Phong Nhã Tụng

Lượt đọc: 2390 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN THỨ TƯ

Bệnh viện chuyên khoa phụ thuộc bệnh viện tâm thần chính bắc của kinh thành, cách thành phố ít nhất năm mươi kilômét, nằm trên một cánh đồng hoang dưới sườn núi, giống như một trại giam dã ngoại ở vùng ngoại ô hoang vu. Bởi vì bệnh nhân đều là bệnh tâm thần, sợ gây chuyện rắc rối nên đã xây một bức tường vây rất cao trên cánh đồng vắng vẻ. Trên tường còn chăng lưới dây thép gai. Tường vây xây toàn gạch đỏ. Trên tường gạch đỏ viết khẩu hiệu và biểu ngữ thống nhất: Cho tôi một sự lẫn cẫn, trả bạn một sự tỉnh táo và: Thầy thuốc trị bệnh, cứu người chết, đỡ người đau. Anh bảo vệ canh gác cổng trẻ khỏe. Trong cổng hoa lá mượt mà xanh tươi thơm ngát. Sau khoảnh cây hoa, dãy trước của bệnh viện là một ngôi nhà gác khám bệnh sáu tầng hiện đại hóa. Dãy sau là khu điều trị và buồng bệnh gồm ba loại bệnh nhân khu A, khu B và khu C. Trên bãi trống còn lại đều là cây bách tán, cây xanh mùa đông, bồn hoa và bãi cỏ. Toàn bộ bệnh viện cũng như vườn hoa, chim hót hoa thơm khiến người ta tê liệt và trái tim băng giá. Mặc dù trước kia bạn là người như thế nào, chỉ cần đi vào vườn hoa rộng hàng mẫu này và đi qua cổng gác bạn sẽ là người bệnh tâm thần, phải tiếp nhận để người ta khám bệnh và chữa bệnh. Mà khám bệnh bắt đầu ngay từ khi bạn bước vào cổng, chứ không phải bắt đầu từ ghi tên, vào khám, ngồi trước mặt bác sĩ hỏi thế này thế kia.

Tôi đến bệnh viện lúc mười một giờ sáng. Ánh nắng ở ngoại ô tươi rói. Nắng tháng sáu phơi trên làn da, có một thứ hơi mát sảng khoái màu xanh men theo các lỗ chân lông ngấm vào mạch máu. Trong thành phố chẳng bao giờ có thứ gió xanh mát mang theo mùi thơm lúa mạch đang thời kỳ chín mẩy, bay xả tùy thích trên cánh đồng. Mở cửa sổ xe cứu hộ ra, nhìn cánh đồng rộng bao la bát ngát, nói chuyện với các bác sĩ nhà trường đưa tiễn mình. Vừa đi vừa nói, chẳng mấy chốc đã đến bệnh viện.

Ở cổng đã có một bác sĩ nam và một nữ y tá chờ sẵn theo thời gian và địa điểm. Khi xe cứu hộ của nhà trường đỗ ở cổng, họ đi ra bắt tay bác sĩ khám bệnh của nhà trường, làm thủ tục bàn giao và ký tên. Tôi giống như một thứ đồ được phía nhà trường giao cho bệnh viện tâm thần. Tiếp theo là một nam bác sĩ trung niên và một nữ y tá trẻ của bệnh viện tâm thần, hai người đưa mắt cho nhau, rồi đều nhìn vào mặt tôi, liếc tôi một cái có vẻ hoài nghi, rồi xách hành lí của tôi, dẫn tôi đi vào trong bệnh viện. Khi xuyên qua bãi đất trống mấy chục mét trước nhà gác khám bệnh của bệnh viện, tôi nói tôi đến đây điều dưỡng. Hai người đều cười với tôi.

Tôi nói, tôi không có bệnh gì hết.

Hai người lại cười với tôi.

Tôi nói, tôi là giáo sư Trường đại học Thanh Yên. Tôi là một chuyên gia, một vị giáo sư. Nhà trường không giới thiệu tôi với anh chị sao?

Họ gật đầu với tôi, lại nhìn nhau mím môi cười, đã đến cửa sảnh lớn khám bệnh. Trong sảnh lớn to rộng vắng vẻ, chỉ có một y tá đẩy xe thuốc đi qua sảnh lớn. Cô mặc áo choàng trắng, dưới màu tường trắng xóa chung quanh sảnh, trông như một bóng ma màu trắng đang thong thả bay trong sảnh lớn. Sau đó cũng đã đến cạnh cầu thang điện. Khi cô y tá bấm nút mở cầu thang điện, anh bác sĩ dáng người cao to đột nhiên giơ tay ngăn cô lại, nhìn tôi mấy giây, giọng hoài nghi hỏi tôi:

– Anh không có bệnh thật chứ?

Tôi gật đầu, nói chỗ anh chị ở đây sạch sẽ lắm.

Anh bác sĩ chỉ vào nút bấm hình tam giác cầu thang đi lên hỏi, bấm nút này thang điện đi lên hay đi xuống? Tôi đáp, lên.

Anh lại móc túi lấy ra hình tam giác màu đỏ in trên hai tấm nhựa giống y hệt nút cầu thang điện, dán vào bên trái một cái, dán vào bên phải một cái của nút cầu thang điện đi lên và cầu thang điện đi xuống, làm cho hai hình tam giác đều, mỗi cái có một góc chỉ sang trái và một góc chỉ sang phải. Sau đó chỉ vào hình tam giác hướng trái nói, bấm nút hướng lên, cầu thang đi lên, bấm nút hướng xuống, cầu thang đi xuống, vậy bây giờ chúng ta bấm nút chỉ hướng bên trái này, cầu thang điện đi đâu?

Tôi đáp, trái.

Anh chỉ nút hướng phải, thế bấm cái này?

Tôi đáp, phải.

Anh liền bóc bỏ hai hình tam giác chỉ hướng trái phải, nhìn mấy bác sĩ và y tá, dẫn tôi vào cầu thang điện, đưa vào một phòng chuyên gia ngồi khám ở gác 4, rồi lại đưa về ở trong khu bệnh nhân A.

Khu A là khu buồng bệnh cao cấp của bệnh viện tâm thần. Buồng bệnh ở gác trên gác dưới đều như khách sạn, có giường, có ghế, có tivi, có gian vệ sinh. Cần thứ gì bấm vào nút màu đỏ ở đầu giường, y tá sẽ có mặt ngay tức thì. Còn có bình nóng lạnh, bô đại tiểu tiện và rèm cửa sổ màu xanh nước biển, có cả vỉ ruồi và máy hun muỗi, còn có cả sáng trắng, gió xanh, không khí đen và một chiếc ghế màu vàng. Bác sĩ phụ trách tôi nói anh họ Trương, chính là người bác sĩ dáng cao to đón tôi vào viện ở cổng. Y tá phụ trách tôi, tôi nghĩ nên để cô ấy mang họ Triệu, bởi vì vợ tôi Như Bình họ Triệu, tôi để cô ấy mang họ Triệu trong tim mình. Tôi ở buồng số 6, mỗi lần bác sĩ, y tá khám bệnh đưa thuốc cho tôi đều nói với tôi một câu giống nhau, không có việc gì cứ ở trong buồng mình chờ đợi, không được đi lại, không sang chơi buồng bên cạnh.

Tôi cứ ở lì trong buồng mình chờ đợi không đi đâu. Tôi ở liền một lèo tám mươi ngày (ôi, một cơ hội hiếm có).

Gần ba tháng, chân không bước khỏi nhà, nói vài đội câu, ngoài buổi chiều hàng ngày tham gia hoạt động đi bộ của các bệnh nhân trong bệnh viện phải tham gia, thời gian còn lại tôi đều ở trong nhà xem tivi, đọc báo, cân nhắc từng câu từng chữ trong một số đoạn của "Phong nhã chi tụng", hoặc nhẩm đọc thuộc lòng 305 bài thơ trong "Kinh thi". Trong thời gian đằng đẵng mà ngắn ngủi này, tôi sống đầy đủ mà yên tĩnh, cảm thấy một cách bất ngờ ở bệnh viện tâm thần mà giống như về nhà mình. Mãi cho đến một hôm của hạ tuần tháng tám, cô y tá thông báo tôi đến văn phòng của bác sĩ, tôi mới hoảng hốt nhớ ra mình đã ở bệnh viện tâm thần tám mươi ngày. Nhập viện đầu mùa hạ ở cho đến giữa mùa hè. Tôi không biết thay đổi mùa, không biết đã xảy ra chuyện gì, cũng không biết trong bệnh viện có ai ra viện, ai vào viện.

Mùa đã thay đổi, tình hình của tôi cũng khác.

Tôi không chỉ thuộc 160 bài thơ trong "Phong", mà còn thuộc lòng gần hết 150 bài thơ trong "Nhã". Nhưng hôm nay, khi tôi định học thuộc lòng bài "dân lao" (một bài thơ lên án chính sự triều đình bạo ngược) trong "Đại nhã", thì cô y tá đến thông báo Như Bình đến bệnh viện thăm tôi, У bảo tôi đến phòng trực ban của bệnh viện. Tôi thừ người ra, hình như lâu lắm tôi đã quên Như Bình là vợ mình, quên ba chữ Triệu Như Bình nên viết như thế nào, quên bóng dáng cô ấy, ăn diện như thế nào, đành phải im lặng nghĩ hồi lâu, mới nghĩ ra tên cô ấy, dáng cô ấy, mới từ buồng bệnh đi đến phòng trực ban.

Đây là lần thứ ba Như Bình đến thăm tôi. Cô ấy tận chức tận trách, khoảng mỗi tháng một lần đến thăm tôi cho qua chuyện, chính xác đến mức như kinh nguyệt hàng tháng của cô ấy. Lần đầu tiên đến thăm tôi, cô ấy để vào buồng bệnh của tôi bản thảo cuốn "Phong nhã chi tụng" và sách tôi cần, đi quanh quẩn nhìn chỗ này xem chỗ kia trong buồng bệnh. Lần thứ hai đến thăm tôi, cô ấy không thèm bước vào buồng bệnh của tôi, chỉ đứng ở cửa.

Nhưng lần thứ ba này, ngay đến cửa buồng bệnh của tôi cô ấy cũng không bước đến, mà đến thẳng phòng trực ban, trước sau chỉ gặp tôi có ba phút.

Trên đời này, chỉ cần tôi không nói, trong ba phút ấy Như Bình nói gì với tôi. Không ai biết sau khi cô ấy đi, tại sao tôi lại trở nên bẳn gắt và không yên, tôi đã đập vỡ bát khi ăn cơm, đập vỡ cốc khi uống thuốc, vứt nhiệt kế ra ngoài cửa sổ khi đo nhiệt độ cơ thể. Tôi đã xé nát một quyển "Kinh thi toàn dịch" vứt từ trong nhà ra lối đi, quăng những thơ ca ấy vào cửa buồng bệnh số 5 và cửa buồng bệnh số 7 như con gái nhà trời rắc hoa, để những câu thơ ấy rơi chỗ này chỗ kia như muỗi, như ruồi, như chuột chết, sau đó đá lộn tùng phèo bồ đựng rác và bộ nhổ đờm ngoài hành lang, để cho đờm trắng nước vàng thấm đẫm vào từng câu thơ, sau đó cứ đứng ở cửa cười khanh khách từng trận, rồi lại ngẩng đầu lên lưng chừng trời, cất giọng hét ầm ĩ cho thấu trời thấu đất.

– Mẹ kiếp, ... mẹ mày Trường đại học Thanh Yên

– Mẹ kiếp, ... mẹ mày Trường đại học Thanh Yên!

– Mẹ kiếp, ... mẹ mày cây!

– Mẹ kiếp, ... mẹ mày gió!

– Mẹ kiếp, ... mẹ mày bão cát!

– Mẹ kiếp, ... mẹ mày kinh thành!

– Mẹ kiếp, ... mẹ mày trời!

– Mẹ kiếp, ... mẹ mày đất!

– Mẹ kiếp, mẹ mày nhà nước!

– Mẹ kiếp, ... mẹ chúng mày, bọn bác sĩ, y tá!

Tôi gào thét ầm ĩ, chạy nhảy lăng xăng. Toàn bộ bệnh nhân của khu A trong cơn mê sảng đều giật mình tỉnh giấc, không nấp ở chỗ nào đó xa xa nhìn tôi, thì khóa buồng mình lại lấy chăn bịt kín đầu. Giữa lúc này các bác sĩ y tá đều từ bốn phương tám hướng ùa đến. Các bác sĩ nam nhanh chân nhanh tay, các cô y tá sắc mặt xám ngoét, họ không cần giải thích gì hết, vài người lao vào dằn ngửa tôi ra đất, vặn hai cánh tay tôi ra đằng sau (đây là một trong những biện pháp điều trị bệnh nhân hữu hiệu nhất của họ), sau đó họ nhấc cổ áo sau gáy tôi, giờ lên lưng chừng như giơ chú gà con, nhìn về phía phòng khám.

Ông viện trưởng (lão già béo vục vịch hôm tôi vào viện ký tên để tôi ở khu A) từ đâu hối hả chạy đến, sắc mặt tái nhợt, nổi giận đùng đùng, chen vào đám đông đứng trước mặt tôi, hết nhìn tôi, lại nhìn bác sĩ trẻ và anh bảo vệ (lại là bảo vệ) vặn hai cánh tay tôi, khẽ hỏi sao vậy?

– Người điên, thưa ông.

– Bác sĩ trực ban đâu?

– Mẹ chết về thăm nhà thưa ông.

– Dẫn anh ta vào phòng làm việc của tôi.

Phòng làm việc của viện trưởng ở tầng cao nhất của nhà gác khám bệnh. Khi lên cầu thang điện, tôi nghĩ nhất định ông viện trưởng sẽ hỏi tôi, ấn nút đi lên của thang điện, cầu thang điện sẽ đi lên, ấn nút đi xuống, cầu thang điện sẽ đi xuống, vậy thì ấn mũi tên hình tam giác chỉ hướng bên trái, cầu thang điện đi đâu? Hoặc sẽ hỏi bấm nút điện chỉ hướng bên phải cầu thang sẽ đi đâu? Tôi đã biết trả lời câu hỏi ấy thế nào rồi. Tôi vừa đến cửa cầu thang, chỉ chờ ông viện trưởng hỏi mình, nhưng ông không hỏi, dẫn tôi vào trong cầu thang.

Không nói chuyện với tôi, nhưng ông viện trưởng dẫn tôi từ trong cầu thang vào phòng làm việc của mình.

Phòng làm việc của ông giống như phòng làm việc khác, cũng có bàn, có ghế, có điện thoại, có sô pha, có bàn uống trà, có không khí, có mặt trời lặn và mấy chậu hoa đặt ở góc tường. Điều khác duy nhất là còn có một máy chạy bộ để ở dưới cửa sổ. Dây cu roa trên máy chạy bộ không phải là dây cao su cách điện hoàn toàn, mà là một loại trong cao su có gắn các sợi dây đồng cứ cách một tấc có một sợi lộ ra ngoài cao su. Trước tay vịn của máy chạy bộ có một máy điều khiển đồng hồ đo. Trên máy điều khiển có nút xanh, nút đỏ và nút trắng. Nút đỏ là công tắc nguồn điện. Sau khi bật công tắc nguồn điện, bấm nút xanh, máy chạy bộ sẽ là máy rèn luyện thân thể thể dục bình thường. Nhưng nếu không bấm nút xanh, mà bấm nút trắng, máy rèn luyện thân thể này sẽ trở thành máy điều trị đặc hiệu bệnh thần kinh (máy điều trị này đã từng được tặng giải thưởng cao nhất về phát minh khoa học kỹ thuật điều trị y học quốc gia). Khi tôi vừa vào viện đã từng xem trộm các bác sĩ sử dụng máy điều trị đặc hiệu này ở khu C và khu B. Bệnh nhân nào mới đến ương bướng không nghe lời, bị lột hết giầy tất cho lên máy chạy bộ, nói là dùng máy chạy bộ để đo năng lượng cơ thể và tim mạch của bạn, nhưng chỉ cần bạn bước lên máy chạy bộ, bác sĩ vừa cười vừa bấm nút trắng một cái, bạn sẽ chạy bộ và toàn thân run rẩy trên máy chạy bộ một cách không tự chủ. Đi đôi với kim đồng hồ nguồn điện lắc lư và quay, dòng điện sẽ từ dây đồng trên cu roa truyền dẫn đến chân và người bạn, sau đó toàn thân bạn vón lại, run rẩy, đành phải chạy phải kêu trên máy điều trị, y như các huyệt trên toàn thân bạn đều bị châm kim bạc. Cùng với tốc độ chạy như bay và tiếng kêu thét lên của bạn, bác sĩ cứ ung dung uống trà, xem báo bên cạnh bạn, một lúc sau nhìn chữ số trên đồng hồ, nhìn sắc mặt, mồ hôi và tiếng kêu của bạn, quay xuôi hay quay ngược một nút trên đồng hồ, để tăng hoặc giảm dòng điện trên máy điều trị. Cứ thế điều trị bằng điện cho bạn trên máy chạy bộ mười lăm phút, hoặc ba mươi phút, bệnh nặng thì lên đến bốn mươi nhăm phút. Đến khi cổ bạn khản đặc, hai chân chạy run rẩy, mồ hôi vã ra như nước ướt hết dây cu roa, bạn cứ tưởng mình sắp sửa mềm nhũn lăn kềnh trên máy điều trị điện, bác sĩ mới thư thả xem xong một bài trên báo, mới uống hết một cốc nước, vừa vặn bước đến bấm công tắc nguồn điện, cỗ máy từ từ dừng lại, còn bạn nằm lăn trên dây cu roa như một đống bùn, sắc mặt xám ngoét, môi tím tái như vừa chết đi.

Bác sĩ hỏi, dễ chịu không?

Người bệnh đáp, thưa bác sĩ, từ nay về sau, em sẽ uống thuốc, tiêm thuốc đúng giờ được không?

Bác sĩ cười, sai y tá lôi bệnh nhân về buồng.

Tôi không ngờ phòng làm việc của ông viện trưởng có đặt chiếc máy điều trị bằng điện. Khi bị anh bảo vệ và bác sĩ vặn tay dong tôi đến phòng làm việc, lại vừa đẩy vừa kéo, họ lôi tôi đến trước máy điều trị điện, quay đầu nhìn ông viện trưởng, chỉ chờ ông gật đầu là đẩy tôi lên máy.

Tôi biết họ thấy tôi kêu hét trút xả nỗi bực bội, đập đồ đạc, nhất định sẽ nhận xét thần kinh tôi không những có vấn đề, mà bệnh trạng còn nặng hơn là đằng khác. Tôi đã động đến luật trời, kiếp nạn khó tránh, phải qua một trận tra khảo bằng điện là cái chắc. Biết rõ như thế, tôi vẫn mong ông viện trưởng có cách làm khác, không sai họ đẩy tôi lên máy điều trị điện. Vậy là trong lúc bác sĩ và anh bảo vệ nhìn ông viện trưởng, tôi đột nhiên quỳ sụp trước mặt ông "một cách đúng lúc" (tôi lại quỳ), van xin ông: Thưa ông viện trưởng, tôi là giáo sư, đừng quay điện cho tôi có được không?

– Thưa viện trưởng Vương, tôi đã quên sự phong nhã của nhà trí thức, từ nay về sau, tôi sẽ không bao giờ đập phá nữa thưa ông?

– Thưa viện trưởng Vương, những thứ đập vỡ tôi sẽ bồi thường cho bệnh viện theo giá cao thưa ông?

Viện trưởng Vương thấy tôi quỳ, nhìn nét mặt tôi đầy sợ hãi, bước ra đóng cửa, quay vào ngồi trên ghế nhìn tôi một lúc, trở nên giống như người bố đã mất sớm của tôi, ông thở dài một tiếng hỏi tôi: Nhà trí thức, anh có muốn ra viện về nhà đoàn tụ với vợ không?

Tôi nhìn mồm ông nói, giống như nhìn một trang sách đã mở.

– Nhà trí thức, ở Trường đại học Thanh Yên anh là giáo sư giảng văn học cổ điển phải không?

Tôi gật đầu.

Chủ yếu là giảng "Kinh thi", cũng đã từng viết một bộ sách chuyên đề "Phong nhã chi tụng" phải không?

Tôi lại gật đầu.

– Thế là tốt - Ông viện trưởng ngừng một lát, như nghĩ một hồi, kê cho tôi một đơn thuốc như thế nào, ông nói tiếp. Anh là một trí thức, một giáo sư đã giảng "Kinh thi", vậy ở bệnh viện này anh sẽ giảng tri thức "Kinh thi" cho những bệnh nhân có trình độ văn hóa. Cho dù anh cứ giảng đi giảng lại một bài thơ, chỉ cần những người bệnh không thích nghe bài giảng của anh, không vỗ tay và khen hay bài anh giảng, khi anh giảng bài họ nói lung tung, đi lại lộn xộn, chụm đầu ghé tai, thiếu lễ độ, bỏ ra khỏi lớp, coi như anh đã giảng bài thành công, bệnh của anh đã khỏi hẳn, anh có thể ra viện về nhà.

Thời gian giảng bài diễn ra vào đúng chín giờ sáng ngày hôm sau tại phòng vui chơi đọc sách báo của các bệnh nhân. Phòng đọc sách ở trong mấy gian chênh chếch về phía tây giữa khu A và khu B, diện tích lớn hơn phòng họp thông thường một chút. Trong phòng đọc sách vốn có bàn, ghế, sách báo tạp chí, cờ tướng, cờ vây, bàn bóng bàn, bụi bẩn và không khí, còn có cửa ra vào quanh năm đóng im im, cửa sổ gài chặt, kéo kín rèm đen.

Nhưng điều bất ngờ là hôm đó tôi đến trước mười phút, vừa đến đã thấy trong phòng đọc sạch sẽ, ánh sáng đầy đủ, có mấy chục bệnh nhân mặc quần áo nền trắng sọc xanh đang ngồi ngay ngắn chờ tôi, giống như bầy ngựa vằn nằm tại chỗ, chờ một trận mưa vì khát quá. Giống như các sinh viên của Trường đại học Thanh Yên đang chờ bậc thầy lớn đến giảng bài, trong khi chờ đợi cứ mặc sức nói chuyện, ca hát, hút thuốc. Nhưng tôi vừa bước vào cửa, cả phòng đọc bỗng im phăng phắc.

Người đang nói chuyện ngậm mồm, kẻ đang hút thuốc dập tắt thuốc, ai đang trìa môi cười ngây ngô, nét mặt chợt căng cứng. Người nào cũng ngồi nghiêm chỉnh, ngẩng đầu ưỡn ngực, giống Như Bình sĩ ngồi họp trong doanh trại tôi nhìn thấy hôm nào, người nào cũng nhìn thẳng vào tôi. Trong số này người cao tuổi nhất là sáu mươi chín, người ít tuổi nhất cũng trên hai mươi. Trước khi vào viện, có người là cán bộ (trong đó năm người cấp cục), có người là viên chức công ty, còn có cả giám đốc và ông chủ (công ty sập tiệm, họ thành bệnh nhân), còn có người hoàn cảnh gia đình tốt, thỉnh thoảng lên cơn tâm thần, được bố mẹ và con cái đưa vào bệnh viện tâm thần loại A của nhà nước. Ông viện trưởng nói, học lực của họ đều là tốt nghiệp đại học chính quy trở lên, cá biệt có người là thạc sĩ, tiến sĩ, trong đó có một kỹ sư kiến trúc là tiến sĩ khoa công trình xây dựng của Trường đại học Hoa Hạ. Ngôi nhà gác lớn ông ta thiết kế chưa xây xong đã sập. Nhà sập, ông cũng mắc bệnh tâm thần, bị đưa vào buồng bệnh khu C của bệnh viện tâm thần. Tôi biết đây là loạt bệnh nhân và học sinh đặc biệt nhất của toàn thế giới. Hôm qua đã nói trước, chỉ cần những học sinh có bệnh này nghe không hiểu bài tôi giảng, coi như tôi đã khỏi bệnh, đã có thể ra viện. Cho nên tôi hết sức tin tưởng, ý chí tràn đầy, biết chắc dù có giảng cho họ những câu thơ hàng trăm hàng ngàn năm nay thường được người đời đọc trên cửa miệng như: Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu - quả đào ném đi, quả lê ném lại - có bậc giai nhân ở một góc trời... Họ cũng không hiểu, tôi cũng vẫn phải hết sức cẩn thận chuẩn bị chu đáo, đề phòng ngộ nhỡ, quyết định giảng cho họ nghe bài thơ tươi mát có nhiều chữ mới, chữ lạ, chữ hiếm mà mình đã từng dẫn chứng nhiều lần trong "Phong nhã chi tụng".

Hầu như tôi đã kế sẵn trong lòng, phần thắng trong tay, khi vững bước vào trong phòng đọc, giống như bước vào trong lớp của trường đại học. Đầu tiên tôi dừng bước tại cửa phòng, cúi mình chào các học sinh bệnh nhân một cách lễ phép. Nhưng tôi không ngờ, giữa lúc tôi cúi gập lưng, các học sinh trong phòng đọc (những người bệnh tâm thần), lại vỗ tay như sấm dậy, hoan nghênh tôi giống như sinh viên của trường chúng tôi hoan nghênh ông hiệu trưởng đến nói chuyện, giống như hoan nghênh một vị tổng thống nước ngoài lên bục nói chuyện trong bữa tiệc đón khách nhà nước chiếu trên tivi. Được quý mến, tôi đâm ra rụt rè, lúng túng, ngẩng nhìn những bàn tay đang vỗ nồng nhiệt, cảm giác ngạc nhiên tới tấp dồn lên đầu. Tôi nhìn thấy các học sinh (các bệnh nhân), người nào cũng đần mặt ngây ngô, ngồi nghiêm không nhúc nhích. Nhưng trong tay người nào cũng cầm một quyển sách, một cây bút, như chuẩn bị sẵn sàng ghi chép khi nghe giảng, hình như họ đến đều không phải để nghe tôi giảng "Kinh thi", mà để sao chép một đơn thuốc bí mật chữa khỏi bệnh cho mình. Ông viện trưởng đứng ra tổ chức bệnh nhân nghe giảng "Kinh thi" (ông đã đích thân căn cứ vào bệnh án và sơ yếu lí lịch của người bệnh để tổ chức bài giảng thực nghiệm này), ông và mấy vị chủ nhiệm khoa và bác sĩ chữa bệnh chính ngồi xen kẽ rải rác trong số bệnh nhân ở hàng đầu, cũng mặc quần áo đồng phục như các bệnh nhân. Các bệnh nhân ngồi nghiêm, họ cũng ngồi nghiêm, các bệnh nhân vỗ tay, họ cũng vỗ tay.

Chờ khi tiếng vỗ tay chấm dứt, tôi nhìn ông viện trưởng, ông cười với tôi, gật đầu.

– Anh em bệnh nhân nghe hiểu bài giảng của anh, họ sẽ vỗ tay - ông viện trưởng khẽ nói với tôi, nghe không hiểu họ sẽ bỏ đi.

Tôi nhìn ông viện trưởng và các phó viện trưởng ở hàng ghế đầu, trong lòng có phần hoang mang không hiểu ra sao.

Bắt đầu đi - ông viện trưởng giục.

Tiện tay mở đến chương thứ tư:

Mối tình thâm căn cố đế muốn trở về nhà của những kẻ bỏ quê hương ra đi trong "Kinh thi". Nhìn bài thơ "Trắc hộ" (đây là bài thơ nhớ quê của người xa quê hương từ lâu, nhớ nhà song lại quên lối về. Trong bài thơ tràn đầy nỗi tuyệt vọng và mong ngóng). Bài thơ này trong "Ngụy phong" tôi dẫn chứng mở đầu cho bài giảng. Tôi lại gập giáo án vào. Cười một cách hòa nhã dễ gần, tôi nói, thưa các bạn, hôm nay chúng tôi giảng một bài thơ điển hình nhất trong nghiên cứu về tồn tại tinh thần của "Kinh thi". Bài thơ này nằm trong "Phong" của "Phong", "Nhã", "Tụng" trong "Kinh thi"; là bài thuộc "Ngụy phong" trong "Phong". Trong "Ngụy Phong", bài thơ này xếp thứ tư.

Nói vòng nói vèo, nói đến đây, tôi lấy phấn viết lên bảng đen hai chữ Trắc và Hộ của tựa đề bài thơ. Tôi hỏi có ai nhận ra hai chữ này? Sau đó nhìn các bệnh nhân ngây dại thẫn thờ dưới bục, nhìn thấy họ trố mắt nhìn nhau, con ngươi trắng dã, không ai trả lời được, tôi mừng thầm trong lòng, không nhận ra thì tốt, chỉ sợ có ai đó nhận ra hai chữ này. Tiếp theo tôi quay lại viết phiên âm tiếng La tinh "zhi" và "hu" trên hai chữ hán Trắc và Hộ. Quay đầu lại tôi nói, bài thơ "Trắc hộ", cả bài có ba đoạn mười tám câu, tổng cộng có tám mươi mốt chữ và hai mươi bảy dấu. Trong hai mươi bảy dấu có chín dấu phẩy, chín dấu chấm, ba dấu hai chấm, ba dấu chấm than và ba dấu ngoặc kép. Mà trong tám mươi mốt chữ của bài thơ, có ba mươi chữ thường dùng các chữ còn lại đều không thường dùng, Trong mấy chục chữ không thường dùng trong chú thích "Kinh thi" của các bản in, có hai mươi đến ba mươi chữ cần ghi chú phiên âm La tinh và giải thích. Nói nhăng nói cuội một thôi một hồi về số dòng, số chữ, số dấu, câu dài nhất mấy chữ, câu ngắn nhất mấy chữ, đại thể đã ngốn mất mười phút, tôi dừng lại nhìn xuống dưới bục, thấy toàn bộ học viên đều cúi xuống bàn ghi chép, trong phòng tiếng viết chữ xào xạo, khiến cho lớp học tạm thời giống như buồng thi. Người bệnh tâm thần nào viết nhanh, khi ghi xong ngẩng lên nhìn tôi, nét mặt họ vốn ngây dại đờ đẫn đã giảm đi trông thấy, cảnh mù tịt hai mắt trắng dã, mất tự chủ cũng quy tụ vào một điểm đen nhàn nhạt. Hình như tôi không phải đang giảng bài thật, mà như đang chữa bệnh cho họ, khiến tôi cảm thấy có một luồng hơi lạnh đang quét trong phòng đọc, đang xâm nhập, tấn công khắp người tôi từ trên xuống dưới. Tôi cúi xuống lướt nhìn ông viện trưởng và các bác sĩ ở hàng ghế đầu, thấy nét mặt người nào cũng tươi cười hớn hở, giống như một cuộc thí nghiệm đã được nghiệm chứng. Họ hết nhìn tôi, lại nhìn cả vào mặt ông viện trưởng. Ông viện trưởng xem đồng hồ đeo tay, nói với tôi, giáo sư Dương anh giảng hay lắm, bệnh nhân ai cũng hiểu, anh giảng tiếp đi.

Ông viện trưởng nói nhỏ nhưng tôi nghe cảm thấy rợn tóc gáy, hình như có cơn lốc xoáy, có trận cát bụi đang ấp ủ hình thành bên cạnh tôi, chỉ một lúc nữa sẽ như mây bay gió cuốn, trời long đất lở.

Tôi không giảng tiếp, lại một lần nữa nhìn xuống dưới bục, thấy tất cả mọi người đều ghi chép xong, đều ngẩng lên nhìn tôi, chờ tôi giảng tiếp, giống như người sắp chết vì khát đang chờ một ngụm nước. Từ trong ánh mắt của tất cả bệnh nhân, tôi đã nhìn thấy họ đang khao khát chờ đợi mình, nếu tôi không giảng tiếp, họ sẽ lên cơn tâm thần, dỡ nhà nhảy lầu, khiến tôi nhận ra mình phải giảng tiếp tiết này, giảng tiếp bài thơ "Trắc hộ". Vậy là tiếp theo lời vừa nói, tôi lại bắt đầu giảng, trong bài thơ chữ nào nhiều nét nhất, chữ nào ít nét nhất, có bao nhiêu chữ mười nét trở lên, có bao nhiêu chữ mười nét trở xuống, chữ nào có cách đọc hai âm, chữ nào có cách đọc một âm. Tôi giảng lộn tùng phèo, đánh tráo đầu đuôi, bởi lông tìm vết, tôi nói về môi trường, không khí, mây màu, ánh sáng, luồng khí chung quanh bài thơ, nói chim bay ngoài trăm dặm, nói cá trong hồ, cỏ trên núi, nước trong sông chung quanh bài thơ, song lại không đả động một chút gì về ý nghĩa, sự lí thú của nỗi nhớ nhà nhớ quê vốn có trong bài thơ, cũng như kết cấu của bài thơ, sự đối xứng, cũng như mỹ học của bài thơ. Tôi giống như một kẻ hướng dẫn du lịch dẫn một đoàn người vào công viên theo kế hoạch, tay cầm cờ, chân bước liên tục, miệng nói thao thao, nhưng chỉ dẫn người ta quanh quẩn ngoài công viên, chứ không đưa họ vào bên trong vườn tham quan cảnh đẹp.

Tôi gập bản thảo cuốn "Phong nhã chi tụng" trên bục giảng, cuối cùng nhìn các bệnh nhân bên dưới một lần nữa, thấy nét mặt họ tuy vẫn còn si dại và đờ đẫn, nhưng dưới nét si dại đờ đẫn ấy, có sự hưng phấn và khát khao khó kìm nén, có niềm phấn khởi và thỏa mãn không thể che giấu. Tôi giảng bài thơ "Trắc hộ" năm mươi phút, ngay đến ý nghĩa của chữ Trắc có nghĩa leo núi tôi cũng không giảng, ngay đến ý nghĩa của chữ Hộ có nghĩa trên núi có cây cỏ tôi cũng không giảng, càng không cần nói đến giảng cho họ ý nghĩa chính của cả bài thơ "Trắc hộ". Năm mươi phút liền, tôi nói toàn rác rưởi và những lời thừa, nhưng khi tôi giảng xong, cầm bản thảo cuốn sách trên tay, có ý không nhìn ông viện trưởng và các bác sĩ ở hàng đầu, không nhìn các chuyên gia về bệnh tâm thần học, mà đưa mắt nhìn các bệnh nhân ngồi kín nhà, cất to giọng hỏi:

– Bài thơ "Trắc hộ" hôm nay giảng đến đây, các bạn nghe có hiểu không?

Dưới bục im phăng phắc.

Khỏi cần nói, các bệnh nhân không có một người nào hiểu nổi.

Vậy là tôi nhìn ông viện trưởng và các bác sĩ ngồi hàng đầu, đang định nói, thì bên dưới bục chợt vang lên những tràng vỗ tay đồng loạt. Tiếng vỗ tay mạnh và gọn, ầm ầm như sóng thần, như tiếng sấm nở sâu bọ từng lăn trên bầu trời vào tháng hai mùa xuân, chỉ là tiếng sấm nở sâu bọ. Dời ánh mắt khỏi mặt ông viện trưởng, tôi hốt hoảng nhìn các bệnh nhân đáng chết kia, giơ hai tay ra hiệu cho họ im lặng. Sau khi phòng đọc trở lại yên tĩnh, tôi lại tỏ ra bực dọc nói to với họ, nghe hiểu thì các bạn trả lời, nghe không hiểu các bạn không nên vỗ tay có được không? Bây giờ ai nghe hiểu xin đứng dậy.

Đúng là có hai bệnh nhân do dự một lát rồi đứng lên.

Tiếp theo lại có một loạt bệnh nhân đứng lên.

Tiếp theo nữa, tất cả mọi bệnh nhân đều đứng lên, xanh xanh trắng trắng lóa cả mắt, quả thật như một bầy ngựa vằn đứng lên chuẩn bị phi nước kiệu. Nhìn bầy ngựa vằn, tôi cất giọng hỏi một cách thống thiết, tôi giảng bài thơ "Trắc hộ", các bạn có hiểu thật không?

Họ không trả lời, lại nổi lên những tràng vỗ tay như sấm dậy.

Tôi hỏi, ai có thể trả lời bài thơ "Trắc bộ" có ý nghĩa gì? Lại một tràng vỗ tay.

Tôi hỏi, ai có thể đọc thuộc một câu trong bài thơ "Trắc hộ"?

Lại một tràng vỗ tay nữa.

Ai nhớ được "Trắc hộ" là bài thơ thứ mấy trong "Kinh thi", là thơ trong "Phong", thơ trong "Nhã", hay là thơ trong "Tụng". Tôi hét đến khản khổ rã họng, oán trời lo người, suýt nữa giậm chân trên bục chửi toáng lên. Nhưng họ vẫn đứng ì tại chỗ vỗ tay không ngớt. Vỗ tay vì bài giảng của tôi, giống như vỗ tay chào cảm ơn một buổi biểu diễn bất ngờ mà trọn vẹn đã hạ màn.

Ở Trường đại học Thanh Yên tôi đã tận tâm tận lực giảng bài mười mấy năm, các sinh viên chưa bao giờ vỗ tay cổ vũ tôi lần nào như thế này. Nhưng ở đây tôi nói tầm bậy tầm bạ một tiết học, mà tiếng vỗ tay của họ giống như gió thổi vù vù suốt một mùa. Tôi cứ thế đứng trơ trơ trên bục, khi lại một lần nữa nhìn xuống dưới, tôi đã nhìn thấy những ánh mắt trắng dã, y như mắt cá chết treo lơ lửng. Giữa giây phút này tôi bỗng muốn khóc, muốn dời bục giảng ngay, dời khỏi những tràng vỗ tay như sấm dậy, trở về buồng bệnh số 6 của mình ở khu A.

Nhưng khi tôi định đi, ông viện trưởng tươi cười bước lên bục giảng. Ông giơ hai tay ra hiệu cho mọi người im lặng, với giọng nói vang vọng ấm áp phù hợp hoàn toàn với thể hình của mình. Ông nói, giáo sư Dương ở buồng bệnh số 6 là chuyên gia văn học cổ điển của Trường đại học Thanh Yên, là người có thẩm quyền nghiên cứu về "Kinh thi". Bài giảng của anh ấy hôm nay được vỗ tay hoan nghênh nồng nhiệt như thế này, có thể làm cho những người bệnh có học lực cao như các bạn ngồi yên lặng, không nói chuyện, không động đậy, lắng nghe hẳn một tiếng đồng hồ, so với những người bình thường không có bệnh càng yên lặng ngồi nghe và ghi chép, chứng tỏ liệu pháp tôn nghiêm mà bệnh viện chúng ta sáng lập đối với những người bệnh tâm thần có hiệu lực điều trị quan trọng. Để chứng minh tính hiệu quả của phương pháp điều trị tôn nghiêm, ngày mai chúng tôi sẽ tiến hành cụ thể hơn việc phân loại, phân tích các bệnh án hồ sơ của tất cả bệnh nhân, sẽ tập trung tất cả bệnh nhân là cán bộ vì tham ô mà mắc bệnh tâm thần, mời giáo sư Dương giảng về kinh tế học trong "Kinh thi"; tập trung tất các bệnh nhân vì thất tình, hoặc vợ có tình ý với người khác, chồng bị kẻ thứ ba xọc gậy bánh xe, mời Giáo sư Dương giảng về luyến ái học trong "Kinh thi"; tập trung các bệnh nhân vì không được đề bạt cất nhắc trên con đường làm quan mà mắc bệnh tâm thần, mời giáo sư Dương giảng bài đấu tranh cung đình trong "Kinh thi". Tóm lại, xét về mức độ nào đó, bệnh tâm thần đều là chứng đánh mất sự tôn nghiêm. Khi sự tôn nghiêm của một cá nhân dần dần mất đi, từ ít đến nhiều, khiến anh ta không còn đủ sự tôn nghiêm để chống đỡ, anh ta sẽ mắc bệnh tâm thần. Vì vậy, căn cứ vào nguyên tắc cơ thể con người thiếu canxi bù canxi, thiếu kẽm bù kẽm, khi người bệnh tâm thần thiếu tôn nghiêm, chúng ta cần phải bù cho họ bài học về tôn nghiêm.

Nói đến đây, viện trưởng Vương quay đầu lại cười với tôi nói, thật không ngờ bài giảng của anh hôm nay được hoan nghênh như thế, cho nên tôi hi vọng, anh hãy ở bệnh viện này từ sáu tháng đến một năm nữa, tôi mời anh ngày nào cũng giảng bài "Kinh thi" học của anh cho bệnh nhân. Giảng các bài kinh tế, chính trị, tình yêu, trồng trọt và đấu tranh cung đình trong "Kinh thi", cho đến khi các bệnh nhân không thích nghe bài giảng của anh nữa, không ai vỗ tay hoan nghênh anh giảng bài nữa, anh hãy ra viện về nhà được không? Vừa hỏi, ông viện trưởng lại vừa cười với tôi nói tiếp, sự việc quyết định như thế nhé. Ngày mai mời anh giảng cho các bệnh nhân tâm thần là cán bộ cấp phòng trở lên nghe thơ đấu tranh cung đình trong "Kinh thi". Ngày kia anh giảng cho các bệnh nhân đã trải qua tham ô tham nhũng nghe thơ triết học kinh tế trong "Kinh thi". Ngày kìa, anh giảng cho trai gái trẻ vì tình mà mắc bệnh, nghe thơ ái tình trong "Kinh thi".

Theo lời phân công của ông viện trưởng, trong nửa tháng sau đó, khi bảo tôi giảng thơ cung đình trong "Kinh thi", tôi đã giảng thơ nhà nông "Đại điền" trong "Tiểu nhã". Đại điền là bài thơ cày cấy làm ruộng của thời kỳ Tây Chu. Thơ ca nhàn tản lý thú, mang niềm vui của nhà nông và cảnh đẹp đồng quê mà tranh vẽ không đạt được khiến người ta muốn nhìn. Khi bảo tôi giảng về thơ kinh tế, tôi đã giảng bài thơ "Ân võ" cúng tế vua Thương, bài thơ cuối cùng trong "Kinh thi" ngay đến mình tôi cũng không hiểu lắm. "Ân võ" là bài thơ miêu tả việc cúng tế. Trong lớp học, tôi tán nhăng tán cuội, lấy chỗ này ghép chỗ kia. Khi bảo tôi giảng về cúng tế, tôi lại giảng về trồng trọt. Khi sai tôi giảng về trồng trọt, tôi lại giảng về loạn lạc thời chiến, Trên bảng, tôi cố tình viết sai chữ, còn uống nước lia lịa và chốc chốc lại ra nhà vệ sinh, nhưng trong các lớp học ấy, mặc dù tôi phạm thượng gây rối, đùa bỡn như thế nào, dưới bục vẫn im phăng phắc và vỗ tay không ngớt. Hình như các bài giảng của tôi quả thật như những buổi biểu diễn rất hay.

Sau ba mươi ngày, bởi bài giảng của tôi được hoan nghênh nhiệt liệt, địa điểm giảng bài từ phòng học tạm thời đổi thành lễ đường nhỏ. Nội dung tôi cần giảng lại là thơ ái tình trong "Kinh thi". Người bệnh là trai gái đi nghe giảng, nếu không là thanh niên nam nữ thất tình, thì cũng là những chị vợ chồng đi chơi đêm đêm không về nhà, hoặc là những anh chồng không ở với vợ, mà ngủ với người khác (như tôi). Cho nên tiết học ấy, ai cũng có thể đoán trước, người nghe sẽ đông như núi như biển, nước chảy không lọt, ngồi chật ních lễ đường nhỏ, đầu người lố nhố, mồ hôi ròng ròng, ngọ nguậy giữa không trung như từng đống từng bãi đá cuội.

Thời gian lên lớp là đúng ba giờ chiều.

Đến hai giờ ba mươi phút chiều, các bệnh nhân có quá trình từng trải giống tôi đều được bác sĩ phụ trách, hoặc y tá dẫn dắt, tốp năm tốp ba lũ lượt kéo đến tiểu lễ đường. Hành lang trước cửa buồng tôi và đường đi ngoài cửa sổ, bệnh nhân và nhân viên y tế đi nườm nượp như trảy hội. Đến gần ba giờ ba mươi phút, trên hành lang đã trở lại yên tĩnh, ngoài cửa sổ cũng đã thưa bóng người, tôi lột bỏ bộ quần áo bệnh nhân, mặc bộ quần áo khi vào viện của mình, giấu túi hành lí bên người, hấp ta hấp tấp từ hành lang khu A đi ra nhà gác lớn khám bệnh của bệnh viện.

Xuyên qua nhà gác khám bệnh, tôi không rẽ vào tiểu lễ đường, mà đi thẳng ra cổng lớn.

Anh bảo vệ hỏi đi đâu?

Tôi đáp, tôi là giáo sư Dương của Trường đại học Thanh Yên, tôi đi đón đồng sự của tôi vào tiểu lễ đường giảng bài ái tình trong "Kinh thi".

Anh bảo vệ đã cho tôi đi qua cổng anh đang gác.

Bấy giờ là trung tuần tháng chín, tôi vừa đi ra khỏi cổng sắt lớn của bệnh viên, cảnh tượng mùa thu ào ạt ùa đến với tôi. Đứng ở cổng lớn, ngẩng nhìn mây như nước da đàn bà trên bầu trời, tôi đã hít một hơi thật sâu. Sau khi ra vẻ ngó ngó nghiêng nghiêng ra xa xa, tôi lủng bủng ca cẩm mấy tiếng, đúng ba giờ rồi, tại sao không thấy bóng người đâu?

Sau đó tỏ ra sốt ruột, tôi vội vàng đi ra chỗ xa hơn.

Đi được mấy bước, tôi đột nhiên co cẳng chạy, chạy đến mức gió nổi dưới chân vù vù, tôi thở hổn hển. Khi nghe có tiếng người gọi ở đằng sau, tôi rẽ ngang, chui tọt vào ruộng ngô bên đường.

Hôm ấy, khi tôi từ bệnh viện trốn về đến Trường đại học Thanh Yên vẫn chưa đến mười giờ đêm. Tôi rửa mặt bên bờ sông ngoại ô kinh thành, rẽ vào một quán ăn cạnh đường, ăn hai lồng bánh bao hấp, uống hai bát canh (ăn nhiều như anh lái xe chở than. Hai chúng tôi ngồi chung một bàn ăn), mãi đến lúc trời tối hẳn, mới lên chiếc xe bus tuyến 209 về đến trước cổng sau nhà trường. Tôi không vội đi vào trong nhà trường, mà ngồi ở chiếc ghế cạnh đường, suốt từ mười đến mười hai giờ đêm. Khi đường cái trước mặt vắng xe vắng người, cổng trường chỉ còn vài ba sinh viên đi ra đi vào, tôi mới đứng lên đi vào vườn trường từ cổng sau. Men theo con đường quen thuộc trước kia, tôi đi trên lối đi bộ đầy ánh trăng, đến căn hộ đơn nguyên số 3 nhà gác số 4 thuộc khu tập thể giáo viên ở phía đông nam trường học.

Lúc này, trong trường học đã tắt đèn từ lâu, chỉ có vài sinh viên đi chơi về muộn, khẽ bước trước mặt tôi. Khi gặp nhau, chúng tôi đều không ngoái đầu, sau khi đi qua, mới quay lại nhìn nhau có vẻ hoài nghi. Không biết hôm ấy là thứ mấy, khu tập thể cũng đã tắt đèn đi ngủ từ lâu, vắng vẻ không một bóng người. Hình như màn đêm và ngôi nhà gác khu tập thể giáo viên đều biết hôm ấy tôi về nhà, mới có ý trở nên yên tĩnh và im lặng như thế, ngay đến tiếng dế kêu cũng không có. Tôi lẳng lặng lên cầu thang như một kẻ trộm. Nhờ có ánh đèn, tôi bước đến cửa nhà mình một cách chính xác. Xỏ chìa vào lỗ khóa một cách chính xác, hết sức nhẹ nhàng đẩy cửa ra không một tiếng động lớn. Để không làm Triệu Như Bình tỉnh giấc lúc nửa đêm, vào nhà rồi, tôi sờ soạng bật đèn, cởi giày, đi chân không vào phòng khách. Có một luồng ấm nóng gia đình hết sức quen thuộc và mùi nhà bếp ùa vào tôi. Tôi đứng ở chính giữa phòng khách, nhìn sô pha và bàn uống trà, nhìn tivi và tủ để tivi dưới tường đối diện, còn có một bức tranh treo trên tường. Tôi thấy trong nhà y hệt lúc tôi ra đi. Hơn ba tháng đã trôi qua, ngay đến mấy quyển tạp chí để ở góc bàn trà lúc tôi đi vẫn nằm nguyên tại chỗ không suy chuyển. Hình như hơn một trăm ngày này, chiếc mạng nhện ở sau cửa, cũng không thêm không bớt một hạt bụi.

Tôi nhìn cửa buồng ngủ của Như Bình đang đóng chiếc ô cô ấy treo quanh năm trên tay cầm vẫn quanh năm treo y nguyên tại chỗ.

Tôi đi đến cửa buồng ngủ của vợ.

– Như Bình - Tôi khẽ cất tiếng - Như Bình.

Trong buồng không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng kêu rất khẽ của ánh đèn chiếu xuống đất.

– Anh đã về - Tôi cất to giọng. Đứng trước cửa buồng vợ tôi nói - Như Bình, em ngủ rồi hả?

Trả lời tôi là sự yên lặng như chết, yên lặng sâu thăm thẳm như nước hồ nhấn chìm tôi.

Tôi khẽ gõ cửa buồng vợ.

Tôi gõ cửa buồng vợ to hơn.

Cuối cùng tôi đánh bạo đẩy buồng vợ một cái, đứng ngoài cửa chờ một lát, có vẻ lạ lẫm, tôi thò tay vào cạnh khung cửa bấm công tắc điện. Khi màu sữa của đèn trần dìu dịu phủ khắp buồng, tôi mới nhìn thấy chiếc giường bỏ không, trống trải y như khoảng trời không có gì (cô ấy lại thay chiếc ga trải giường vải bông dệt kim màu xanh nước biển và đôi gối vải bông dệt kim cũng màu xanh nước biển). Một chiếc chăn nhung đỏ sẫm gấp thành khối vuông để không trong giường. Tôi đưa mắt nhìn từ trên giường xuống dưới đất. Nhãn cầu chợt đau nhói, bóng hai đôi dép lê đập vào mắt. Hai đôi dép lê dệt kim lại giống như hoa màu trắng đan bằng cỏ, một đôi số to, rõ ràng là kiểu nam, màu trắng nhiều màu đen ít, để ở gầm giường. Còn đôi kia nhỏ hơn, rõ ràng là kiểu nữ, màu đỏ nhiều màu trắng ít, hai đôi để sóng đôi bên nhau. Tôi đứng ngẩn tò te, ngửi thấy trong buồng ngủ của vợ, ngoài mùi phấn sáp thơm dịu trên thân đàn bà coi như mình quen thuộc, còn có một mùi hơi căng cứng của đàn ông tôi không diễn tả nổi.

Tôi ngửi mùi ấy và đi đến trước giường Như Bình. Rất dễ dàng tôi đã nhặt được một sợi tóc ngắn đàn ông trong lõm gối sát ngoài giường. Nhìn sợi tóc một lát tôi vứt đi và ra khỏi buồng.

Giống như tôi đã biết trước tất cả mọi chuyện, tôi không bất ngờ, cũng không bực tức, ngoài một chút khó chịu trong lòng, tôi đứng trơ trơ giữa phòng khách. Đột nhiên tôi cảm thấy mình không nên trốn khỏi bệnh viện tâm thần, không nên vội vàng lo lắng về nhà. Dường như là để chứng minh ước đoán và dự tính trong lòng tôi đứng ngây ra một lúc rồi đi đánh răng rửa mặt. Bật đèn, nhìn một cái tôi đã thấy ngay trong cốc đánh răng Như Bình dùng mấy năm nay để bên chậu rửa mặt, không phải chỉ có một chiếc bàn chải, mà là hai chiếc, một đỏ một xanh, một hơi dài, một hơi ngắn. Trong cốc, chiếc ngắn hơn tựa vào vai chiếc dài hơn, như con chim bé bỏng tựa vào người.

Còn có một con dao cạo râu không phải của tôi.

Ra khỏi buồng vệ sinh, tôi ngồi phịch trên ghế sô pha. Ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu là tôi nên về thăm quê trên dãy núi Bả Lâu.

Đã bao nhiêu năm nay tôi chưa về thăm nhà.

Đã bao nhiêu năm nay tôi chưa gặp lại Linh Trân, cô gái yêu tôi đến chết mê chết mệt.

« Lùi
Tiến »