Mùa Hạn Kinh Hoàng

Lượt đọc: 1492 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 18

Trang trại nhà Hadler trông thật khác biệt khi Falk lái xe đến. Dải băng niêm phong rách nát trước cửa đã được người ta tháo bỏ đi. Ở hai bên, tấm rèm và tấm chắn sáng đã được kéo ra và mọi ô cửa sổ đều được hé mở một chút.

Ánh nắng của buổi ban ngày chiếu gay gắt, Falk đưa tay với lấy cái mũ khi anh mở cửa xe bước ra ngoài. Anh kẹp chiếc hộp đựng các món đồ của Karen và Billy dưới cánh tay rồi bước trên lối đi dẫn vào nhà. Cửa trước mở. Bên trong, mùi chất tẩy đã không còn nồng nặc như trước.

Falk thấy bà Barb đang khóc trong phòng ngủ chính. Bà ngồi trên mép chiếc giường ngủ cỡ lớn của Luke và Karen, đồ đạc trong ngăn kéo bị đổ ra trên tấm chăn lông vịt màu xanh lá. Mấy đôi tất cuộn tròn và mấy chiếc quần đùi ống rộng nhàu nát để lẫn lộn với vài cái nắp bút và đồng xu. Những giọt nước mắt lã chã trên gò má chảy xuống ướt đẫm tập giấy màu trên đùi bà.

Bà giật mình khi Falk khẽ gõ cửa, và khi bước lại gần anh có thể thấy bà đang cầm một tấm thiệp tự làm nhân ngày của Cha. Bà dùng ống tay áo lau nước mắt trên mặt và đưa tấm thiệp về phía Falk.

“Không có bí mật nào an toàn ở một nơi gọn gàng ngăn nắp, phải không? Hóa ra thằng Billy cũng không giỏi đánh vần giống bố nó.”

Bà cố cười nhưng giọng bà nghẹn ngào. Falk cảm thấy bờ vai bà run lên khi anh ngồi xuống và vòng tay ôm lấy bà. Căn phòng trở nên ngột ngạt hơn khi luồng khí oi ả bên ngoài phả vào qua ô cửa sổ mở. Anh lặng thinh không đáp. Bất kể thứ gì ô cửa sổ này đưa ra bên ngoài đều quan trọng hơn nhiều so với những thứ tràn vào bên trong.

“Bác Gerry nhờ cháu ghé qua đây.” Falk nói khi tiếng nức nở của bà Barb nhỏ dần. Bà sụt sùi.

“Ừ, cháu yêu. Ông ấy có nói rồi. Bác nghĩ ông ấy đang dọn rửa cái nhà kho lớn.”

“Bác ấy có nói là về chuyện gì không ạ?” Falk hỏi, tự thắc mắc có bao giờ Gerry cân nhắc việc tin tưởng người vợ của ông. Bà Barb lắc đầu.

“Không. Chắc ông ấy muốn đưa cho cháu thứ gì đó của Luke. Bác không biết. Ông ấy muốn dọn dẹp chỗ này trước tiên. Ông ấy nói đã đến lúc chúng ta phải đối mặt với chuyện này.”

Câu nói cuối cùng như nghẹn lại khi bà cầm đôi tất của Luke lên và gương mặt lại đầm đìa nước mắt.

“Bác đang cố nghĩ xem liệu còn đồ vật gì mà Charlotte thích không. Con bé ngày càng héo hon.” Giọng bà Barb nghẹt lại đằng sau lớp khăn giấy. “Dường như những gì hai bác làm chẳng giúp gì cho con bé cả. Hai bác để nó lại cho một người giữ trẻ. Gerry có gợi ý mang con bé theo. Cho con bé xem liệu còn thứ gì quanh đây có thể giúp nó tươi tỉnh hơn không. Tất nhiên bác đã nói với ông ấy bác không đồng ý việc đó. Không đời nào bác lại đưa nó về ngôi nhà này sau tất cả những chuyện kinh khủng đã xảy ra ở đây.”

Falk xoa lưng an ủi bà Barb. Anh đưa mắt nhìn quanh căn phòng khi bà khóc. Ngoài một lớp bụi, mọi thứ đều ngăn nắp và sạch sẽ. Karen đã cố gắng để căn phòng luôn gọn gàng, nhưng sự đụng chạm của những nhân viên khám nghiệm hiện trường đã khiến căn phòng trông như từng có rất nhiều người ở đây.

Những bức ảnh trẻ sơ sinh được đóng khung đặt trên chiếc tủ com mốt trông có vẻ là hàng chất lượng cao nhưng thực tế là hàng đã qua sử dụng một lần, thậm chí nhiều lần. Toàn bộ số tiền dành để trang trí đổ hết vào phòng của mấy đứa trẻ. Qua khe hở của chiếc tủ quần áo, Falk có thể thấy nhiều quần áo được treo trên cái giá làm từ nhựa dẻo. Bên trái, áo phông tay ngắn của phụ nữ được treo bên cạnh áo choàng, quần lao động, một bộ váy mùa hè trông khá kỳ quái. Quần và áo phông của Luke được nhồi nhét vào khoảng trống hẹp hơn ở bên phải.

Hai bên của chiếc giường dường như có người nằm ngủ thường xuyên. Trên chiếc bàn để đầu giường của Karen có một con robot đồ chơi, một lọ kem dưỡng da ban đêm và một chiếc kính đọc sách đặt trên một đống sách báo. Ở bên phía của Luke, chiếc sạc di động vẫn đang được cắm vào ổ điện, bên cạnh là một tách cà phê chưa rửa, một bức tranh vẽ tay có dòng chữ “Daddy” được viết nghều ngoào trên trang giấy. Vỏ gối vẫn còn dấu vết bị đè lên. Falk nghĩ chắc chắn Luke Hadler đã không ngủ trên trường kỷ ở bên ngoài trong những ngày trước khi anh và gia đình mình qua đời. Đây nhất định là căn phòng có hai người ở.

Hình ảnh căn phòng ngủ của Falk bất ngờ lóe lên trong tâm trí anh. Anh chủ yếu nằm ngủ ở giữa giường trong mấy ngày gần đây. Tấm khăn trải giường vẫn là màu xanh hải quân giống như khi anh còn niên thiếu. Nếu ai đã từng nhìn thấy nó trong quá khứ thì rất khó để gợi ý một màu khác trung tính hơn. Anh biết dịch vụ dọn dẹp gõ cửa căn hộ của anh hai lần mỗi tháng thường không có nhiều việc để làm. Anh không tích trữ, cũng không giữ lại nhiều đồ đạc làm kỷ niệm và tận dụng toàn bộ đồ nội thất được bỏ lại cách đây ba năm, đó là khi căn hộ hai người của anh chỉ còn lại một mình anh sinh sống.

“Anh là một người khó hiểu.” Đó là những lời cuối cùng mà cô nói trước khi bỏ đi. Cô đã nói như vậy trong suốt hai năm kể từ khi họ ở cùng nhau. Ban đầu là ngạc nhiên, sau đó là lo lắng, cuối cùng là buộc tội. Tại sao anh không thể để cô bước vào cuộc sống của mình? Tại sao anh không để cô hiểu anh rõ hơn? Anh không tin cô ư? Hay tình yêu của anh chưa đủ lớn? Câu trả lời cho những câu hỏi đó bị bỏ ngỏ đến giờ, và giờ đây anh nhận ra tất cả đã quá muộn. Khoảng lặng giữa hai người đã trở nên đủ lâu để cả hai cùng nghe thấy hồi chuông báo tử cho cuộc tình của họ. Kể từ đó, chiếc bàn bên cạnh giường của Falk chẳng còn gì ngoài mấy cuốn sách, một chiếc đồng hồ báo thức và thi thoảng là một hộp bao cao su đã cũ.

Bà Barb sụt sịt to hơn, tiếng khóc của bà đưa tâm trí anh trở về thực tại. Falk cầm lên tấm thiệp Ngày của Cha trên đùi bà và nhìn xung quanh xem liệu còn chỗ nào trống để đặt nó.

“Thấy không. Chính xác đó là vấn đề đấy.” Barb nói, đôi mắt đỏ hoe dõi theo anh. “Cháu nghĩ xem bác phải giải quyết đống đồ đạc này như thế nào? Có quá nhiều thứ nhưng lại chẳng có chỗ nào để đặt cả. Bác không thể cất giữ toàn bộ trong ngôi nhà của bác, nhưng bác cũng chẳng thể nhẫn tâm bỏ chúng lại như thể chúng không liên quan gì đến mình…”

Giọng bà trở nên to hơn khi bà bắt đầu vơ lại toàn bộ những đồ vật kỳ lạ đó và ôm chặt chúng trước ngực. Vài ba chiếc quần đùi ở trên giường, con robot đồ chơi, cái kính của Karen. Bà cầm lên những quyển sách trên chiếc bàn cạnh giường và nói to: “Lạy Chúa tôi, mấy quyển sách trời đánh thánh vật này. Không biết bao giờ mới trả lại được cho bên thư viện đây?” Bà quay sang Falk, khuôn mặt đỏ bừng vì tức giận.

“Không ai nói cho cháu biết mọi chuyện sẽ diễn ra như thế này phải không? Phải rồi, người ta sẽ cảm thấy thương tiếc trước nỗi mất mát của cháu, nhưng không ai nhắc cháu phải xử lý đống đồ đạc của người con trai đã mất của mình như thế nào, cũng như làm thế nào để trả lại những cuốn sách cho thư viện, phải không? Không ai bảo cháu cách để đối mặt với việc đó cả.”

Thoáng cảm thấy tội lỗi, Falk nghĩ đến hộp đồ dùng của Karen và Billy mà anh đang để ngoài cửa phòng ngủ. Anh vội chộp lấy mấy quyển sách từ tay bà Barb, kẹp chúng dưới cánh tay và nhìn bà.

“Cháu có thể giữ chúng cho bác. Hãy để cháu…” Anh dẫn bà đi thẳng qua phòng của Billy và thở phào nhẹ nhõm khi bước đến căn bếp tươi sáng. Anh đưa bà Barb tới chỗ cái ghế đẩu. “Hãy để cháu pha cho bác một tách trà.” Anh nói nốt câu nói bỏ dở của mình, sau đó với tay mở cánh cửa tủ gần nhất. Anh không biết mình sẽ tìm được gì trong đó, nhưng anh cho rằng căn bếp nơi xảy ra một vụ án mạng cũng phải có vài ba cái cốc.

Bà Barb lặng lẽ quan sát anh trong một phút, sau đó xì mũi rồi đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu.

“Để bác, bác biết mọi thứ được cất ở đâu.”

Cuối cùng hai người phải chấp nhận cà phê đen uống liền. Chiếc tủ lạnh đã trống trơn trong suốt hơn hai tuần.

“Bác chưa bao giờ nói cảm ơn cháu, Aaron.” Bà Barb nói lúc hai người đợi nước sôi. “Vì đã giúp hai bác. Vì đã điều tra xem điều gì thực sự xảy ra.”

“Barb, cháu chưa làm được gì như lời bác nói cả.” Falk trả lời bà. “Bác hiểu những điều cháu đang làm cùng với trung sĩ Raco đều không được đưa vào hồ sơ mà, phải không? Chúng cháu chỉ đặt ra vài câu hỏi thôi. Không có gì là chính thức hết.”

“Ồ, phải rồi. Dĩ nhiên, bác hiểu điều đó.” Bà nói bằng giọng mà anh có thể cảm nhận được một điều trái ngược hoàn toàn. “Nhưng cháu khiến tất cả mọi người phải kinh ngạc. Điều đó cũng đủ để tạo ra sự khác biệt rồi. Mọi thứ đang bắt đầu xáo trộn.”

Hình ảnh Ellie lóe lên trong tâm trí Falk, và anh mong rằng bà Barb sẽ không phải hối tiếc về sau này.

“Luke luôn biết ơn vì có một người bạn như cháu.” Bà vừa nói vừa rót nước sôi ra ba cái cốc.

“Cảm ơn bác” Anh đáp lại ngắn gọn, nhưng bà Barb lại cảm thấy có điều gì đó trong giọng của anh.

“Thật sự đấy.” Bà khẳng định. “Bác biết nó không giỏi nói ra mấy điều này, nhưng quả thực nó cần một người bạn như cháu trong cuộc sống của nó. Một người bình tĩnh, một cái đầu biết suy nghĩ và hiểu chuyện. Bác luôn cho rằng đó là điều khiến Luke bị thu hút bởi Karen. Nó đã nhìn thấy ở con bé những nét tính cách tương tự.” Bà mở chiếc ngăn kéo bên tay phải ra và tìm thấy một cái muỗng. “Cháu đã bao giờ gặp Karen chưa?”

Falk lắc đầu.

“Thật đáng tiếc, bác nghĩ rằng cháu sẽ yêu quý con bé. Nó khiến bác… nó từng khiến bác, nhớ về cháu rất nhiều. Đôi khi bác nghĩ con bé lo lắng rằng nó hơi có một chút… Bác không biết nữa, ngốc nghếch, có lẽ là vậy. Rằng con bé là người cản trở Luke chạm tới những ước mơ lớn lao của mình. Nhưng con bé không phải người như vậy. Nó mạnh mẽ và thông minh. Và nó thực sự là mảnh ghép hoàn hảo cho thằng Luke. Nó giúp con trai bác trở nên cứng rắn hơn. Cả hai người đều giúp con trai bác trở nên như vậy.” Bà Barb nhìn Falk một hồi lâu, đầu nghiêng sang một bên vẻ buồn rầu. “Lẽ ra cháu nên trở lại để tham dự đám cưới của hai đứa chúng nó. Hoặc trở lại bất cứ lúc nào. Mọi người đều rất nhớ cháu.”

“Cháu…” Anh định nói rằng anh bận bịu với công việc của mình, nhưng có điều gì đó ở biểu cảm trên khuôn mặt bà khiến anh ngần ngại không dám nói ra. “Thực ra, cháu có cảm giác mình sẽ không được chào đón.”

Bà Barb Hadler bước qua căn bếp đã từng một thời là của mình, vươn tay ra và ôm lấy Falk. Bà ôm anh thật chặt, cho đến khi trong lòng anh dâng lên một cảm giác căng thẳng đến khó tả.

“Cháu, Aaron, cháu luôn được chào đón trong gia đình bác.” Bà Barb nói. “Đừng bao giờ bận tâm đến những điều khác.” Bà buông tay ra và trong một khoảnh khắc bà chợt trở thành Barb Hadler thời trẻ. Bà đưa cho anh hai tách cà phê nghi ngút khói, kẹp mấy cuốn sách thư viện dưới cánh tay anh và gật đầu về phía cửa sau với ánh mắt lên niềm yêu thương của một người mẹ.

“Đưa mấy thứ này cho ông chồng của bác nhé, để ông ấy biết rằng nếu ông ấy muốn dọn dẹp ngôi nhà thì đừng trốn trong nhà kho nữa mà hãy tự mình làm đi.”

Falk theo bà Barb ra lối cửa sau để bước ra ngoài dưới ánh mặt trời chói chang. Anh cẩn thận để cà phê không bị sánh ra cổ tay khi tránh một cây gậy bóng chày đồ chơi nằm lăn lóc trên mặt đất.

Có phải cuộc sống của chính anh có thể đã trở thành như thế này không? Falk bỗng tự hỏi. Gậy bóng chày của trẻ con và cà phê trong nhà bếp của một trang trại? Anh cố gắng tưởng tượng ra viễn cảnh đó. Làm việc bên cạnh cha mình ở ngoài trời, chờ đợi cho đến lúc ông bắt tay anh và thông báo đã đến giờ nghỉ ngơi. Dành ra mỗi tối thứ Bảy hàng tuần để thư giãn cùng với Luke ở quán Fleece. Rồi một đám cưới ấm cúng, hạnh phúc diễn ra ở vùng thôn quê, chín tháng sau đứa bé đầu tiên chào đời. Một năm sau sẽ là đứa thứ hai. Vai trò làm cha sẽ không tự nhiên mà đến một cách trọn vẹn, anh biết, nhưng anh sẽ cố gắng hết sức có thể. Người ta nói mọi chuyện sẽ rất khác khi bản thân trở thành một người cha.

Những đứa trẻ của anh sẽ làm bạn với con của Luke, đây là điều chắc chắn. Chúng sẽ tận dụng mọi cơ hội để phá phách ở trường, phải rồi, nhưng ngoài ra còn rất nhiều mảnh đất để chúng có thể nô đùa trên đó.

Thời gian làm việc ngoài đồng ban ngày hiển nhiên sẽ kéo dài, nhưng những buổi tối quây quần bên gia đình sẽ rất ấm áp, ngập tràn tiếng cười và âm thanh. Tình yêu thương. Sẽ luôn có người chờ đợi anh dưới ánh đèn sau cánh cửa. Người đó có thể là ai chứ? Anh nghĩ. Ellie chăng?

Đột nhiên, hình ảnh đó bắt đầu mờ dần rồi tan biến. Nếu như cô còn sống. Nếu như anh ở lại. Mọi thứ có thể đã rất khác. Suy nghĩ đó hoàn toàn là mộng tưởng. Quá nhiều cơ hội đã bị bỏ lỡ để cảnh tượng đó xảy ra.

Falk đã chọn cuộc sống ở Melbourne. Và anh vui vẻ với lựa chọn của mình, anh nghĩ vậy. Anh thích việc đi dạo dưới phố, xung quanh có hàng tá người nhưng không một ai nhận ra anh. Anh yêu thích công việc thử thách bộ não hơn là đè nặng lên tấm lưng của anh.

Cuộc sống là cho đi và nhận lại. Căn hộ của anh có thể yên tĩnh và trống vắng khi anh trở về nhà vào cuối ngày, nhưng không còn những đôi mắt tò mò nhìn anh dò xét như thể biết tất cả mọi chuyện. Hàng xóm không chỉ trích anh, không quấy rầy cũng như không lan truyền những tin đồn về gia đình anh. Họ không để xác động vật trước cửa nhà anh. Họ để anh sống một cách yên ổn.

Anh biết mình có một thói quen là hạn chế trở nên quá thân thiết với ai đó, thường giữ mối quan hệ xã giao hơn là kết bạn. Nhưng như thế còn tốt hơn là có ai đó bất chợt đến rồi đi trong cuộc đời anh như thể một bong bóng nổi lên và vỡ tan trên mặt nước. Và đúng vậy, anh ngày ngày vật lộn với một lịch trình làm việc không đổi, và dành phần lớn thời gian dưới ánh sáng bóng đèn huỳnh quang ở cơ quan, nhưng chí ít kế sinh nhai của anh không bị phụ thuộc quá nhiều vào sự thay đổi thất thường của thời tiết. Chí ít bầu trời không một gợn mây cũng không làm anh thấy sợ hãi và tuyệt vọng, và anh cũng không phải mong mỏi chờ đợi rằng liệu bầu trời như vậy còn có thể mang lại những tín hiệu thời tiết tốt lành hay không.

Luke Hadler có thể đang đợi anh dưới ánh đèn khi anh trở về nhà, nhưng nỗi khốn khổ và tuyệt vọng ở thị trấn đó đã thấm dần qua cánh cửa, bám chặt lấy ngôi nhà của anh. Và ngôi nhà dần trở nên mục rữa, nặng nề và tối tăm, đủ để làm lu mờ ánh đèn trong đó mãi mãi.

Tâm trạng của Falk không được tốt khi hai người bước tới chỗ Gerry, ông đang dựa vào một cái chổi đặt bên ngoài nhà kho. Ông ngạc nhiên khi nhìn thấy họ tiến lại gần, và đưa ánh mắt lo lắng liếc nhìn người vợ.

“Bác không biết rằng cháu đã đến.” Ông nói khi Falk đưa cho ông tách cà phê.

“Falk đã ở trong nhà giúp đỡ em.” Bà Barb nói.

“Phải rồi. Cảm ơn cháu.” Giọng Gerry ngập ngừng.

“Vẫn còn rất nhiều việc phải làm đấy, sau khi anh dọn xong đống bừa bộn ngoài này.” Bà Barb mỉm cười với chồng mình. “Trông có vẻ anh làm việc không năng suất bằng em.”

“Anh biết rồi. Anh xin lỗi. Dọn dẹp ở đây khó khăn hơn anh tưởng.” Gerry quay sang Falk. “Bác nghĩ đã đến lúc hai bác phải đối mặt với chuyện này. Đương đầu với mọi thứ.” Rồi ông quay về phía ngôi nhà. “Nghe này, cháu còn thích đồ vật nào ở trong nhà nữa không? Tranh ảnh hay bất cứ thứ gì khác? Cháu cứ tự nhiên nhé.”

Falk không thể tưởng tượng được anh lại muốn lấy một món đồ từ căn nhà kinh hoàng đó làm vật kỷ niệm cho mình. Anh chỉ nhẹ nhàng lắc đầu.

“Cháu ổn, cảm ơn bác Gerry.”

Anh nhấp một ngụm cà phê lớn, nuốt nhanh đến nỗi suýt bị nghẹn. Anh chợt cảm thấy đến tuyệt vọng muốn đi khỏi nơi này ngay lập tức. Anh thầm mong bà Barb rời đi để anh có thể nói chuyện riêng với ông Gerry.

Nhưng họ chỉ lặng lẽ uống cà phê, cùng nhau nhìn ngắm đường chân trời. Từ phía xa xa, Falk có thể nhìn thấy trang trại của Mal Deacon lọt thỏm và xấu xí bên sườn đồi hoang vắng. Anh nhớ lại lời của người phục vụ quầy bar về việc trang trại của Deacon sẽ thuộc về gã cháu trai.

“Hai người sẽ làm gì với nơi này?” Falk hỏi. Gerry và Barb đưa mắt nhìn nhau.

“Thực ra hai bác vẫn chưa quyết định.” Ông Gerry nói. “Chắc hai bác sẽ phải bán nó. Nếu có thể. Số tiền ấy sẽ dành để nuôi dưỡng Charlotte. Có thể chúng ta sẽ phải san ủi ngôi nhà, và bán mảnh đất mà thôi.” Bà Barb tặc lưỡi tỏ ý không tán thành và Gerry nhìn bà.

“Phải, anh biết mà, em yêu.” Giọng ông nghe có vẻ nhượng bộ. “Nhưng anh không thấy ai lại muốn ở trong căn nhà này sau tất cả những gì đã xảy ra, phải không? Và cũng chẳng có ai bên ngoài thị trấn lại chuyển tới đây để sinh sống.”

“Deacon hay Dow có nói gì về việc muốn hợp tác không?” Falk nói. “Gộp cả hai trang trại lại để bán cho những nhà đầu tư châu Á?”

Bà Barb quay sang nhìn anh, vẻ mặt bộc lộ sự phẫn nộ. “Năm đô đổi lấy mười đô bác cũng không bán cho hai gã đó, chứ chưa nói đến việc hợp tác. Phải không Gerry?”

Chồng bà lắc đầu, nhưng Falk cho rằng ông nhạy bén hơn về tình hình thị trường đất đai ở Kiewarra.

“Chúng ta chẳng có gì ngoài ba mươi năm đau đáu về mảnh đất phía bên kia hàng rào.” Bà Barb tiếp tục, nhưng giọng to hơn một chút. “Hai bác sẽ không giúp hắn. Mal đã từng lén lút dịch chuyển đường phân chia ranh giới vào ban đêm, cháu biết điều đó chứ? Làm như hai bác ngu ngốc lắm mà không nhận ra. Tự mình làm những điều để bản thân không bị thua thiệt. Bác còn biết chính hắn là người đã cán chết con chó của Luke năm xưa, cho dù hắn một mực phủ nhận. Cháu còn nhớ chuyện đó không?”

Falk gật đầu. Luke vô cùng yêu quý con chó đó. Năm ấy anh mười bốn tuổi và đã khóc nức nở khi ẵm xác con chó bên lề đường.

“Và khi hắn còn trẻ, hắn luôn mời về nhà mấy gã trên thị trấn, tụ tập hàng giờ đồng hồ, phải không Gerry? Say xỉn rồi làm náo loạn cả mấy con phố trên những chiếc xe của họ. Bật nhạc xập xình suốt đêm khi biết rằng mọi người đây đều phải dậy từ tờ mờ sáng để lo việc đồng áng.”

“Chuyện đó cách đây đã rất lâu rồi, em yêu.” Gerry nói, và bà Barb quay sang phía ông.

“Anh đang bào chữa cho hắn đấy à?”

“Không. Lạy Chúa, không hề. Anh chỉ nói sự thật mà thôi. Từ lâu rồi hắn không còn đủ sức để làm thế nữa, phải không nào? Em biết rõ điều đó mà.”

Falk suy nghĩ về cuộc chạm trán kỳ lạ với Deacon ở quán rượu hôm nọ.

“Hình như ông ta bị mắc chứng bệnh mất trí nhớ thì phải.”

Bà Barb khịt mũi tỏ vẻ khinh bỉ. “Đó là cách mà người ta gọi à? Một tên khốn say xỉn cuối cùng cũng gặp quãng đời khốn khó của hắn, đó là cách mà bác gọi nếu cháu hỏi bác.”

Bà nhấp một ngụm cà phê và nhìn về phía mảnh đất của Deacon. Khi bà tiếp tục, Falk có thể nhận ra có lòng thương tiếc trong đó.

“Bác cảm thấy thương xót cho con bé Ellie nhất. Chí ít chúng ta có thể không giao du với hắn, nhưng con bé tội nghiệp đó phải sống chung với hắn. Bác nghĩ hắn quan tâm tới con bé theo cách riêng của hắn, nhưng hắn đã quá cảnh giác và phòng thủ. Anh còn nhớ vụ cánh đồng phía trên chứ Gerry?”

“Chúng ta đã không thể chứng minh được là do ông ta làm.”

“Ừ, nhưng sự thật là thế. Còn ai vào đây nữa?” Bà Barb quay sang Falk. “Đó là khi mấy đứa các cháu khoảng mười một tuổi, không lâu sau khi mẹ của Ellie bỏ đi - không phải là bác đổ lỗi cho bà ấy. Nhưng con bé đã bị bỏ rơi, nó tuyệt vọng, phải không Gerry? Con bé gầy còm, nó không được ăn uống đầy đủ. Ánh mắt nó lúc nào cũng như thể đã đến ngày tận thế trên trái đất. Cuối cùng bác đã tới gõ cửa nhà Mal để nói rằng con bé không ổn và hắn phải làm gì đó, hoặc là con bé sẽ đổ bệnh nếu cứ chìm trong đau khổ như vậy.”

“Ông ta đã nói gì?”

“Hừ, hắn đóng sập cửa trước khi bác kịp nói bất kỳ lời gì, như cháu biết đấy. Rồi một tuần sau cánh đồng phía trên của nhà bác chết héo hết cả. Không một lời cảnh báo, chẳng có gì cả. Chúng ta đã tiến hành vài xét nghiệm và nhận ra độ axit trong đất không hề bình thường một chút nào.”

Gerry thở dài. “Phải. Có thể do ông ta làm, nhưng…”

“Nhưng sẽ dễ dàng hơn rất nhiều khi hàng xóm của anh đổ một đống hóa chất lên đó.” Bà Barb nói. “Năm đó chúng ta đã thất thoát hàng ngàn đô. Hai bác đã phải vật lộn rất nhiều để không phải vay nợ ai. Và những mất mát đó chưa bao giờ được đền bù xứng đáng.”

Falk có nhớ cánh đồng đó, và anh nhớ cả những cuộc đối thoại căng thẳng quanh bàn ăn nhà Hadler năm xưa.

“Tại sao ông ta luôn lẩn tránh được sự trừng phạt của pháp luật?” Anh hỏi.

“Bởi vì chẳng có chứng cứ nào cho thấy là do ông ta làm cả.” Gerry đáp. “Nhưng…” Ông khoát tay khi bà Barb định cắt ngang. “Nhưng cháu biết cuộc sống ở đây là như thế nào mà, anh bạn. Mọi người sẽ phải đánh đổi rất nhiều nếu đứng lên và thay đổi tình hình. Cho đến giờ vẫn vậy. Ai cũng cần phải dựa vào nhau để sống. Mal Deacon buôn bán hàng hóa với rất nhiều người trong số chúng ta, và người ta cũng giao dịch buôn bán với ông ta rất nhiều. Và ông ta đã chiếm được thiện cảm của mọi người, xóa mờ những chuyện không hay ngày xưa. Nếu cháu chống lại ông ta, cháu sẽ chống lại rất nhiều người khác nữa. Khi đó việc buôn bán và thư giãn uống bia trong thị trấn của cháu sẽ trở nên rất khó khăn. Mà cuộc sống hiện tại thì đã quá đủ khó khăn rồi.”

Bà Barb nhìn ông chằm chằm.

“Con bé quá đau khổ, đó là lý do vì sao nó đắm mình tự vẫn, Gerry.” Bà thu lại mấy cái cốc, tiếng sứ đập vào nhau chan chát. “Bỏ qua mấy chuyện kinh doanh với chuyện rượu bia đi. Lẽ ra giờ này chúng ta đã làm được rất nhiều rồi. Em sẽ gặp lại anh trong nhà. Còn hàng ngàn việc phải làm khi anh sẵn sàng đấy.”

Bà quay người và hậm hực đi về phía ngôi nhà, dùng ống tay áo vuốt mặt khi bước đi.

“Bà ấy nói đúng.” Gerry nói, nhìn bà bước đi. “Dù thế nào thì con bé Ellie vẫn đáng được hưởng những thứ tốt đẹp hơn.” Ông quay sang Falk, đôi mắt không còn cảm xúc gì nữa. Như thể ông đã đốt cháy năng lượng cả một đời người chỉ trong vài tuần vừa qua. “Cảm ơn vì cháu đã đến đây. Hai bác nghe nói cháu đang điều tra vài nghi vấn liên quan đến Luke.”

“Mới bắt đầu thôi ạ.”

“Bác có thể hỏi cháu nghĩ gì không? Có phải Luke đã giết Karen và Billy?”

“Cháu nghĩ là…” Falk trả lời một cách thận trọng. “Có khả năng không phải do cậu ấy làm.”

“Lạy Chúa, cháu chắc chứ?”

“Không. Cháu nói là có khả năng.”

“Nhưng cháu nghĩ là có thể còn ai khác liên quan đến chuyện này.”

“Vâng, có thể.”

“Có liên quan đến việc đã xảy ra với Ellie không?”

“Cháu thực sự không biết, bác Gerry ạ.”

“Nhưng liệu có thể không?”

“Có thể.”

Một khoảng lặng. “Lạy Chúa. Nghe này, có điều này mà lẽ ra bác nên nói với cháu ngay từ đầu.”

Gerry Hadler cảm thấy nóng bức nhưng không phải là không vui về chuyện đó. Ông khe khẽ gõ nhịp lên chiếc vô lăng, miệng huýt sáo vang. Ánh nắng buổi chiều sưởi ấm cánh tay ông qua ô cửa sổ khi ông lái xe dọc theo con đường trống vắng. Họ đã có một mùa mưa liên tục kéo dài vào năm đó, mà mấy ngày nay, phong cảnh ngoài đồng khiến ông ấy cảm thấy thật dễ chịu.

Gerry liếc nhìn chai rượu sủi tăm đặt ở ghế sau. Ông lái xe vào thị trấn để mua một số đồ dùng và tình cờ rẽ vào cửa hàng đồ uống. Ông đã mua chai rượu này để tạo bất ngờ cho bà Barb, mong rằng giờ này bà đang làm món thịt cừu hầm ưa thích vào tối thứ Sáu. Gerry với tay bật đài radio. Đó là một bài hát có nhịp jazz yêu thích mà ông không tài nào nhớ nổi tên. Ông gật gù theo điệu nhạc, và chân đạp phanh khi một con đường cắt ngang xuất hiện trước mắt.

“Bác biết cháu và Luke đã nói dối về chứng cứ ngoại phạm của cháu vào cái ngày Ellie Deacon qua đời.” Giọng của ông Gerry nhỏ đến nỗi Falk phải căng tai ra để nghe. “Vấn đề là, bác nghĩ rằng có người khác cũng biết chuyện này.”

Còn hai mươi mét nữa mới tới ngã rẽ thì Gerry bắt gặp một bóng hình quen thuộc vụt qua trên một chiếc xe đạp. Con trai ông đang chúi đầu xuống và điên cuồng nhấn đôi pê-đan. Từ khoảng cách đó, tóc của Luke trông bóng mượt và sáng lên dưới ánh chiều tà. Gerry ngờ ngợ nhận ra có gì đó khang khác so với phong cách thường ngày của thằng bé. Thực sự không hợp với con trai ông cho lắm.

Luke đạp xe vụt qua đoạn đường cắt ngang mà không hề đưa mắt nhìn sang hướng khác. Gerry chỉ tặc lưỡi. Ông sẽ nhắc nhở thằng bé. Thế là đủ, con đường này cũng thường xuyên vắng vẻ, nhưng điều này không đồng nghĩa với sự an toàn. Nếu Luke tiếp tục đi như vậy, thằng bé đang tự dẫn mình vào chỗ chết.

“Thằng bé đi lại từ hướng nam, từ phía dòng sông. Không hề gần với cánh đồng mà hai đứa nói rằng đã ở đó. Cháu không hề ở với nó. Nó cũng không cầm khẩu súng săn nào cả.”

“Dòng sông không phải là thứ duy nhất ở phía nam.” Falk nói. “Còn có một dãy nông trại từ hướng đó là một. Thứ hai là con đường mòn dành để đi đạp xe.”

Gerry lắc đầu. “Luke không đi trên con đường mòn dành cho xe đạp. Khi ấy thằng bé mặc chiếc áo sơ mi màu xám mà nó rất thích vào thời điểm đó. Cháu biết đấy, cái áo bóng lộn trông khó coi mà nó chỉ dành mặc vào những dịp đặc biệt. Ấn tượng của bác là trông nó thật lạ lùng vào chiều hôm đó. Cảm giác như thằng bé đã ăn diện cho một cuộc hẹn hoặc một việc tương tự. Tóc của nó vuốt ngược ra đằng sau. Bác đã tự nhủ chắc thằng bé đang thử nghiệm một phong cách mới.” Gerry đưa tay lên mắt một lúc lâu. “Nhưng bác biết rằng tóc của thằng bé khi đó đang ướt.”

Luke vụt qua đoạn đường cắt ngang đúng lúc Gerry xuất hiện. Như để chắc chắn mình không lầm, Gerry tấp xe vào lề và nhìn kỹ cả hai hướng. Phía bên phải, bóng con trai ông đang nhỏ dần. Phía bên trái, ông chỉ có thể nhìn thấy đến ngã rẽ nhỏ xíu. Cả hai hướng đều không một bóng người. Gerry từ tốn nhấn chân ga và đi qua đoạn đường cắt ngang. Khi đã lái xe đi thẳng qua, ông đưa mắt liếc nhìn gương chiếu hậu.

Hình ảnh phản chiếu chỉ chớp nhoáng xuất hiện trong chưa đầy một giây. Nó gần như biến mất ngay sau khi ông vừa nhìn thấy: một chiếc xe bán tải chở hàng màu trắng vụt qua con đường đó. Từ bên trái. Đi theo hướng của con trai ông.

Falk im lặng một hồi lâu.

“Bác không nhìn thấy ai ngồi sau tay lái à?” Falk quan sát ông một cách kỹ lưỡng.

“Không. Bác không biết. Bác không quá để tâm vào lúc đó, và chiếc xe vụt qua nhanh đến nỗi bác không thể nhìn thấy. Nhưng dù đó là ai, bác dám chắc rằng họ đã nhìn thấy Luke.” Gerry không hề đưa mắt nhìn Falk. “Họ đã kéo xác của con bé từ dưới dòng sông lên ba ngày sau đó, và đó là ngày tồi tệ nhất trong cuộc đời của bác.” Ông bật cười một cách lạ lùng. “Chà, lúc đó, bức ảnh của con bé xuất hiện ở khắp mọi nơi, cháu nhớ chứ?”

Falk gật đầu. Cảm giác lại nhìn thấy bức ảnh vỡ nhòe của Ellie với đôi mắt đang nhìn chằm chằm xuất hiện trên báo suốt nhiều ngày sau đó. Mấy cửa hàng còn dán bức ảnh lên để làm một tấm áp phích tạm thời, thu tiền nhằm phục vụ cho chi phí của đám tang.

“Trong hai mươi năm bác đã sống trong nỗi sợ hãi rằng một ngày nào đó, người lái xe sẽ bước ra nói sự thật. Gõ cửa đồn cảnh sát rồi nói rằng họ đã nhìn thấy Luke vào ngày hôm đó.” Gerry nói.

“Có lẽ họ đã không nhìn thấy anh ấy”

“Có thể” Gerry đưa mắt nhìn trang trại của con trai mình. “Hoặc có thể khi họ quyết định gõ cửa, đó không phải là cánh cửa ở đồn cảnh sát nữa rồi.”

« Lùi
Tiến »