Phong Nhã Tụng

Lượt đọc: 2422 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
hữu cổ

Hữu cổ - Đây là bài đồng ca hát vui cúng Tổ, là một tác phẩm hay hàng đầu trong thơ “Tụng”.

Ba tháng sau khi sang thu, tôi đã đào bởi toàn bộ di tích thơ ca.

Tôi đã quên thôn Chùa trước và thôn Chùa sau. Tôi đã quên kinh thành và trường đại học. Tôi đã quên huyện lị và phố Thiên Đường. Tôi đã quên Tiểu Mẫn và lang quân mới không biết mình có bóp chết hay chưa? Tôi cũng không còn nghĩ đến mình là một kẻ phạm tội và bỏ chạy. Tôi chỉ biết mình đã có một phát hiện vĩ đại và cử chỉ cao đẹp, chỉ biết ngày ngày vùi đầu đào bới và sao chép.

Di chỉ của thành phố thơ ca, thật ra nó nằm ở chỗ mười dặm sát phía nam đầu phía tây dãy Bả Lâu, đi về hướng tây hai dặm nữa là sông Hoàng Hà cũ mùa hè lũ lụt, mùa đông khô cạn. Tại đây sông Hoàng Hà chảy xiết đến quái lạ, dòng chảy ngoằn ngà ngoằn ngoèo, quặt chỗ này rẽ chỗ kia, nơi rộng nhất có mười mấy dặm, nơi hẹp nhất chỉ có hơn hai ba dặm. Trong thời gian hàng trăm năm, quanh năm nước chảy xiết, hạn úng liên miên, thôn bản hai bên sông phải chuyển dần đến nơi khác, để lại sông cũ một dải đất thấp phẳng ở đầu đỉnh núi Bả Lâu, năm nay quẩn đi, sang năm quẩn lại. Đi về thượng nguồn phía nam là vách đứng sa thạch cao hơn một trăm mét chênh vênh nổi hẳn trên dãy núi, giống y như đầu con trâu húc dòng sông ra mấy dặm về phía tây. Vì thế đã chừa ra một khoảnh lớn đất thoai thoải ở đầu bắc của vách đá. Thành phố thơ ca nằm ngay trên vùng đất thoai thoải dưới vách đá. Bên sông, tựa lưng vào dốc núi Bả Lâu, chân đạp dòng chảy sông Hoàng Hà, bên trái có vách núi chắn nước, bên phải có cánh đồng bằng phẳng màu mỡ. Để chặn nước sông Hoàng Hà mùa hè dâng lên, có lẽ các tổ tiên đã từng xây một đập chắn trước thành, cho đến tận hôm nay, di chỉ đập chắn nước nằm ở chỗ nửa dặm về phía tây, còn có một con đê đất và đá lởm chởm lờ mờ. Xét về địa hình địa thế của di tích, khỏi cần nói, trong bao nhiêu năm tháng trước kia, sông Hoàng Hà hiền lành, nước chảy trong veo, các bậc tổ tiên sống ở ven sông, nước phân màu mỡ, có một cuộc đời sung túc yên lành, truyền nhau hát những bài ca dao và bài hát cổ bây giờ xem ra như câu đố, cuối cùng đã hát ra một thành phố thơ ca cổ xưa tại lưu vực sông Hoàng Hà của vùng Bả Lâu này. Nhưng rồi năm tháng rộng dài, thời gian trôi dần, đi đôi với sự biến thiên của năm tháng, cuối cùng vẫn là vào một mùa hè nào đó, nước sông Hoàng Hà dâng lên, xói vỡ con đê trước thành, nước lũ ào ạt tràn vào thành phố thơ ca làm đổ nhà sập cửa.

Nước lũ đã chôn vùi thành phố thơ ca trong bùn cát.

Tôi trở về bản Giếng Khổng ngoài mấy chục dặm, thuê mười mấy người, mỗi ngày cấp cho họ một chút tiền trợ cấp (lương của tôi mà, lương có cao đến mấy thì lúc này cũng chẳng thấm vào đâu), lại đưa ra một lô xích xông những lời hứa hẹn và ngon ngọt, dẫn họ đi tìm một đường phố của thành phố thơ ca trước đã, rồi dùng xe chở toàn bộ bùn đất của Hoàng Hà tích đọng trên đường phố đổ vào một hố nước ngoài xa, sau đó từ phố đá tấm này, đào vào trong ngõ hai bên, đào đến từng gia đình, đào vào trong sân của hai bên phố. Một tháng sau, một phố rải đá tấm hiện ra (phố đó có lẽ giống như một phố của xã trấn trên dãy Bả Lâu hiện nay, chỉ hẹp hơn đường phố nói chung chút ít, đi được hai xe ngựa hoặc xe trâu). Mà trong nhà của từng hộ từng gia đình hai bên phố, móng từng nhà không những xây bằng những hòn đá vừa to vừa nặng, mà tường nhà nào cũng xây bằng đá đến nóc hoặc xếp cao bằng đầu người, rồi xây tiếp gạch mộc trên tường đá cao quá đầu người đó, hình thành một bức tường đất đá đặc biệt (cho đến hôm nay, các thôn bản gần dòng sông Hoàng Hà cách dãy núi Bả Lâu đều còn xây tường đất đá). Trước nhà mấy chục gia đình đào ra, trong đống đá lộn xộn bị nước xối đổ của mỗi gia đình, tất nhiên đều có một dầm đá cổng rộng một thước, dày một thước, dài bốn thước, trên đá dầm cổng nhà nào cũng có này, đều khắc tên một bài thơ cổ trong "Kinh thi" (giống như hiện nay nhiều gia đình đều gắn trên lầu cổng nhà mình những chữ như nhà Trương, nhà Lí, nhà Vương, hoặc "nhân đinh hưng vượng, tử khí đông lai". Ngày nay người Bả Lâu có phong tục thích khắc họ lưu chữ trước cổng, cũng chính là bắt nguồn từ lòng yêu thích hát bài hát cổ của dân chúng ở vùng thành phố thơ ca thuộc lưu vực sông Hoàng Hà thời đó, đồng thời thích khắc tên một bài ca cổ trong đó lên dầm đá cổng nhà mình). Thuở ấy người thành phố thơ ca đều khắc tên một bài ca dao họ thích ở trước cổng ra vào. Những bài ca dao ấy phần lớn lại là những bài hát vui trong cung đình thịnh hành thời nhà Chu hơn hai ngàn năm trước sau khi lưu truyền trong dân gian, được họ đem ra khắc trên xà ngang cổng, nhằm cầu phúc chúc nguyện, lạy trời lạy đất mong được bình yên.

Trên phố đó chúng tôi đã đào được hai mươi hòn đá khắc, tổng cộng bốn mươi sáu chữ, tôi ghi số từng hòn từng tấm đá, theo hình chữ trên mỗi hòn mỗi tấm. Tôi viết vào sổ tay của mình, đồng thời đánh dấu và ghi chú rõ những chữ ấy khắc nổi, khắc chìm, hình thể và kích thước dài ngắn dày mỏng của từng hòn từng tấm đá. Tôi giống y hệt một nhà khảo cổ học, cùng đào đất, chở đất, khiêng đá, cùng ăn cùng ngủ, cùng cảm cúm, cùng họ với bà con thôn bản. Tôi khao khát đào được một phiến đá có khắc chữ mình không biết, vượt khỏi phạm vi ba trăm linh năm bài thơ trong "Kinh thi". Tôi khao khát không chỉ đào được một số tên bài thơ, mà còn hi vọng có thể tìm thấy một bài thơ trên một hòn đá nào đó. Kết quả đúng là đã đào ra một dầm đá khổng lồ dài sáu thước, dày năm thước, rộng năm thước trong đống đá lộn xộn trước cửa một gia đình giàu có. Chữ khắc trên dầm đá này không phải khắc ngầm mà khắc nổi. Chữ khắc ngang bằng sổ thẳng, đầu nét bút sắc sảo, mọi nét ngang đều to hơn nét sổ, nét phẩy và nét mác thì nhẹ nhỏ, mà đặt bút thì nặng dần. Thể chữ này đã không còn là tác phẩm và cố gắng của thợ đá và văn nhân thôn quê thông thường, mà có thể là tác phẩm thư pháp của văn nhân có tên tuổi của vùng núi Bả Lâu. Mà những thợ khắc đá cũng không còn là những nghệ nhân khắc đá nhìn bầu vẽ gáo thông thường. Từ chỗ đặt đục không để lại vết tích phẩy ngang khắc nổi, có thể thấy rõ trình độ của thợ đá này chắc chắn cao quá nóc nhà, cao quá ngọn cây, giống như lưng đèo cao nhất của dãy Bả Lâu. Tôi lấy bàn chải cạo sạch đất vàng trên những hòn đá, ở chính giữa hòn đá quả nhiên khắc một chữ nổi bật còn to hơn miệng bát ô tô, mà chữ đó để làm tên một bài thơ hoặc tên một bài hát được lưu truyền, là một chữ chưa từng có trong "Kinh thi" - chữ "nữ".

Ở ngay cạnh hòn đá có chữ "nữ" khắc nổi, lại cọ rửa ra một mặt phẳng, các mặt còn lại đều là đá núi cỡ lớn lồi lõm, xanh đậm đỏ nhạt, cao bằng người, hai đầu tròn nhọn, ở giữa phồng lên (y hệt loại đá tự nhiên chúng ta tùy tiện trong thấy ở đâu đó). Trên mặt bằng phẳng của hòn đá tự nhiên ấy, lại khắc dọc một bài thơ hai khổ tám dòng, không thiếu một chữ:

Ư lạc chi dương

(Ở Dương của Lạc Dương)

Dĩ nam chí ư biên liễu

(Về phía nam đến chỗ cây liễu)

Tiên thả mỹ mi

(Trông nàng sáng láng, khuôn mặt xinh tươi)

Viết ngã ký phó

(Ôi, anh đã trao anh cho nàng).

Chấp tử chi thủ

(Tay nắm tay nhau)

Dữ tử giai lão

(Chung sống trọn đời)

Dụ giai khoát hề

(Ôi, sông nước mênh mông khó qua thế này)

Bất ngã hoạt hề

(Khó gặp được nàng, sống thế nào đây)!

Tôi bảo mười mấy người làng đều vào bóng râm nghỉ mát, còn mình cứ nhìn tám câu thơ ngẫm nghĩ và bình phẩm trong lòng. Những câu thơ ấy tôi vừa quen vừa lạ. Ý tứ vô cùng, như mây tan nắng tỏa, tôi chợt nghĩ đến "Lạc Dương phú", nghĩ đến "Tản Thị Bàn", nghĩ đến "Mao Công Đỉnh", còn nghĩ đến toàn bộ "Kinh thi" và "Sở từ", nhưng dù sao đi chăng nữa cũng không nhớ ra đã đọc đã xem bài thơ này ở đâu. Tôi xác định chữ nữ trên dầm đá cổng này chính là tiêu đề của bài thơ tình (ca dao) có ngụ ý sâu sắc. Nhưng tôi lại không dám xác định xuất xứ và nguồn gốc của bài thơ, càng không dám tin nó là bài thơ đầu tiên ngoài ba trăm linh năm bài trong "Kinh thì" tôi phát hiện ở thành phố thơ ca. Mặt trời đã đứng bóng đang chiếu lên hòn đá tự nhiên, giống như nước vàng trong suốt đang rửa đang chảy trên chữ khắc đá. Một con dế vừa đen vừa sáng từ khe đá chui ra ôm ngang một nét của chữ khắc đá, giống như nằm trong nhà mình, khi nắng phơi khô thân nó, nó cong bốn vó, xòe cánh, ra rả cất tiếng ngân nga mà lanh lảnh. Còn có hai con bướm hoang rất hiếm trông thấy từ bãi cỏ bên cạnh bay tới, nhẹ nhàng đỗ trên nóc hòn đá (khiến tôi nghĩ đến cảnh tượng đám tang của Linh Trân, nghĩ cả đến chuyện hóa bướm của Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài trong truyền thuyết). Nghỉ một lát chúng bay đến đống đá của ngôi nhà đổ trong cổng.

Nào ngờ, bắt đầu từ bài thơ tình - "Nữ" trên hòn đá tự nhiên trước cổng ngôi nhà lớn, trong những ngày sau đó, khi cứ men theo đường phố này đào bới về phía bắc, ngoài những tên bài thơ trong "Kinh thi" phát hiện trên dầm đá trước cổng các gia đình như trước, chúng tôi còn bởi ra những hòn đá tự nhiên có kích thước không kém hòn đá khắc bài thơ "Nữ", cũng có những câu thơ ca dao hay như thế. Trong câu thơ ca dao trên hòn đá có tiêu đề là "Bay", có bốn câu hay tuyệt vời thế này:

Tước hành ư nhật,

(Khi mặt trời mọc chim bay đi)

Tước hành ư lạc,

(Khi mặt trời lặn chim về tổ)

Hữu nhật chung khứ,

(Khi mặt trời mọc thế nào nó cũng phải bay đi)

Hữu lạc chung quy

(Khi mặt trời lặn thế nào nó cũng phải bay về).

Còn có một bài thơ mang tên là "Có mùa", ba câu một đoạn, có tất cả ba đoạn:

Trích lạc hề

(Mưa xuân nhỏ giọt)

Hữu lạp qui thổ

(Có hạt giống gieo vào đất)

Hữu hòa li thổ

(Sẽ có mầm xanh mọc

Phong qua hề

(Gió xuân thổi đến)

Hòa sinh đại điền

(Lúa lên mượt mà trên cánh đồng bao la)

Nẫm thục đại điền

(Lúa chín vàng trải thảm trên cánh đồng tít tắp)

Hoàng điệp hề

(Lá thu rụng)

Phiêu hàn... quí

(Mùa gió bấc thổi..)

quí

(mùa...).

Cứ thế, khi đào bới đến hai phần ba đống đổ nát của thành phố thơ ca, đường đá tấm của đường phố chính, bỗng nhiên rộng ra sau bức tường của một gia đình. Bỗng nhiên bắt đầu từ góc bức tường đá chưa đổ, bức tường đá ấy không còn thẳng bắc thẳng nam, mà trở thành đường tròn thoai thoải, cao bằng đầu người. Mọi hòn đá trên tường cũng không còn là gặp to thì to, gặp nhỏ thì nhỏ, mà nhất loạt đều qua đục đẽo của thợ đá, rộng một thước một tấc, dài hai thước hai tấc, mạch đá đều gắn hồ nước cơm. Cây dại vốn mọc trên mặt đường phố và đá chôn trong khóm cỏ không còn, ở đó bỗng chốc xuất hiện một khoảnh đất trũng phẳng to tròn (bằng nửa sân bóng rổ). Mười mấy người làng, dùng hai xe bò đào bới và vận chuyển suốt hai mươi tám ngày mới gột sạch hết bùn đất trong khoảnh đất trũng phẳng hình tròn đó. Gột sạch bùn đất, kì tích đã dần dần hiện ra một cách hoành tráng và kinh ngạc như sóng thần núi lở, y như vầng mặt trời chợt mọc lên từ khoảnh đất trũng phẳng. Thì ra trong vùng đất trũng này chính là hội trường, rạp hát và bãi họp chợ của thành phố thơ ca. Chung quanh khoảnh đất trống rải đá rộng bằng nửa bãi bóng, đều xây bằng sa thạch có kích thước như nhau và miết mạch kín mít, mặt đất lại đều lát bằng đá tấm có kích thước thống nhất. Ở chính giữa bãi đất hình tròn, khi lối đi của đường phố thôn bản đi xuyên qua từ bên trong đã chừa hai của qua lại đối ứng nam bắc. Ở phía tây cửa qua lại, dưới tường vây đặt hai hàng ghế đá dài ngay ngắn (nhìn vào là biết, ghế đá không phải để mọi người ngồi xem cái gì, mà dành riêng để người ta khi mua bán trao đổi hàng hóa đặt sản phẩm lên ghế đá như thị trường hiện nay. Giống như giá quầy hàng bây giờ, dưới ghế đá còn chia thành từng ngăn, từng ô để người bán chứa hàng). Ở chính giữa đường trục qua lại - trên tâm tròn khoảnh đất hình tròn đó lại nổi lên một bục tròn hai bậc cao hơn mặt tấm đá một thước sáu tấc, rộng bằng nửa gian nhà, rõ ràng là khi dân bản hội họp, người nghe ở chung quanh, người nói chuyện đứng trên bục tròn trung tâm này. Khi dân bản tập trung ca hát, hát đối, hát thi, trai gái ca hát cũng đứng trên bục tròn như sân khấu này. Ở trong nửa vòng tròn chính đông của bục tròn này, địa hình tựa vào dãy núi, dân thành phố thơ ca đào xây theo núi, đào thế núi thành nửa vòng tròn hình lõm, rồi lại đào dốc núi nửa hình tròn thành từng bậc như khán đài. Trên các bậc này lại xây đồng loạt đá trắng xám hoa cương và đá vàng sa thạch, biến thế núi nửa vòng tròn phía đông thành sân khấu diễn kịch. Từ lớp đáy bãi tròn tôi đếm lên tận đỉnh, cao hai mươi tám lớp, còn trên đá dựng đứng xây khán đài hai mươi tám lớp này, cứ cách một hai hòn đá sa thạch, lại có một hòn hoặc mấy hòn đều khắc thơ chữ đồng triện, hai ba lời, năm sáu câu, có khi là câu và thơ trong ba trăm linh năm bài trong "Kinh thi", có khi là một đoạn hoặc bài ca dao ngoài ba trăm linh năm bài, tất cả đều khắc chìm, đều khắc thể chữ tơ liễu thon dài, cũng bởi vì lớp bề mặt nhất loạt bám vào dốc núi, đất trượt lở xuống sẽ không chôn đá vào trong đất. Trải qua thời gian dầm mưa và phong hóa, đá sa thạch vốn dễ tróc lở, trong thời gian lâu dài phần lớn đã tróc lở lớp bề mặt có khắc những câu thơ, ngay đến những gốc cỏ và cây gai cũng có thể dễ dàng đâm rễ vào trong bệ đá qua khe nứt của chữ khắc. Bệ đá càng vươn lên đỉnh núi, phong hóa cũng càng lợi hại đến mức hầu như bào mòn toàn bộ nét bút và khắc đá, chỉ còn lại những vòng tròn, tam giác và ngang dọc lờ mờ. Chỉ đến chỗ nào bùn đất trôi xuống vừa dày vừa nhiều, những chữ khắc đá mới còn có những vết tích đứt nối và rõ nét, làm cho lớp thứ năm đến thứ nhất dưới cùng, bởi bị vùi toàn bộ trong bùn đọng của nước sông, những chữ khắc đá ấy mới có một nửa, hoặc hai phần ba còn rõ nét như vừa mới khắc.

Từ khi bắt đầu đào bới bệ bậc đá xám, tôi đã dựa theo thứ tự phát hiện ghi chép và vẽ vào quyển sổ của mình những câu thơ đã bới ra. Khi hai quyển số đem theo người đã bị tôi sao hết vẽ hết, tôi lại sao lại vẽ những bài thơ câu thơ mới phát hiện lên mặt sau của tập bản thảo cuốn "Phong nhã chi tụng". Quyển sổ của tôi và mặt sau bản thảo cuốn sách đã viết đầy những đoạn, những câu ngoài "Kinh thi":

– Thái thúc thái thúc, diệc thu diệc thu

(Hải đậu hải đậu, mùa thu mùa thu).

– Phiếm chu hà lạc, tại... Hà… ngã, thùy… nhân y

(Bơi thuyền Hà Lạc, ở sông…; .. tôi, ai... người ơi).

– Thiêm thủy… đào, tha thủy ương ương, quân... xa tọa,... thủy hương

(Ngước nhìn nước... sóng, nước mêng mông, quân ‘vua, hoặc chàng’... ngồi xe,... quê hương của nước).

Những câu thơ đứt đoạn này, nhiều đến nỗi như hạt mạch, bông mạch còn sót lại trên cánh đồng sau vụ gặt lúa mạch mùa hè, đâu đâu cũng là thơ ca hai ngàn năm trước không biết khắc tháng nào năm nào. Đâu đâu cũng là những câu những vần hơn hai ngàn năm trước để lại. Mà kinh khủng nhất, quan trọng nhất, bề thế nhất là ở hàng thứ năm đến hàng thứ hại thấp nhất của khán đài, trên ba trăm hai mươi mốt hòn đá, có khắc một bài thơ bốn chữ dài năm trăm tám mươi sáu câu. Hai ngàn ba trăm bốn mươi bốn chữ trong bài thơ này đã có một ngàn ba trăm hai mươi bảy chữ mờ đến nỗi hoàn toàn không thể xác định và nhận ra. Trong một ngàn không trăm mười bảy chữ khắc còn lại chỉ có ba trăm ba mươi mốt chữ chỉ có một nửa bên trái, hoặc một nửa bên phải, hoặc chỉ có nửa chữ bên trên hay nửa chữ bên dưới, mà trong sáu trăm tám mươi sáu chữ thơ còn lại có thể nhận ra có hai mươi hai loại tên thực vật và mười bốn loại chim, còn có một số địa danh, tên núi, tên sông hiện nay không còn và hiện nay vẫn còn dùng (tôi nghi đây là một bài văn sử chí hoặc địa lí ghi bằng thơ). Khi tôi bắt đầu sao chép thơ từ bệ đá đỉnh núi, ngày nào cũng từng dòng từng dòng ghi lại cho đến bài thơ địa lí dài nhất cuối cùng này, tôi biết sự phát hiện vĩ đại của mình. Tôi hiểu đi đôi với sự phát hiện và nghiên cứu những bài thơ ngoài "Kinh thi" này, tôi sẽ viết lại lịch sử văn hóa và lịch sử lịch sử văn học cổ điển của dân tộc và nhà nước này, thậm chí viết lại lịch sử chí của một bộ phận thực vật học. Hôm ấy, trước khi đào bởi ra bài thơ bốn chữ dài nhất "Kinh thi" còn để sót gồm năm trăm tám mươi sáu câu, hai ngàn ba trăm bốn mươi tư chữ, tôi nhìn bài thơ như một "thanh minh thượng hà đồ" tiêu đề ở bên phải, đề chữ ghi tên ở bên trái bị bào mòn, trải ra trên khán đài như một cuốn sách dài, trong lòng lúc đầu chỉ là mừng quýnh và xúc động (như trẻ con mót bông mạch vô tình phát hiện ra một biển mạch không có người gặt hái). Nhưng khi tôi bắt đầu từ câu thứ nhất - Tha thủy chi đông hoành... thôn lạc - đọc từng câu tiếp theo, khi tôi nhận ra bài thơ này tập trung ghi chép cảnh tượng và lối sống trồng trọt, canh tác, chăn nuôi, phong tục tập quán, ca hát, lấy vợ gả chồng, cúng tế và tô tem của dân chúng hai bên bờ sông Hoàng Hà mà trung tâm là thành phố thơ ca hơn hai ngàn năm trước, tôi biết mình đã phát hiện ra bách khoa toàn thư hơn hai ngàn năm trước. Đã phát hiện một thanh minh thượng hà đồ thể hiện bằng thơ tranh của người Bả Lâu hơn hai ngàn năm trước. Đã phát hiện một tập thơ ca như "Kinh Thánh" của một dân tộc đã để lại hơn hai ngàn năm về trước. Khi tôi đọc đến câu - Tha thủy ngô nhân, hà... nhân sinh, long giáng... sơn, y quốc sinh quần - trong bài thơ, tôi biết mình đã đọc được nguồn gốc từ nước mà đến, lấy núi mà sống của người Trung Quốc và văn bản ghi chép chuẩn xác nhất.

Tôi biết sau khi công bố trước công chúng thành phố thơ ca và nửa vòng tròn bãi khán đài mình đã phát hiện, sẽ gây trấn động và phấn khởi cho một đất nước có hơn một tỉ dân như thế nào, sẽ làm cho tất cả người biết chữ hán và không biết chữ hán trên toàn thế giới đều sẽ như phát hiện lại thành phố cổ Pompeii ở La Mã, Hy Lạp và Italia. Đứng dưới khán đài ấy tôi có vẻ lo lắng, kinh ngạc bởi bài thơ dài về nguồn gốc địa lí bị thời tiết âm u như một cái vung chụp lên dãy núi Bả Lâu, chụp lên di chỉ thành phố thơ ca, chụp lên bãi xem hát múa hình tròn lõm như sân bóng này. Mùi đá sa thạch ẩm ướt và lạnh giá từ trên khán đài tròn lõm ùa vào tôi. Bà con dân bản Giếng Khổng hai mươi tám ngày liên tục gột rửa khán đài tròn lõm và bãi xem múa hát này ngồi trên những cán xẻng, cán mai, trên đá, trên xe chở bùn đất sau người tôi, họ nhìn tôi bần thần và ngây dại trước bài thơ dài dằng dặc, đã giục tôi, giáo sư Dương, anh cũng ngồi xuống nghỉ đi chứ!

Họ hỏi, hôm nay liệu có mưa không giáo sư Dương? Anh có nhớ hôm nay là ngày bao nhiêu không giáo sư Dương?

Từ trong kinh ngạc, tôi vừa ngố vừa tỉnh ngẩng đầu lên, nghĩ hôm nay là ngày mấy, nhìn mây đen đang vần vũ quần tụ trên bầu trời, như mực đen ố bẩn, bắt đầu áp sát đỉnh núi Bả Lâu. Tôi và bà con đều đứng trước khán đài xem múa hát ngẩng lên nhìn các bệ đá kéo dài nửa dốc núi. Trong giây lát sự ngột ngạt của đầu thu đã biến mất trên núi và trên bãi cát sông Hoàng Hà, giá lạnh như nước triều dâng, ập rất nhanh lên di chỉ, lên bãi xem hát và khán đài. Nhìn dân làng, tôi nói, trời sắp mưa, sau khi dọn sạch bùn đất, liệu khán đài có bị nước mưa xối sập không?

Tôi nói, bà con hãy về nhà nghỉ trước đi, tôi phải khẩn trương chép lại một lượt bài thơ dài này.

Tôi giục, bà con về hết đi, còn đứng đây làm gì!

Bà con cứ đứng cạnh tôi không nhúc nhích, hết nhìn trời, lại nhìn những chữ khắc và những giọt nước đọng trên đá, nét mặt người nào cũng xị ra tím tái. Họ nói, đã đến cuối tháng, anh đã từng bảo đào bới xong khán đài sẽ trả phụ cấp tháng này cho chúng tôi. Họ còn bảo, tháng này đào bới khán đài ai cũng làm việc quần quật, đi sớm về muộn, làm việc một tháng phải trả tiền gấp đôi.

Giáo sư Dương, cuối tháng rồi, anh trả tiền chúng tôi đi. Giáo sư Dương, anh có trả không? Không trả đừng có trách bọn này thô lỗ, không chỉ đập hết các thứ bỏ về, mà cũng không khách sáo với anh đâu.

Nói đi chứ, giáo sư Dương! Anh cứ tưởng anh im lặng, chúng tôi sẽ không đòi tiền anh phải không?

Nói đi, chỉ một câu này thôi, có trả hay không trả?

Họ bảo, lúc đầu sai chúng tôi đến đào bới đất đá ở thành phố thơ ca này, anh còn hứa, một ngày nào đó ở đây thành di chỉ văn hóa, đất Thánh văn minh, người đến tham quan sẽ tưng bừng rầm rộ, nườm nượp không bao giờ ngớt. Lúc ấy thành phố thơ ca này sẽ giống như tượng binh mã ở Tây Kinh, giống như Cố cung và Đèo Bát Đạt ở kinh thành, sẽ giống như Kim tự tháp và thành La Mã của nước ngoài. Anh bảo đến lúc ấy, anh sẽ cho mỗi người chúng tôi làm nhân viên quản lí văn hóa của thành phố thơ ca này, mỗi tháng đều trả chúng tôi hàng ngàn, hàng ngàn đồng lương. Nhưng hiện tại chúng tôi đang mệt lử sắp chết, ngay đến hai trăm đồng trợ cấp một tháng anh cũng không trả chúng tôi đúng hạn, theo anh, anh có giữ lời hứa, nói thế nào làm đúng như thế không!?

Mẹ kiếp, chỉ hứa hão, anh còn coi là giáo sư cái quái gì!

Mẹ kiếp, anh là một thằng điên, kẻ lừa đảo, là một tên mắc bệnh tâm thần. Nếu không có tiền, hiện giờ anh phải xéo về kinh thành, về trường đại học cứt chó của anh, hẹn trong vòng nửa tháng anh phải đem toàn bộ số tiền nợ chúng tôi về đây. Không đem về chúng tôi sẽ đập vỡ toàn bộ đá khắc chữ, dỡ ra khiêng vào thành bản. Anh không nói chúng tôi cũng biết, chỉ cần chúng tôi chở số đá khắc chữ này ra thành phố bán một viên cũng còn cao hơn lương một tháng anh trả chúng tôi.

Họ giục, nói đi, xét đến cùng anh có trả chúng tôi không hả?

Nói đi anh, rút cuộc anh có về kinh thành lấy tiền không? Mẹ kiếp, rút cuộc anh có về kinh thành lấy tiền không?


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mot Sach đưa lên
vào ngày: 14 tháng 7 năm 2025

« Lùi
Tiến »