Trong CHU TỤNG, đây là bài hát vui được hát khi Thiên tử cày ruộng tể điền. Lời hát giàu ý vị tình làng nghĩa xóm và chuyện đời thôn quê rất đằm thắm, sâu nặng.
Hôm ôm Linh Trân từ thành phố về thôn, thì tôi lại lên thành phố. Hôm ấy đã là ngày 28 tháng chạp, còn hai ngày nữa sẽ là ba mươi tết, qua ngày ba mươi sẽ là mùng một tết.
Khắp nơi nơi đều sắp sửa chúc mừng năm mới.
Tôi đi khỏi thôn Chùa trước vào lúc sáng sớm. Lúc tôi đi cả thôn còn đang ngủ. Trời lạnh quá, tuyết đọng trên mái nhà trên cành cây đều bị hơi ấm nóng trong đêm làm tan, lại bị hơi đêm đóng thành những cột, những dải băng trăng trắng xanh xanh treo giữa lưng chừng, lấp la lấp loáng dưới ánh trăng. Tưởng như có thể nghe được tiếng sinh trưởng dài ra, to ra trong đêm của những dải những thỏi đóng băng này, giống như vật gì đó đang lặng lẽ rơi vỡ. Trên cổng nhà mình tôi dán một câu đối đỏ, vế trên là Thiên cao vân đạm nhạn nam phi (trời cao mây nhạt chim nhạn bay về phương nam), vế dưới là Thu cao khí sảng nhạn bắc khứ (thu cao khí sáng nhạn bay lên phương bắc). Hoành phi là nam lai bắc vãng. Còn trên cánh cổng tôi dùng bút to viết mười mấy hàng chữ trên một tờ giấy đỏ rõ to:
Thưa bà con trong thôn, thưa các chú các thím!
Tôi vốn định ở lại thôn mình cùng đón tết với bà con và các chú các thím, nhưng đêm khuya hôm qua có người từ kinh thành nhắn tin của vợ tôi Triệu Như Bình và của hiệu trưởng nhà trường, bảo tôi nhất định phải về trước ba mươi tết. Người ấy nói Như Bình vợ tôi nhớ tôi đến sắp phát điên, nói mồng hai tết nhà trường tổ chức hội thảo nghiên cứu học thuật văn hoá quốc tế phương Đông long trọng nhất. Trong cuộc hội thảo này có hơn một trăm nhà Hán học của hơn năm mươi nước sẽ tụ tập đông đủ ở kinh thành, nghiên cứu văn hoá Trung Quốc. Họ thống nhất yêu cầu tôi đọc tham luận trong hội nghị, là một báo cáo học thuật dài trọng điểm nhất. Nếu tôi không về cuộc hội thảo sẽ bị tẻ nhạt, kém phần long trọng.
Xin lỗi, tôi đành phải về kinh thành ngay trong đêm để kịp dự họp.
Chúc bà con toàn thôn đón xuân vui vẻ.
Tôi viết thư trên tờ giấy đỏ dán lên cánh cổng, chữ to bằng quả táo đỏ, quả đào hạt, đường nét ngay ngắn rõ ràng để tất cả những ai biết chữ trong thôn đều đọc được. Tôi lấy hồ dán câu đối xuân, dán bức thư giấy đỏ để mọi người trong thôn vừa thức dậy là nhìn thấy đôi câu đối và bức thư khẩn cấp của tôi. Sau đó tôi lên đường rời khỏi thôn trong tiếng chó cắn thưa thớt. Dọc đường tôi luôn luôn suy nghĩ, đầu óc trống rỗng, tay xách mấy bộ quần áo và đồ dùng hàng ngày, vẩy hai ống tay áo sạch không, đi trên sườn núi Bả Lâu vắng tanh vắng ngắt, tiếng bước chân như búa nện thình thịch trên tấm gỗ.
Khi đằng đông tang tảng sáng, hai chân tôi đã toát mồ hôi.
Lúc mặt trời mọc, toàn thân tôi đã nóng ran, lưng áo đã ướt sũng.
Lúc mặt trời lên cao mấy ngọn sào, tôi cứ tưởng tôi sẽ gặp người anh em lái xe đầu hói lần đầu tiên từ dãy núi Bả Lâu lên thành phố, nhưng không ngờ, tôi không gặp anh ấy, mà lại gặp một chàng trai tóc đen mượt lái xe tải lớn. Tôi vẫn xuống xe ở trước cổng thành. Sau khi tạm biệt lái xe ở đó, tôi vẫn đi xuyên qua cổng thành cổ, không đi thẳng ra nhà ga, không đi thẳng đến phố Thiên Đường lên thành phố cần phải đến, mà lưỡng la lưỡng lự đi đến Cục bưu điện ở một góc phố. Đi vào trong sảnh lớn làm việc của Cục bưu chính, thấy người vắng khách thưa, bốn bề trống trải, có một người đang đóng gói bưu phẩm, có một người đang hí hoáy viết giấy gửi tiền, còn có một dãy buồng gọi điện đường dài đóng cửa, buồng nọ nối buồng kia đặt ở phía chính nam sảnh lớn. Tôi đến chỗ nhân viên phục vụ gọi điện thoại nộp tiền, viết giấy đăng kí gọi điện. Cô phục vụ đưa cho tôi một chiếc chìa khóa, mở cửa buồng số 2. Cầm tai nghe từ trên tường xuống do dự một lát, tôi hết sức thận trọng rồi lại ra vẻ huênh hoang gọi số máy điện thoại của gia đình ông trưởng thôn thôn Chùa trước. Đây là một chiếc máy điện thoại duy nhất của thôn Chùa trước và thôn Chùa sau do ban lãnh đạo thôn quản lí, nhưng để thuận tiện ông trưởng thôn đã kéo máy điện thoại về nhà mình ở thôn Chùa sau.
Tôi hỏi ông là trưởng thôn Chùa sau phải không?
– Xin tìm ông trưởng thôn nhận điện thoại.
– Xin chào ông trưởng thôn, tôi là Trương, hiệu trưởng Trường đại học Thanh Yên ở kinh thành, tôi muốn phiền ông một việc - ông Dương Khoa giáo sư trường chúng tôi là người thôn Chùa trên dãy núi Bả Lâu các ông. Tôi không biết nhà ông Khoa ở thôn Chùa trước hay thôn Chùa sau, xin phiền ông trong hôm nay nhất định đến thôn Chùa trước thông báo cho giáo sư Dương Khoa, dù thế nào hôm nay cũng phải rời khỏi dãy núi Bả Lâu, ngày mai về kinh thành, trở về trường. Ông ấy là giáo sư có tên tuổi, có uy tín nhất, có học vấn nhất của trường đại học chúng tôi. Ngày mùng hai tết sắp tới nhà trường chúng tôi tổ chức một cuộc hội thảo học thuật quốc tế có hơn một trăm học giả của hơn năm mươi nước tham dự, cần phải gọi ông ấy về đọc tham luận trọng điểm trong cuộc hội thảo. Xin ông nói với ông Dương Khoa, nhà trường hết sức ủng hộ ông ấy rời khỏi giảng đường về địa phương khảo sát và nghiên cứu, đưa học vấn về với đồng ruộng. Năm tới chúng tôi sẽ kêu gọi giáo sư toàn trường học tập giáo sư Dương Khoa, tổ chức các giáo sư, chuyên gia các ngành các loại dời bục giảng, chia thành từng đợt về các địa phương khảo sát và nghiên cứu, nắm những tài liệu mới nhất, phân tích nghiên cứu, soạn thành sách. Nhưng hiện tại giáo sư Dương Khoa không trở về tham dự cuộc hội thảo học thuật trọng đại này, chúng tôi sẽ không thể đưa ra thành quả học thuật hàng đầu để giới thiệu và trao đổi với học giả và danh nhân các nước trên thế giới. Đề nghị ông thông báo ngay với giáo sư Dương Khoa, cứ nói giúp tôi nhà trường cầu xin ông ấy, đề nghị ông ấy lấy đại cục làm trọng, đặt uy tín và danh dự của nhà nước lên hàng đầu, nhất định phải về kịp tham dự hội thảo, giành vinh quang cho đất nước, cũng là giành vinh quang cho nhà trường. Đón tết xong, nếu giáo sư Dương Khoa cần tiếp tục về dãy núi Bả Lâu khảo sát nghiên cứu, nhà trường chúng tôi nhất định ủng hộ ông ấy, nhất định lần sau không thế nữa, quyết không làm phiền, không làm gián đoạn việc khảo sát và nghiên cứu của ông ấy, quyết không làm chậm trễ việc viết sách ra sách của ông ấy.
– A lô, thưa ông Lưu trưởng thôn, lại xin phiền ông một chút, nói với giáo sư Dương, Triệu Như Bình vợ ông ấy rất nhớ chồng, vô cùng hi vọng ông ấy về kinh thành họp mặt gia đình ăn tết đón xuân. Như Bình vốn định về chỗ các ông đoàn tụ với chồng đón năm mới. Nhưng nghe nói nhà trường gọi ông ấy về tham dự hội thảo học thuật quốc tế, nên chị ấy không về quê ăn tết, mà ở nhà chờ ông ấy về họp mặt. Khi về, chị ấy không cần ông ấy mang thứ gì, chỉ cần người về là quan trọng hơn tất cả.
Ở đầu dây bên kia, ông trưởng thôn tỏ ra ngạc nhiên và mừng rỡ, sau khi mắc điện thoại từ ban lãnh đạo thôn về nhà mình, có lẽ ông chưa bao giờ nhận được điện thoại đường dài, càng không nhận được điện thoại từ kinh thành gọi về (lại là điện thoại của ngài hiệu trưởng Trường đại học Thanh Yên ở kinh thành tự tay gọi cho ông). Trong điện thoại, ông hiệu trưởng nói với ông rất nhiều chuyện, đã nghe giáo sư Dương giới thiệu về ông trưởng thôn là một người tốt biết chừng nào, dãy núi Bả Lâu xuất hiện được một giáo sư như Dương Khoa là một việc rất nổi tiếng, ông nói tài năng của Dương Khoa đã đem lại vinh quang cho cả Trường đại học Thanh Yên. Chuyên đề mà giáo sư Dương Khoa đang nghiên cứu hiện nay - cuốn "Phong nhã chi tụng" cuối cùng viết xong được xuất bản sẽ là một sự kiện lớn trong lịch sử văn hoá Trung Quốc, dãy núi Bả Lâu cũng có thể được thiên hạ biết tiếng bởi cuốn sách chuyên đề này, được ghi vào sử sách. Ông trưởng thôn hết sức xúc động bởi nhận được điện thoại của ông hiệu trưởng, bởi căng thẳng mà giọng ông hơi run run, ngay bây giờ tôi sẽ phát lên loa lớn trong thôn nội dung điện thoại của ông hiệu trưởng, để giáo sư Dương khẩn trương chuẩn bị hành lí về nhà, cũng để thôn Chùa trước, thôn Chùa sau, những ai nghe được lời phát thanh đều biết, giáo sư Dương là một người tài giỏi đến mức nào. Ông trưởng thôn nói, sau khi phát trên loa to, tôi sẽ đích thân đi đến thôn Chùa trước, truyền đạt tới giáo sư Dương không sót một câu một chữ của ngài hiệu trưởng.
Nói xong những lời này, ông hiệu trưởng (chính là tôi) đã nói lời tạm biệt với trưởng thôn Lưu, phiền ông hiện giờ phát lên loa nội dung lời nói của tôi, càng nhanh càng tốt, thời gian rất cấp bách. Ở đầu dây bên kia, ông trưởng thôn cứ vâng vâng rối rít, tôi sẽ phát lên loa ngay bây giờ, tôi sẽ phát lên loa ngay bây giờ.
Sau đó điện thoại bỗng ngắt.
Trong buồng gọi điện thoại bên này, tôi dạt dào niềm vui thành công. Ánh nắng chiếu vào qua cửa sổ bưu điện, lại xuyên qua kính buồng gọi điện thoại lọt vào trong làm cho căn buồng ấm sáng hẳn lên, nhìn thấy rõ những hạt bụi li ti đang bay óng ánh, y như một bầy bướm nhỏ xíu đang bay. Tôi thò tay bốc một cái trong ánh nắng, hình như nắm được gì lại hình như không nắm được gì, hai tay trống không, nhưng có ánh nắng ấm lòng bàn tay. Nắm ánh nắng ấm, nhìn đám bụi bay bị tôi nắm bay loạn xạ, tôi cảm thấy cần phải gọi một cuộc điện thoại về nhà cho Như Bình. Xét cho cùng thì năm hết tết đến, rút cuộc tôi là chồng cô ấy, tôi cũng nên chủ động gọi điện thoại cho vợ. Có lẽ cô ấy sẽ ngẩn người ra một lát trong điện thoại, rồi ngạc nhiên nói, Dương Khoa, anh còn biết gọi điện thoại về nhà kia ư? Xét cho cùng anh đã đi đâu? Anh mất tích mấy tháng nay khiến em và nhà trường lo sốt vó. Em và nhà trường đi tìm anh khắp kinh thành, tìm anh khắp gầm trời. Cũng có lẽ, nghe thấy giọng tôi cô ấy sẽ đột nhiên phát khóc, nghẹn ngào nói, anh Dương Khoa, anh ở đâu, mau mau về nhà ăn tết đi anh. Em xin lỗi anh, anh cũng không nên bỏ đi mấy tháng liền không có tin tức gì như thế. Cũng có lẽ cô ấy không nói gì hết, chỉ khóc hu hu trong điện thoại, khóc đến cuối cùng cô ấy hỏi tôi, hôm nào anh về đến kinh thành, em ra ga đón anh.
Cầm ống nghe kêu tút tút liên tục, giây lát ấy tôi đã tha thứ cho Như Bình tất cả mọi chuyện trước kia. Tôi nghĩ chỉ cần ở đầu điện thoại bên kia cô ấy nói một câu xin lỗi, về ăn tết đi anh, hoặc nói anh Dương Khoa, coi như em xin anh, xin anh hãy về nhà, chỉ cần cô ấy nói ra câu đó, tôi sẽ lập tức ra nha ga mua vé về kinh thành. (Nhưng liệu cô ấy có nói câu đó không?)
Xét cho cùng, cô ấy là nữ tri thức, là một người rất có lòng tự tôn, bắt cô ấy xin lỗi tôi quả là một việc khó. Cho dù cô ấy là một người đã biết sai cũng không muốn nhận sai, tôi nghĩ mình không nên nhất thiết đòi cô ấy nói thế nào thế nào, làm thế nào thế nào. Tôi nên lùi để cầu hoà, không nên đòi cô ấy khóc trong điện thoại, không nên đòi hỏi cô ấy thể hiện nỗi nhớ nhung và tình cảm sâu nặng đối với tôi, chỉ cần về giọng điệu cô ấy biểu lộ hi vọng tôi về nhà là được.
Nán lại một lát trong buồng gọi điện thoại, tôi đã dần dần thay đổi ý định, chỉ cần cô ấy quở trách tôi một câu trong điện thoại, a lô, anh có về nhà không? Chỉ cần khi nói câu này cô ấy không nổi giận đùng đùng, có một chút hối hận và dịu giọng, tôi sẽ mua vé về kinh thành. Cũng không hẳn yêu cầu cô ấy dịu giọng và ân hận trong điện thoại, chỉ cần trong điện thoại cô ấy thể hiện một chút hi vọng tôi về, thể hiện sự tức giận và bực bội đối với việc tôi bỏ nhà và cô ấy ra đi, tôi sẽ trở về kinh thành đoàn tụ với cô ấy, cùng ăn tết với cô ấy, mồng một tết cùng với cô ấy đến nhà bố cô ấy (thầy giáo của tôi) và mẹ cô ấy chúc tết như các năm trước kia, hết sức vui vẻ hòa nhập y như không xảy ra chuyện gì.
Tôi quyết định gọi điện thoại cho cô ấy.
Một khi hình thành quyết định này, trái tim tôi run run, hai tay toát mồ hôi. Khi bấm số điện thoại nhà mình, chữ số đầu tiên tôi đã bấm sai. Tôi bấm liền ba lần mới bấm đúng số mã vùng Bắc Kinh và số nhà mình. Khi điện thoại gọi thông, tim tôi đập thình thình như gióng trống, dường như dòng điện đến từ trong điện thoại đã đánh trúng trái tim tôi. Nhưng trong điện thoại sau khi có ba tiếng kéo dài, lúc có người nhấc máy, tôi lại đâm lo, vội vàng bỏ máy xuống.
Người nhận điện thoại không phải giọng phổ thông Bắc Kinh của Như Bình, mà là giọng nam cao sang sảng.
Giống như Lý Quảng Trí.
Nhất định là Lý Quảng Trí.
Ông ta chỉ a lô một tiếng tôi đã cảm thấy giống như Lý Quảng Trí (có lẽ không phải). Nhưng tôi bị cái giọng giống giống này làm cho lúng túng hoảng hồn, như bị sét đánh, bị đóng đinh ở trong buồng gọi điện thoại, cứ đứng ngây tại chỗ, không hiểu sao như kẻ mất hồn, trơ ra như phỗng. Qua một lát cuối cùng tôi mới ù ù cạc cạc hiểu ra, mình gọi điện thoại vừa vặn không đúng lúc, hai kẻ thù gặp nhau trên lối đi hẹp, sinh không gặp thời, giống như hôm tí tởn xách bản thảo cuốn sách về nhà, không hẹn mà gặp, hình như tôi cứ nhằm nhằm chọn đúng lúc Lý Quảng Trí đang ở nhà mình mới gọi điện về, chuyên môn đi quấy nhiễu niềm vui thú của người ta (các bạn thử nghĩ xem tôi có chán không kia chứ?).
Tôi đi ra khỏi buồng gọi điện thoại.
Có một cảm giác bị người ta đẩy ra khỏi nhà, trái tim tôi trào nên nỗi cay đắng. Tôi biết mình là một người không được hoan nghênh trong ngôi nhà ấy. Muốn về nhà ăn tết đón xuân, nhất định sẽ giống như một kẻ ăn mày vừa bẩn vừa xấu chợt đứng ở cửa thò cái bát mẻ vào xin ăn giữa lúc gia đình người ta đang vui vẻ hồ hởi ăn bánh chẻo đoàn tụ. Hơn nữa tôi đi khỏi gia đình này, đi khỏi kinh thành này không phải có người vung roi đuổi tôi đi như đuổi trâu đuổi cừu, mà do tôi tự giác tự nguyện bỏ ra đi, giống như một đứa con cam lòng bỏ nhà ra đi, nó biết nó không thể tự vác cái mặt về nhà một cách mất hết tôn nghiêm, không có chí khí. Tôi là một giáo sư nổi tiếng của một nhà trường có tiếng tăm, là một tri thức trong tầng lớp trí thức, tôi phải đặt sự tôn nghiêm lên hàng đầu, dù có về nhà, cũng phải để Triệu Như Bình và tòa kinh thành kia đến mời tôi về, giống như người làm bố làm mẹ đi cầu xin đứa con bỏ nhà ra đi.
Nghĩ như thế, tôi đã quyết chí làm như thế.
Trả xong tiền điện thoại, tôi đi ra khỏi nhà bưu điện. Trên phố lớn người qua kẻ lại thung dung thư thái, nét mặt người nào cũng tươi cười vui vẻ nhẹ nhõm của ngày cuối năm. Đứng cạnh đường cái trước bưu điện, cảm thấy gió lạnh của mùa đông phả vào mặt, y như thổi qua một tấm gỗ, tôi cứ để nắng trời chiếu trên đầu như chiếu trên bức tượng đất. Trong lòng trống trải, chứa chất như núi, nhìn đầu người và bước chân họ bước trên phố lớn. Tôi như đứng trên đỉnh một dãy núi, nhìn rừng cây và núi đã ở chân trời xa xa. Tiếng bước chân, tiếng nói chuyện của họ, có cả tiếng pháo tép của trẻ em đốt trước tết, rõ ràng là đỏ đỏ sáng sáng lấp la lấp loáng, nhưng tôi lại như không nghe thấy, không trông thấy. Tôi cứ đứng ngây dại như trời trồng giữa phố huyện ngày cuối năm, không biết mình chỉ đứng một lát hay đứng bao nhiêu lâu. Cuối cùng khi nghĩ đến phố Thiên Đường gần đó, trái tim giá lạnh như hòn đá cuội trong mùa đông, hình như bị ngâm trong nước ấm, đã dần dần tan ra, khiến tôi cười không thành tiếng, giống như tiếng a lô của người đàn ông trong điện thoại nhà mình đánh trúng vào lòng tôi. Như thế là vừa vặn tôi có thể đi đến phố Thiên Đường một cách đường hoàng, danh chính ngôn thuận, hoàn toàn có thể như kế hoạch tôi đã từng nghĩ, đã từng vạch ra trước đó, ăn một cái tết trên phố Thiên Đường một cách sung sướng (hoang dâm vô độ).