Tôi đang ngồi tại bàn làm việc của mình trước khi tiếng chuông tan học vang lên, khẽ gõ gót chân xuống sàn. Lắng nghe tiếng những bước chân trong trí nhớ - và quyết định đã đến. Tôi lấy ra danh sách phân môn giáo viên và dò tìm Davis Cobb giữa những cái tên. Tôi cần phải biết liệu đó có thể là ông ta hay không. Liệu ông ta có thể đã tới chỗ tôi mỗi sáng và gọi điện mỗi đêm hay không.
Davis Cobb sống ở đường Blue Stone, và tôi nhập địa chỉ của ông ta vào ứng dụng tìm đường. Theo bản đồ, ông ta sống cách chỗ này tới mười dặm, nhưng tôi đoán ông ta có thể đã lái xe đến một nơi nào đó gần đây và xuống đi bộ. Dẫu vậy, kết luận này dường như có chút vội vàng. Ông ta đặc biệt bỏ nhiều công sức như vậy, vì gì chứ?
Và rồi, trong một phút ngẫu hứng, tôi làm điều tương tự với Theo Burton. Cậu ta cũng sống cách đây nhiều dặm, dựa theo bản đồ, nhưng vị trí của cậu ta có vẻ gần hơn từ góc nhìn trên không, nếu tính thời gian chạy xe. Tôi chuyển chế độ xem tổng quan sang Trái đất thay vì Đường phố, và thấy rằng chúng tôi ở gần nhau hơn những gì ứng dụng bản đồ sẽ khiến bạn cho rằng là vậy, theo đường chim bay.
Cả hai chúng tôi đều sống gần hồ, mặc dù cậu ta ở phía bờ bên kia, nơi vẫn đang được tiếp tục xây dựng. Cách quán rượu Lakeside một vài dãy nhà, nơi mà Kyle đã tình nguyện đi bộ từ chỗ tôi đến. Nếu không tính theo đường bộ, chúng tôi gần như là hàng xóm của nhau. Chúng tôi chắc chắn có thể đã tình cờ chạm mặt trong khu rừng này khi đang lang thang trên vùng đất nằm ngoài sân sau của chúng tôi.
Tôi lôi bức phác thảo cảnh hồ của cậu ta ra khỏi ngăn bàn đã khóa của mình, mường tượng một cậu bé đang ngồi xổm và quan sát.
Cậu ta có để ý thấy cô ấy đi ngang qua từ cửa sổ sau nhà mình không? Hoặc nhìn thấy cảnh tượng này trong lúc ra ngoài để gặp gỡ một cô gái, vài người bạn, làm bất cứ điều gì mà những đứa trẻ quanh đây làm vào lúc nửa đêm? Cậu ta có theo dõi cuộc giằng co giữa Bethany Jarvitz và thủ phạm, thấy cú đánh, thấy máu đổ xuống mặt đất không? Hay cậu ta chỉ tình cờ phát hiện ra hiện trường sau đó? Hay tất cả những điều này đều là tưởng tượng của cậu ta - rằng cậu ta biết nơi cô ấy được tìm thấy, nên để lại thứ này cho tôi? Cậu ta phải chăng chỉ đơn thuần bị thu hút bởi những điều rùng rợn?
Tôi nhấc điện thoại lên trước khi học sinh xuất hiện và gọi tới di động của Kyle. “Donovan,” anh ấy trả lời.
“Chào anh, Leah đây, tôi đang tự hỏi rằng: Ai là người đã thông tin cho các anh hay rằng Davis Cobb đã ở dưới hồ cùng Bethany Jarvitz vào đêm hôm đó vậy? Ai là nhân chứng?”
Có một thoáng ngập ngừng, và giọng anh ấy trầm xuống. “Leah, tôi không thể làm điều này ngay bây giờ.” Giọng anh ấy quá trang trọng, quá cứng nhắc. Một khoảng cách hữu hình lơ lửng giữa chúng tôi.
“Được rồi,” tôi nói chậm rãi, nhận ra ẩn ý quen thuộc sau giọng nói đó. “Anh có muốn tôi gọi lại sau không?”
“Leah,” anh ấy lặp lại tên tôi, như thể lẽ ra tôi phải hiểu điều đó. Nhưng tôi không hiểu. Sự thay đổi đột ngột này, sau đêm ở nhà nghỉ, cách anh ấy gọi tên tôi, cách anh ấy nhìn tôi, tôi không hiểu.
“Gì cơ?” Tôi vặn lại trong sự im lặng kéo dài. Có điều gì đó mà anh ấy không nói. Có điều gì đó mà anh ấy đang giấu tôi.
Anh ấy thở dài. “Nghe này, khoảng bốn giờ tôi sẽ ghé qua, được chứ? Cô có ở nhà lúc ấy không?”
“Có,” tôi đáp, rồi anh ấy cúp máy, học sinh chen nhau ùa vào lớp, và tôi cảm thấy một sự mất phương hướng lạ lẫm không thể xác định.
Tôi sẽ có thời gian sau khi tan trường, nếu rời đi vào tiết trống thứ tư của mình, để tạt qua tiệm kim khí tổng hợp trên đường về nhà. Tôi chỉ hy vọng rằng sẽ không ai trong trường để ý hoặc quan tâm. Dẫu nhận ra bản thân đã dùng hết phần thiện chí và thấu hiểu mà Mitch phân phát cho, tôi vẫn rời đi. Tôi lại lẻn ra ngoài qua cửa hông, khóa trái phòng học sau lưng.
Khi trở về nhà, tôi đã mua một kìm cắt bu lông, kèm theo đó là một ổ khóa mới. Tôi kiểm tra đồng hồ - ba mươi phút trước khi Kyle xuất hiện. Tôi không còn nhiều thời gian.
Tôi bò thẳng trở lại dưới hàng hiên, thu mình vào góc tối, không còn sợ hãi bóng tối hay bất cứ thứ gì có thể đang lẩn khuất nơi đây nữa. Thay vào đó, tôi bị thôi thúc bởi một sức hấp dẫn vô hình.
Tôi đặt kìm cắt bu lông vào phần móc của ổ khóa Master, nghe thấy tiếng tách khi cảm nhận được kim loại đầu hàng trước sức mạnh của chiếc kìm. Tôi tháo ổ khóa hỏng xuống và mở cửa. Nó nằm thấp gần với mặt đất, được làm bằng loại gỗ dày, khoảng bằng kích thước của một cánh cửa chuồng chó hay một bộ đồ chơi. Tôi lách mình qua cửa, bóng tối gần như bao phủ hoàn toàn, chỉ trừ một vài tia sáng mỏng manh vẩn bụi ở phía xa. Theo như tôi có thể thấy, khoảng bò này trải khắp bên dưới ngôi nhà. Tôi chĩa đèn pin theo hình vòng cung khắp bên trong. Những đường ống chạy dưới mặt sàn phía trên, ống dẫn và lỗ thông hơi, lớp bảo ôn. Mặt đất lạnh lẽo nhưng được bao phủ bởi một tấm bạt nhựa. Toàn bộ nơi này có mùi như bụi bẩn và khí thải.
Tôi vung đèn pin rọi quanh không gian, bắt gặp ánh sáng lọt vào từ những lỗ thông hơi ở rìa sau ngôi nhà, và nhận ra rằng lối vào khoảng bò này chắc chắn đã được thiết lập trước khi xây dựng thêm hiên.
Vậy là không có gì ở đây. Không có gì bất thường. Ổ khoá ắt hẳn đã được chủ nhà thêm vào để giữ người ngoài khỏi táy máy dưới này. Để ngăn chặn lũ thú. Đã đến lúc quay trở vào nhà, làm sạch đất bẩn dưới những kẽ móng tay, chuẩn bị cho chuyến ghé thăm của Kyle.
Trừ việc, khi tôi xoay người về phía cửa, đèn pin rọi đến một chiếc thùng nằm trong góc. Lớp băng keo ánh kim cũ - giờ đã bị rạch ra - phản chiếu ánh sáng. Thùng có nét chữ viết tay của tôi, bằng bút Sharpie màu đen mà tôi đã cẩn thận đề EMMY lên trên cạnh thùng bằng những chữ cái in hoa.
Tôi lướt tay lên những góc cạnh cũ sòn, bị nấm mốc.
Cậu phải không mang theo bất cứ thứ gì khi rời đi. Đó chính là mánh. Đó là điều cô ấy đã nói với tôi hồi đó, khi cô ấy gói ghém đồ đạc trong căn hộ ở dưới hầm của chúng tôi, khi cô ấy chuẩn bị rời khỏi bang, rời khỏi đất nước, rời khỏi tôi. Nếu không thì sẽ rất khó để tiến về phía trước. Cậu là một phiến đá trơn. Cậu có thể là bất cứ ai. Cậu chẳng là ai cả.
Mình có thể làm điều đó không? Khi ấy, tôi đã tự hỏi mình câu hỏi đó, hồi cuộc đời của tôi cảm giác như không thể sửa chữa nổi, đi lệch khỏi trục của nó. Không, tôi nghĩ. Kể cả khi ấy cũng không.
Nhưng lần này, tôi là một ai đó can đảm hơn. Một ai đó giống như Emmy. Và những lời ấy tựa như một giai điệu.
Cậu là một phiến đá trơn. Cậu có thể là bất cứ ai. Cậu chẳng là ai cả. Và tôi đã theo cô ấy đến đây, để có một khởi đầu mới. Tôi đã mang rất ít đồ đạc theo mình.
Chiếc thùng này đã cùng tôi chuyển đến ba căn hộ trong vòng tám năm. Emmy đã bật cười vào đêm hôm đó, khi tôi nói với cô ấy rằng tôi vẫn còn giữ nó. Những lời tôi nói hòa lẫn với nhũng lời cô ấy. Một chai vodka rỗng đặt giữa chúng tôi, rượu vang tràn xuống cổ họng từ những ly nhỏ không chân. Một suy nghĩ chợt nảy ra từ hư không, và cô ấy chộp lấy, cất tiếng: Này, cuối cùng thì cậu có giữ cái thùng đấy không? Cái thùng mà tớ để lại khi tớ chuyển đi ấy?
Và tất nhiên là tôi đã giữ nó. Như thể tôi đã chờ đợi cô ấy bấy lâu nay. Như thể cô ấy biết tôi sẽ luôn làm vậy.
Tại nơi ở cũ của tôi ở Boston, có một tủ đồ treo tường bên trên tủ lạnh, nơi không ai có thể với tới, và cũng chẳng có gì ngoài những thứ tôi trữ lại nhưng không dùng đến. Một chiếc thùng của riêng tôi, nhét đầy những cuốn kỉ yếu cũ và ảnh chụp gia đình. Và đằng sau đó, chiếc thùng của cô ấy. Tôi đã bắc một chiếc ghế đẩu lên để dỡ nó xuống, và cả những thứ còn lại đang chắn đằng trước chiếc thùng.
Cô ấy đã bật cười khi nhìn thấy chiếc thùng, bật cười và đặt nó xuống sàn, lên trên áo khoác của cô ấy, bên cạnh đôi giày của cô ấy. Tôi đã không nghĩ đến nó thêm lần nào nữa. Cô ấy đã rời đi cùng với chiếc thùng vào buổi sáng hôm đó trong khi tôi đang ngồi máy tính, tính cách bỏ lại cuộc đời của mình sau lưng và chu cấp cho bản thân ở một nơi đồng không mông quạnh, một nơi mà cô ấy đã chọn từ một chiếc phi tiêu và một tấm bản đồ. Định mệnh, cô ấy đã nói như thế.
Phần trên đóng kín nhưng không bị niêm phong, các tai thùng gài hờ vào nhau. Tôi biết cô ấy hẳn đã soát lại đồ đạc trong thùng khi rời khỏi chỗ tôi, mang theo chiếc đồng hồ của John Hickelman, khởi động lại trò chơi. Tôi biết rằng tôi đã vượt qua bài kiểm tra bằng cách không bao giờ nhìn vào bên trong.
Nhưng giờ nó đang ở đây, còn Emmy thì biến mất. Và cô ấy đã giấu nó kĩ càng khỏi tầm mắt người khác, đằng sau một ổ khóa mà hẳn là của cô ấy. Tôi mở nắp thùng, không thể chờ đợi thêm một khắc nào nữa.
Nó có mùi tựa như giấy bìa và hơi lạnh.
Tôi thò tay vào bên trong, cảm giác như đang khai quật được một trong số những chiếc hộp thời gian mà chúng tôi đã chôn hồi tiểu học, chờ đợi thế hệ tiếp theo: xu hướng thời trang và sự kiện mang tính thời sự của chúng tôi, những mẩu báo được cắt ra và ép nhựa dày, một tấm ảnh đóng khung của lớp tôi; những thứ mà chúng tôi nghĩ sẽ đánh dấu thời gian.
Đồ đạc trong chiếc thùng của Emmy: gạt tàn mà cô ấy đã lấy từ một nhà hàng; nam châm có hình dạng giống như khúc cong của Mũi Massachusetts, với tên của quán bar nơi cô ấy đã làm việc; một cây thánh giá ngoại cỡ treo trên một sợi dây chuyền mà hẳn cô ấy đã thó từ tủ đầu giường của ai đó; một chiếc bật lửa màu xanh lá cây neon trong suốt với dòng chữ Tôi ❤️ Bãi Biển mà tôi nhớ chúng tôi từng dừng nó để thắp nên khi mất điện; và một chiếc chìa khóa. Chiếc chìa khóa có màu vàng kim, lành lạnh khi chạm vào, được gắn vào móc chìa khóa màu xanh-lá-và-tím, những sợi dây nhựa đan lại với nhau theo cách chúng tôi đã làm vòng tay tình bạn khi còn con nít. Bên dưới các món đồ là một lớp giấy mỏng, hơi dính vào bìa các tông. Phải mất một lúc tôi mới nhận ra có lớp lót này, và đó là những tấm ảnh.
Mạch tôi đập nhanh hơn, không khí mát lạnh lướt trên da, và tôi có cảm giác này - rằng tôi sắp sửa khám phá ra chính bản thân Emmy. Tôi nhặt tấm ảnh đầu tiên lên, nó đã cũ, có chút ố vàng ở các góc. Đó là bức ảnh chụp một người phụ nữ với mái tóc dài màu vàng gợn sóng, mặc quần cạp cao ống loe. Cô ấy đang mỉm cười với một thứ gì đó ngoài tầm nhìn. Trang phục của cô ấy khiến tôi liên tưởng đến những người thuộc thế hệ mẹ tôi. Một mặt dây chuyền rũ xuống từ cổ - và mặc dù ở quá xa để tôi có thể nhìn rõ, nhưng nó sẫm màu và có hình bầu dục, có nhiều điểm tương đồng đến độ không thể hình dung được rằng nó và chiếc Emmy đeo không phải là một. Chiếc mà tôi đã tìm thấy trên hiên sau nhà chúng tôi.
Tôi mường tượng rằng đây chính là mẹ của Emmy. Tớ đã bỏ lỡ cái chết của mẹ mình, và vì gì chứ? Cô ấy đã chia sẻ với tôi như vậy.
Bức ảnh thứ hai được dán úp vào bìa các tông. Tôi nhẹ nhàng cạy một góc cho đến khi nó tróc ra. Tôi lật lại và rọi đèn pin, thứ ánh sáng ban đầu làm tôi chói mắt. Tôi nheo mắt, chờ tấm ảnh hiện rõ. Gương mặt của một cô gái được chụp cận cảnh, bầu trời xanh ở phía sau. Một cô gái với mái tóc nâu, đôi mắt sáng long lanh, mỉm cười nhìn thẳng về phía máy ảnh, thẳng về phía tôi. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi nhất, tôi tự hỏi liệu đây có phải thứ mà Emmy đã lấy đi từ tôi. Những đường nét đặc trưng của cô gái này, ngoại hình của tôi thời trung học, đứng cạnh Rebecca trong tấm ảnh gia đình.
Nhưng tôi không xác định được. Không phải bối cảnh, không phải khoảnh khắc ai đó nói Cười lên nào, không phải những chi tiết nhỏ trên khuôn mặt, tất cả đều không. Ánh mắt tôi hạ xuống nụ cười của cô ấy, tới khuôn miệng với khe hở giữa hai chiếc răng, hé mở như thể cô ấy đang phá lên cười, và những mảnh ghép khớp lại với nhau - tấm ảnh mà cảnh sát đã cho tôi xem, nhưng là một phiên bản trẻ hơn.
Tôi cầm tấm ảnh của Bethany Jarvitz trên tay. Từ nhiều năm về trước. Emmy đã biết cô ấy một dạo trước kia.
Và bất chợt, mọi thứ - chiếc phi tiêu mà cô ấy nói rằng cô ấy đã phóng lên tấm bản đồ, vị trí ngẫu nhiên mà chúng tôi đã hạ cánh, việc chúng tôi ở đây - không hề ngẫu nhiên chút nào. Như thể câu chuyện đã được khởi động từ nhiều tháng trước, và tôi không nhìn thấy điều đó. Không thấy bất cứ phần nào. Có thể nó đã bắt đầu từ sớm hơn nữa.
Tua lại tám năm, ba căn hộ, tới một cô gái đang ngồi trên gờ bức tường cạnh một tờ quảng cáo tìm bạn cùng phòng, quan sát tôi chăm chú.
Nhảy xuống và tới gần hơn.
Gần hơn.