).
Đứng trên một chiếc ghế cao đặt trước đầu quan tài, ông chủ tịch xã nói to, bây giờ xin đến lượt áo mũ của giáo sư Dương Khoa Trường đại học Thanh Yên nhập quan. Việc tang chuyển sang việc cưới. Ban nhạc thổi nhạc vui. Trong tiếng pháo nổ giòn giã, ban nhạc bắt đầu thổi bài Bách điểu trào phượng thường hay thổi trong đám cưới.
Ông chủ tịch xã nói cảm ơn giáo sư Dương Khoa tài cao học rộng, thấu tình đạt lí, đồng ý bỏ quần áo của mình vào trong quan tài của Linh Trân, xin mời con cháu chịu tang đi ra khỏi lều bạt đặt linh sàng chào cảm ơn.
Chú Tư đi đầu khoác tay Tiểu Mẫn khóc đến mức chết đi sống lại, dẫn đám con cháu chịu tang xếp hàng dài đi vòng đến phía sau lều bạt quỳ lạy ba cái theo hướng ngôi nhà cũ gia đình họ Dương tôi ở.
Ông chủ tịch xã nói, việc tang chuyển sang việc cưới, cảm ơn vợ giáo sư Dương Khoa thấu tình đạt lí, đồng ý giúp Linh Trân và Dương Khoa thực hiện cuộc ái ân say đắm, con cháu chịu tang lên chỗ cao quỳ lạy cảm ơn.
Chú Tư dẫn đám con cháu chịu tang (ban nhạc tang đi theo sau) lên sườn núi quỳ theo hướng kinh thành cúi đầu lạy ba cái.
Ông chủ tịch xã nói, Linh Trân tốt lành, Dương Khoa tốt lành, con cháu chịu tang đến trước quan tài chào lạy vợ chồng họ.
Đám con cháu chịu tang đội mưa tuyết từ sườn núi chầm chậm đi xuống, quỳ trước quan tài lại cúi đầu chào ba lần và chắp tay lạy ba cái.
Dưới sự chỉ huy của ông chủ tịch xã, tất cả đều quỳ lạy và tiến hành nghi thức mộ áo mũ theo phong tục địa phương, sau đó đậy nắp quan tài, thắp hương và làm lễ tang theo đẳng cấp trước khi đưa tang. Tiếng kèn trống réo rắt du dương, tiếng hờ tiếng khóc đau thương ai oán, tiếng nói chuyện ồn ào, tiếng mưa tuyết âm thầm lặng lẽ, đến lúc bầu trời trong sáng có màu vàng (khoảng 9 giờ sáng), xong nghi thức, mọi công việc đưa tang đã sẵn sàng đâu vào đấy.
Ông chủ tịch xã nói to, đời người trăm tuổi ai chả chết, chỉ để tên tuổi anh hùng soi sử sách, Linh Trân sống bình thường chết vĩ đại, từ nhỏ cô chăn trâu cắt cỏ và đi học, đã đính hôn với giáo sư Dương Khoa của dãy núi Bả Lâu chúng ta, người đã tốt nghiệp đại học, dạy sinh viên, kèm cặp thạc sĩ tiến sĩ ở kinh thành nhưng không có duyên nên không nên vợ nên chồng, chị đã lấy chồng ở thôn Chùa trước là Tôn Lâm, sinh được một con gái là Tôn Tiểu Mẫn. Chị thương chồng dạy con, cần kiệm xây dựng gia đình, trong thôn chị lo toan bếp núc chăm chỉ cấy cày, giặt giũ quần áo cho chồng, trên thì kính hiếu bố mẹ, dưới thì dạy bảo con cái, làm người vợ hiền mẹ tốt, đạo đức mẫu mực, đối xử với bố mẹ Dương Khoa còn tốt hơn đối với bố mẹ mình, lòng trung thành với chồng Tôn Lâm dân làng ai ai cũng biết. Sau khi Tôn Lâm qua đời, nợ chồng vợ trả, chị vay vốn ra thành phố bán rau, làm hủ tiếu, gói bánh chẻo, buôn bánh nướng, cuối cùng đã giành thắng lợi ở thành phố, trở thành nhà doanh nghiệp có tên tuổi của dãy núi Bả Lâu chúng ta. Trước khi qua đời lại dặn con gái Tiểu Mẫn, kiên quyết quyên góp cho chính quyền xã toàn bộ khách sạn Bả Lâu và một ngôi nhà ở huyện lị. Quyên góp cho chính quyền làm gì? Đó là để chứng tỏ tấm lòng chí công vô tư sáng ngời của chị. Để cảm ơn lòng chân tình của Linh Trân, tôi chủ tịch xã hôm nay đích thân đến đây làm thầy âm dương, sẽ thân chinh đưa Linh Trân ra mộ, sẽ thân chinh tổng kết cuộc đời của Linh Trân cho bà con nghe. Tóm lại cuộc đời Linh Trân có thể nói sống không hổ thẹn chết không thông tục. Chính vì điều này, giáo sư Dương Khoa mới đồng ý khi bước sang tuổi trung niên đã cởi quần áo lót, khăn mũ, giày tất và quần áo dài trên người cho vào trong quan tài của Linh Trân, mới đồng ý cùng Linh Trân sống không được cùng nhà, chết sẽ cùng huyệt. Vì vậy mới có quan tài áo mũ bà con đều chứng kiến hôm nay, mới có ngôi mộ áo mũ ở trong lòng dãy Bả Lâu khiến dân làng sau này nhớ mãi không quên, mới làm cho dãy núi Bả Lâu chúng ta mấy chục năm sau và mãi mãi lưu truyền một câu chuyện tình yêu cảm động trời đất trên dãy núi này.
Ông chủ tịch xã vừa nói vừa kêu gọi, vừa kêu gọi lại vừa như diễn thuyết. Khi ông đứng trên một chiếc ghế trước quan tài diễn thuyết như vậy, con cháu chịu tang và ban nhạc tang đều đứng trên bãi tuyết bên ngoài lều bạt đặt quan tài, ánh mắt chăm chú nhìn vào mặt ông, người ông và tư thế tay của ông. Trong đám đông, ngoài tiếng bay của mưa tuyết, không có tiếng gì khác (khi tôi giảng bài ở nhà trường, lớp học chưa bao giờ yên tĩnh như thế này), hình như một khi bà con hơi động đậy sẽ rơi mất một từ một câu trong diễn thuyết của ông. Nhưng trong sự chăm chú khi nóng khi lạnh này, bỗng nhiên có tiếng nhốn nháo không yên trong lều bạt đặt quan tài.
Một việc ngạc nhiên và sửng sốt đã xảy ra.
Trong lều quan tài đang nhốn nháo, cỗ quan tài kê trên ghế ngay ngắn, những sợi đay và đòn khiêng buộc chung quanh quan tài cũng rủ lung tung hoặc dựng đứng. Tất cả mọi người đều đang nghe ông chủ tịch xã diễn thuyết và chỉ huy ở bên ngoài, chỉ có những người khiêng đòn ở trong lều đang chờ ông chủ tịch xã diễn thuyết xong là chuẩn bị khiêng quan tài đi ra ngoài. Giữa lúc này có một chàng trai đang hút thuốc ở cuối quan tài đột nhiên chỉ vào quan tài nói to: Nhìn kìa, nhìn kìa, bà con mau mau nhìn kìa.
Có tiếng gọi giật giọng, ông chủ tịch xã, ông mau mau lại mà xem.
Có vẻ cau có, ông chủ tịch xã ngoái cổ nhìn chàng trai. Chàng trai nói, thưa ông Trương chủ tịch xã, thật mà mời ông mau mau lại đây xem.
Ông chủ tịch xã và mọi người ở trong lều đều đã chứng kiến cảnh tượng ấy.
Ai nấy sửng sốt, sợ hãi, nét mặt vàng như sáp. Đầu tiên có mấy con bướm đột nhiên đậu trên quan tài của Linh Trân, hai cánh cứ vỗ vỗ như vẫy gọi. Khi chàng trai trông thấy bướm gọi ông chủ tịch xã đến trước lều bạt đặt quan tài, thì không phải chỉ có mấy con bướm mà là mấy chục con, hàng trăm con, con nào cũng to như chiếc lá ngân hạnh, trên cánh vàng óng, có hoa tươi ánh lên màu hồng. Có một số con bướm từ khe hở của lều bạt chui vào, từ cửa vào của lều bạt bay đến đỗ trên nắp quan tài, đỗ ở bên phải bên trái quan tài, đỗ trên hai ghế băng kê quan tài. Khi không còn chỗ nào đỗ, thì đỗ trên khung gỗ và vải bạt xung quanh quan tài, trông cứ vàng rực đỏ rực khiến cho chiếc quan tài màu đen trông như một tấm vải dầu nền đen in hoa. Bởi vì chiếc quan tài màu đen, trên thân bướm lại vàng kim trắng bạc trông càng rõ nét và sáng láng. Bởi vì tuyết trắng và áo tang trắng, trên thân bướm các hình vẽ xanh đỏ càng thêm tươi sáng và óng ả, tươi sáng và óng ả như giữa màn đêm tối om đột nhiên có một luồng ánh sáng lớn. Đàn bướm con nọ sát con kia vỗ cánh bay chấp chới trên quan tài, khiến cho chiếc quan tài đen như nở đầy hoa lãng mạn. Chiếc quan tài đen đã được sơn thành chiếc quan tài màu sắc sặc sỡ.
Ông chủ tịch xã bước vào cửa lều bạt, đứng ở phía bên trái quan tài. Nét mặt ông hớn hở, vừa vui mừng ông vừa quay người bám khe hở vải bạt nhìn ra ngoài, thấy thế giới bên ngoài vẫn một màu trắng mênh mông tuyết bay lả tả, gió lạnh trời tuyết thổi vào khe vải bạt, như cắt như khía vào mặt ông, làm cho bàn tay ông bám khe vải bạt lập tức lạnh tím tái, nét mặt ông có phần vàng xỉn. Khép kín khe vải bạt, quay về cạnh quan tài ông nhìn đàn bướm trên quan tài mỗi lúc một nhiều, những con bướm không có chỗ đậu bay nhảy trên đầu người và trong khoảng không trên quan tài. Khi chiếc lều quan tài trở thành thế giới của loài bướm, trở thành một cái lồng khổng lồ của loài bướm thì trong lều quan tài đã chất đầy mùi thơm phấn hoa bướm và tiếng vỗ sè sè của cánh bướm, như một trận mưa bụi ngày xuân đang rơi đang cuốn trong lều bạt. Đám con cháu chịu tang và tất cả bà con trong thôn giúp đám tang ở bên ngoài, có đến một nửa đã kéo vào trong lều bạt, xúm xít lại bên quan tài xem đàn bướm. Ai không nhìn thấy chen vào, những người nhìn thấy lại không muốn lui ra. Bỗng chốc trong lều bạt chật cứng, không lọt một giọt nước, không cắm nổi cái kim, vô cùng náo nhiệt, y như vở kịch đã diễn đến cao trào, ai cũng lớn tiếng kêu ngạc nhiên và xôn xao bàn tán.
Ôi, đang mùa đông, bướm ở đâu ra thế nhỉ!
Trời, bà con nhìn kìa, đàn bướm trên quan tài đẹp như bức tranh!
Biết không, mọi người có biết không? Đây là vì Linh Trân và giáo sư Dương là một đôi trời sinh, sống không cùng nhà, chết được cùng huyệt, mới có bướm bay đầy trời như thế này.
Ông trưởng thôn từ bên ngoài chen đám đông lách vào.. Đứng trước quan tài, ông nói với ông chủ tịch xã, đại hỷ rồi, thưa ông chủ tịch xã, điều mừng lớn ông trời se duyên.
Từ phía sau đám đông chú Tư đi vào, nhìn một lát rồi bảo mọi người, đi gọi Dương Khoa đến xem, mau lên, đi gọi Dương Khoa đến xem, để anh ấy chứng kiến anh ấy và Linh Trân là một đôi tuyệt vời biết chừng nào.
Có người lách đám đông đi tìm tôi, còn rối rít gọi oang oang, chú Dương Khoa, chú Dương Khoa, giáo sư Dương Khoa, giáo sư Dương Khoa. Cử gọi, gọi mãi. Nét mặt ông chủ tịch xã vừa giờ vàng xỉn cũng đã nhạt đi và trở nên hoan hỉ. Ông tìm thấy tôi trong đám đông, lại chen ra khỏi đám đông ra ngoài lều bạt nhìn trời, thấy hoa tuyết tuy vẫn bay, nhưng trên bầu trời sườn núi, hình như có một đám vàng màu nắng, biết thời gian đưa đám không thể kéo dài, phải khiêng Linh Trân và tôi lên đường đúng giờ, ông liền nói với ông trưởng thôn ở đằng sau, đưa đám được rồi nhỉ?
Ông trưởng thôn nói, mừng lớn đấy, mừng lớn ngàn năm không gặp đấy.
Ông chủ tịch xã hỏi, đưa đám được rồi nhỉ?
Ông trưởng thôn nói, trước kia chỉ nghe các cụ nói mừng hôn phối âm dương, hôm nay mới thật sự chứng kiến niềm vui hôn phối âm dương.
Ông chủ tịch xã nói, đưa tang được rồi nhỉ?
Ông trưởng thôn nhìn trời nói đưa được rồi.
Ông chủ tịch xã lại quay về chiếc ghế ngoài lều bạt ông vừa đứng, cất to giọng nói, ngày xưa có câu truyện Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài biến thành bướm truyền thiên hạ, nay có Linh Trân và Dương Khoa của dãy núi Bả Lâu chúng ta lại có câu chuyện hóa bướm truyền thiên hạ. Sống không cùng nhà, nhưng chết cùng huyệt, ân ái vợ chồng có bướm làm chứng. Tại sao giữa ngày đông lạnh giá tháng chạp mưa tuyết lớn bướm bay đến đậu trên quan tài, bay rợp trong lều quan tài như một thế giới của núi của biển?
Đó chính là vì mối tình của Linh Trân và giáo sư Dương Khoa đã cảm động trời đất, làm kinh động trời xanh, ông trời mới sai đàn bướm bay đến lều quan tài trong ngày mưa tuyết lớn để báo hỉ chúc mừng đậu kín quan tài.
Thế nào là duyên phận trời se? Đây chính là duyên phận trời se.
Thế nào là yêu nhau sống chết? Đây chính là yêu nhau sống chết.
Thế nào là Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài hóa bướm? Đây chính là Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài hóa bướm.
Thế nào là sống không được cùng nhà, nhưng chết cùng huyệt? Đây chính là sống không được cùng nhà, nhưng chết cùng huyệt.
Cảm động đất trời, ôi, cảm động đất trời.
Ôi, cảm động đất trời, thật là cảm động đất trời!
Thiên hạ không có bữa cỗ nào không kết thúc. Thiên hạ không có âm dương nào không chia li. Mối tình của giáo sư Dương và Linh Trân mặc dù kinh thiên động địa và quỷ thần than khóc biết bao nhiêu, chúng ta cũng phải chôn họ xuống đất, để họ yên nghỉ trong đất, vĩnh viễn không chia li. Bây giờ đã gần mười giờ sáng, nếu trời nắng mặt trời nhất định đã treo trên đỉnh đầu. Đã đến giờ đưa tang, nếu cứ kéo dài sẽ lỡ giờ hoàng đạo.
– Bây giờ tất cả đều phải nghe tôi.
– Tôi là chủ tịch xã ai cũng phải nghe tôi.
– Con cháu chịu tang ai vào chỗ người nấy, người xem đưa tang ai về chỗ người đó, người khiêng quan tài ai vào vị trí người đó, các thợ kèn ai vào chỗ người đó, chuẩn bị thổi kèn đưa tang.
Tôi và Linh Trân liền được khiêng đi. Tiểu Mẫn bê ảnh tôi và mẹ cháu đi trước, các tay đòn khiêng quan tài bướm đi sau Tiểu Mẫn. Phía sau quan tài là ban nhạc đưa tang với bài "Đại đám tang" vang thấu bầu trời, sau nữa là dòng người con cháu chịu tang và bà con dân làng xem đưa tang. Dòng người đưa tang rầm rộ nhộn nhịp, tuy rời rạc nhưng có trật tự. Đàn bướm bay theo quan tài và dòng người đưa tang cũng nhấp nha nhấp nhô, rầm rộ nhộn nhịp, giống như lông vũ màu sắc và giấy vàng phiến bạc mỏng sáng trong suốt nhào lộn trên bầu trời. Sau khi dòng người đưa tang đi qua, trên trời, dưới đất, trên núi dưới núi, đâu đâu cũng để lại tiếng bay vè vè của những con bướm.