Họ không có bất kỳ ghi nhận nào về một Emmy Grey ở nhà nghỉ cuối đường. Và tôi cũng không muốn mường tượng ra cảnh cô ấy ở một nơi như thế. Bên ngoài không có đèn, một mùi ngọt đến nhức đầu bao trùm lấy tiền sảnh, tiếng lạch cạch phát ra khi không khí lùa qua những đường ống trên trần. Tôi nắm chặt chiếc đồng hồ trong tay, như thể đây là bằng chứng tôi cần để trình bày trường hợp của tôi cho người đàn ông ngồi sau chiếc bàn kia.
Gương mặt ông ta nhợt nhạt và hốc hác, như thuộc về một kẻ không quen với ánh sáng mặt trời. “Không có cô gái nào cả, không phải ở đây,” ông ta nói sau khi nghe tôi miêu tả Emmy và hỏi rằng liệu cô ấy có làm việc ở đó hay không. Và rồi ông ta toét miệng cười, như thể chúng tôi đang đùa riêng với nhau.
Tôi nhanh chóng bước ra xe, mặt đường rải sỏi chỉ làm tôi cảm thấy hớ hênh hơn, những bước chân gấp gáp, tôi bị kích động bởi cảm giác có ai đó đang dõi theo mình. Emmy sẽ không đặt bản thân lại một nơi như thế này. Emmy sẽ sáng suốt hơn.
Tôi lái xe thẳng về nhà, bắt đầu xới tung những ngăn kéo tủ của Emmy, sục sạo đống đồ đạc của cô ấy. Soát xem cô ấy có để lại bất cứ thứ gì cho tôi tìm hay không, tôi vừa mò vừa tự hỏi Tại sao ? Một trò chơi được khởi động lại? Hay cô ấy đang cố gắng nói với tôi một điều gì đó?
Tôi những tưởng chiếc đồng hồ đó đã biến mất ngay từ lần đầu tiên cô ấy rời đi. Tôi tự hỏi liệu có phải nó đã yên vị trong chiếc thùng dán băng keo ấy trong góc nhà tôi hàng năm trời qua, liệu có phải nó đã an toàn núp dưới cánh tay tôi mỗi lần tôi chuyển nhà. Tôi tự hỏi liệu có phải chiếc thừng ấy cũng là một trò chơi: một bài kiểm tra, có lẽ vậy, để xem liệu tôi có mở nó ra hay không.
Tôi ngồi giữa đống quần áo, khẽ run rẩy, lục lọi những thứ không phải của mình. Đồ đạc thuộc sở hữu của cô ấy chỉ đủ dùng, giống như nhiều năm về trước. Quần áo không mang nhãn hiệu nào quen thuộc. Vài chiếc mác đã bị xé xuống hoặc mờ đi. Tôi nghĩ hẳn chúng là hàng thùng. Tôi cố ngẫm lại xem liệu có thiếu mất món gì đó cụ thể không. Cố gắng hình dung ra Emmy trong những bộ quần áo, giày và trang sức, rồi thử tìm kiếm chúng ở đây. Nhưng kí ức về Emmy đang phai nhạt dần. Mỗi lần tôi nghĩ mình đã có một hình dung sắc nét về cô ấy, thì cô ấy sẽ trôi tuột đi, trở lại thành cô gái tuổi đôi mươi ấy. Tôi mường tượng ra chiếc áo phông cổ chữ V màu đen cắt ngắn, tay áo viền đăng ten. Tôi mường tượng ra chiếc quần jean cạp trễ sẫm màu cùng thắt lưng đen nạm đinh mà cô ấy luôn đeo. Những chiếc lắc tay và móng son sứt mẻ. Tôi mường tượng ra cảnh chúng tôi đi chơi đêm cùng nhau, cách cô ấy chen đến quầy bar, tựa người vào nó, thu hút sự chú ý.
Kể từ khi ấy, Emmy đã đổi sang một phong cách khác. Tủ đồ này chứa đầy những chiếc sơ mi thông thường, áo chẽn, quần bó. Những đôi tất dày và áo hai dây thun gân. Có vẻ như Emmy ưu tiên tính thực tế của quần áo hơn tất thảy. Đôi bốt gắn liền với cô ấy đã biến mất rồi - gót chunky, với lớp đăng ten cao trên mắt cá chân, phối hợp được với cả với quần và chân váy. Chúng chỉ mất tích khi cô ấy cho phép tôi mang chúng. Nhưng bây giờ, trong góc tủ của cô ấy chỉ còn một đôi giày thể thao cũ, dây dính bùn. Cô ấy ắt hẳn đã xỏ đôi còn lại mà mình sở hữu, dù nó có là loại giày gì đi chăng nữa.
Tôi gạt những chiếc móc treo bằng kim loại trong tủ quần áo của cô ấy sang một bên, ngồi lọc qua những món đồ tử tế hơn của cô ấy, từng chiếc một. Một chiếc váy hai dây xòe, quá mỏng so với thời tiết hiện tại; một chiếc cardigan mà tôi đã thấy cô ấy khoác vào ban đêm khi lạnh. Tôi gạt thêm vài chiếc móc nữa, ngạc nhiên khi nhận ra một chiếc sơ mi ôm người màu đen vốn là của mình. Cô ấy không bao giờ hỏi mượn tôi bất cứ thứ gì, dù tôi luôn sẵn lòng chia sẻ thoải mái. Tôi ném chiếc áo lên giường, phân loại qua những món đồ còn lại, xem thử cô ấy có còn mượn gì khác không: thêm ba chiếc áo mà tôi cho rằng đã bị mất trong lúc chuyển nhà. Tôi tự hỏi liệu cô ấy có nhận ra chúng là của tôi chứ không phải của cô ấy hay không.
Cô ấy tới đây với rất ít đồ đạc, về căn bản là làm lại từ đầu. Tôi đã quen với Emmy này, người chẳng mang gì theo mình khi ra đi. Những đồ đạc duy nhất ở đây thuộc về cô ấy, như chiếc xe hay nội thất trong nhà, đều từng thuộc về một chủ sở hữu nào khác.
Tôi cố gắng hình dung ra cô ấy một cách rõ ràng bằng việc nghĩ đến buổi sáng với những con cú. Cô ấy đã đi chân trần. Bàn tay cô ấy đã lần tới sợi dây chuyền đó. Khi ấy còn có gì nữa nhỉ? Tôi có thấy bờ vai trần của cô ấy không? Một chiếc áo màu? Những chiếc quần bó này dài đến mắt cá chân của cô ấy?
Tôi nhắm mắt lại và nhìn thấy những đường nét của Emmy. Đôi mắt nheo lại, một cái ngoẹo cổ, một nụ cười.
Đừng làm vậy nữa, cô ấy đã nói như thế.
Làm gì cơ?
Lo lắng. Đó là trạng thái mặc định của cậu.
Nhưng tôi làm sao không lo cho được. Tôi đã dành cả quãng đời trưởng thành của mình ở một chỗ trên hàng ghế đầu, chứng kiến những nỗi tàn bạo của cuộc sống, nhiều đến độ nó đã thành dự trước. Câu chuyện không thực sự bắt đầu vào lúc đầu, không phải khi người ta mất tích. Nó chỉ bắt đầu khi họ được tìm thấy. Emmy đã biến mất, và bây giờ tôi cảm thấy như mình đang đợi chờ một điều gì đó không thể tránh khỏi, một chiếc đồng hồ mà tôi không có quyền năng để ngừng lại.
Tôi rà soát lại mọi thứ. Tìm kiếm lần thứ hai bất cứ thứ gì tôi đã bỏ lỡ trong lần đầu tiên. Cho tới khi tôi một lần nữa ngủ thiếp đi trên giường cô ấy, xung quanh là tất cả những gì còn lại của Emmy.
Sáng thứ bảy, chim hót líu lo. Chưa tới chín giờ sáng, nhưng ngày mới đã chan hoà ánh sáng, tựa như chẳng có gì xảy ra. Đó chính là điều khác biệt mà bạn nhận thấy khi phỏng vấn ai đó sau thảm kịch - họ bị bất ngờ bởi nỗi tầm thường trần tục. Cây vẫn cần được tưới nước như thường lệ, xấp báo vẫn sẽ được đưa tới vào sớm mai, và những đứa trẻ vẫn sẽ cười giòn tan nơi trạm dừng xe buýt ở góc phố. Cho dù có đang cảm thấy như thế nào, thì họ cũng sẽ phải tự chịu đựng một mình. Và: Tôi phải tới chỗ làm vào thứ Hai. Tôi phải nộp điểm của học sinh. Tôi phải nộp bài tập cho lớp chứng chỉ. Tôi phải đi dạy.
Tôi kiểm tra điện thoại, nhưng không có ai gọi đến trong đêm. Và nếu cảnh sát có lái xe qua, tôi đã không nhận thấy.
Tôi gửi email cho nhà cung cấp dịch vụ điện thoại, đề nghị họ gửi những thông tin được yêu cầu, rồi cố gắng làm xao lãng bản thân bằng công việc.
Chồng luận văn của học sinh đang nằm trong chiếc túi tote lớn của tôi, và tôi lôi nó ra đọc tại bàn bếp trong lúc chờ những tin tức mới. Tôi không giỏi chuyện thụ động hay chờ đợi, và chí ít thì việc này cũng giúp tôi cảm thấy như mình đang làm Một điều gì đó.
Những bài luận có thể phân thành hai loại: thuận và chống Davis Cobb, vài bài tế nhị hơn trong việc thể hiện sự ủng hộ hoặc buộc tội của người viết so với những bài khác. Một số học sinh có lẽ còn không nhận ra mình đang làm vậy, nhưng tôi có thể nhìn thấu lập trường của chúng, không trật chút nào. Dù chúng đã tiêu tốn giấy mực để than vãn về sự thiếu hụt cảm giác an toàn hay dùng chính điều đó như một lời bào chữa. Cuối cùng, tôi chia các bài luận thành từng chồng.
Bài luận đầu tiên, viết bởi Molly Laughlin, đổ mọi lỗi lầm cho dòng người lạ đang tràn đến thị trấn. Tôi quyết định đặt bài đó vào chồng thuận-Cobb, bởi con bé vốn là người ở đây. Con bé không nằm trong số những người mới đến - như tôi chẳng hạn - những kẻ mà trong mắt con bé, đang góp phần hình thành nên mối nguy hiểm đột ngột này.
Phần lớn đám con trai đều biện hộ cho ông ta theo cách lộ liễu hơn. Thầy Cobb là một người thành thật, một huấn luyện viên tuyệt vời. Em biết thầy ấy nhiều năm rồi. Không có bằng chứng nào cho thấy thầy ấy đã làm bất cứ điều gì cả. Đây là một cuộc thanh trừng.
Dù gì thì bây giờ cũng đang là mùa bóng rổ, và huấn luyện viên Cobb vẫn chưa được phép quay trở lại khuôn viên trường học. Nhà trường đã quyết định rằng sẽ có lợi nhất cho tất cả mọi người khi để ông ta nghỉ có lương, đến khi câu chuyện ngã ngũ, dù theo hướng nào đi chăng nữa. Những cuộc gọi từ phụ huynh học sinh và giới truyền thông đã khiến quyết định đó trở nên thật dễ dàng. Ông ta đã gọi điện cho tôi, khả năng là đang theo dõi tôi, hẳn đã có người đánh hơi được rồi. Chuyện này có khả năng sẽ được biết đến rộng rãi hơn trong vòng một tuần. Tôi chẳng thể làm gì để ngăn chặn nó.
Connor Evans đã làm tôi ngạc nhiên khi là một trong số ít những cậu bé ở trong chồng bài viết chống-Cobb:
Chúng tôi ngồi cùng nhau trong một căn phòng và được bảo rằng hãy tin tưởng nhau, chúng tôi được dạy rằng lòng tốt là mặc định, còn cái ác thì rất hiếm, và rồi chúng tôi học được rằng lòng tốt chỉ là lớp mặt nạ. Rằng chúng tôi tin tưởng quá dễ dàng. Giờ đây, người ta cứ bảo chúng tôi hãy nghĩ cho chính mình, cẩn thận vì chính mình, để mắt tới người khác, và báo cáo những điều chúng tôi thấy. Nhưng chúng tôi nên báo cáo cho ai đây? Nếu chúng tôi không chắc chắn rằng có thể tin ai? Làm sao chúng tôi biết ai đang mang mặt nạ?
Tôi lật tới bài luận tiếp theo.
Huấn luyện viên Cobb vô tội và chuyện này hoàn toàn vớ vẩn. Em biết vì sao cô bị gọi lên văn phòng. Em biết.
Không có tên trên tờ giấy, nhưng phải đến một nửa số học sinh của tôi thường quên ghi tên mình (phần đơn giản nhất của một bài tập, và đã hai tháng kể từ khi năm học mới bắt đầu nhưng tôi vẫn phải nhắc nhở chúng). Tuy nhiên, đến giờ thì tôi đã phán đoán được khá chính xác nét chữ viết tay của chúng. Tôi gần như chắc chắn bài luận này thuộc về Theo Burton. Tôi viết tên cậu ta lên góc trên của tờ giấy, tích tên cậu ta trong sổ điểm và đặt bài luận vào chồng thuận-Cobb.
Tôi nghỉ tay một lúc để lấy một trong số những chai bia của Emmy ra khỏi tủ lạnh, vặn mở nắp chai bằng gấu áo. Rồi tôi búi tóc thành một khối trên đỉnh đầu, vuốt một bàn tay mát lạnh ra sau gáy, và tiếp tục đọc những bài luận. Izzy viết bằng mực tím, nét chữ lòng vòng khiến người ta nghĩ đến những kí tự in thường có trái tim thay vì dấu chấm, kẹo gôm nhai nhóp nhép và vân vê lọn tóc trên đầu ngón tay:
Trường học đáng ra sẽ là nơi chúng em không cần phải lo lắng về sự an toàn của bản thân. Có máy quay trên các hành lang và giáo viên trong lớp học. Chúng em hy sinh sự riêng tư của chính mình để đổi lấy sự an toàn. Có những đợt kiểm tra tủ đựng đồ và giáo viên ngồi canh gác ngay ngoài cửa phòng vệ sinh trong giờ giải lao. chúng em đáng ra không cần phải lo lắng rằng HỌ mới là mối nguy hiểm. Chúng em đáng ra không cần phải lo lắng chút nào ở nơi đây.
Tôi đánh một dấu tích trong sổ điểm, và một cái đảo mắt đi kèm với cái nghiêng đầu. Nhấp thêm một ngụm bia nữa.
Tôi biết những cô gái như con bé. Tôi đã từng có khoảng thời gian nghĩ giống vậy, và nó khiến tôi giận dữ một cách vô cớ. Rằng con bé nên tỏ ra ngạc nhiên trước sự biến chuyển đột ngột của sự việc. Rằng con bé có đủ niềm tin vào cái gọi là chúng ta đáng ra không cần phải lo lắng để bao biện cho bản thân, cứ như thể thế giới mắc nợ con bé điều ấy. Cứ như thể con bé không biết rằng tất cả chỉ là giả bộ.
Lần đầu tiên tôi coi bản thân là hai người riêng biệt là ở độ tuổi thiếu niên. Cảm giác bạn lúc nào cũng vừa là chủ thể, vừa là đối tượng. Rằng tôi vừa đi dọc hành lang, vừa quan sát chính mình. Chắc chắn là Izzy Marone, trong tất cả mọi người, biết điều này. Con bé cư xử như thể mình biết. Hẳn con bé đã nghĩ có một số quy tắc nhất định vẫn còn được áp dụng. Nhưng rồi bạn học được, rằng sự cương nghị của bạn chỉ rặt một nỗi can đảm rởm đời. Một hành vi được trau dồi, truyền dạy và mong đợi ở các cô gái ngày nay. Sự dũng cảm được đánh giá cao và trao thưởng. Phản bác lại giáo sư để thể hiện sự gan dạ của bản thân. Chờ đợi nụ cười chầm chậm, tiếng cười ồ dễ dãi và cái nghiêng đầu thừa nhận của ông ấy. Giơ ngón tay thối vào mặt đám khốn nạn huýt sáo trêu gái trên đường phố. Chẳng có hại gì cả.
Đây là những sự thật của cuộc đời mà tôi đã tin, và Izzy đang tin. Nguy hiểm vẫn chưa lộ diện, nhưng nó có mặt ở khắp mọi nơi, cho dù con bé có muốn tin hay không.
Tôi lật bài luận của con bé lại, đánh dấu nó bằng một dấu tích như tôi đã làm với tất cả những bài khác, và phát hiện ra một mẩu giấy nằm kẹt giữa hai tờ bài tiếp theo. Một tờ giấy có dòng kẻ như mọi tờ khác, được gập đôi lại. Lời nhắn viết bằng bút chì, in hoa toàn bộ: KHÔNG PHẢI COBB.
Nét chữ viết tay này nhìn qua thì không mấy thân thuộc. Có lẽ bởi chúng được viết hoa, và chẳng có gì nhiều nhặn để đưa ra được phán đoán. Tôi nhét nó vào chồng thứ hai, thuận-Cobb, dự định sẽ rà soát ngược vào lúc cuối để tìm xem vị văn hào không tên ấy là ai.
Nhưng đến cuối chồng bài của tiết thứ nhất, mọi học sinh đều đã được điểm danh. Kể cả JT. Đây là bài thừa, một lời nhắn mà ai đó muốn nhét cho tôi. Để cảnh báo, hay một trò đùa - hoặc bởi vì người này biết gì đó.
Tôi giữ tờ giấy. Đặt nó ở giữa bàn, nơi sẽ thu hút sự chú ý của tôi mỗi lần tôi đi qua.
Nguồn tin đến từ mọi nơi. Chúng từng xuất hiện trong hòm thư điện tử công khai của tôi ở tòa soạn, nhưng bạn thật sự cần sàng lọc kĩ càng thì mới có thể tìm thấy. Hầu hết mọi người tìm đến tôi với một góc nhìn có sẵn. Một vài đầu mối hóa ra lại là những lời nói dối hoặc phóng đại trắng trợn. Những sự thật bị bóp méo và pha trộn với sự thâm độc ngấm ngầm hoặc niềm phẫn nộ nhuốm màu đạo đức giả. Những sự thật sẽ sụp đổ khi bị soi xét kĩ càng hơn.
Bạn phải tiếp cận những vấn đề như thế này với sự hoài nghi. Bạn phải nhận ra mình cần đối phó với ai trước tiên. Thông tin và nguồn tin thường đi kèm với nhau. Chúng sẽ trở nên vô nghĩa nếu đứng riêng rẽ một mình.
Cảnh sát vẫn chưa gọi đến vào thứ Hai, khi trường học bắt đầu, tôi không thấy bất cứ dấu hiệu nào của họ ở văn phòng trường. Các hành lang trống trơn, và tôi bắt gặp ánh mắt của Mitch qua khung cửa kính khi tôi đi qua. Anh ta nhanh chóng ngoảnh mặt đi chỗ khác.
Chìa khóa của tôi bị kẹt trong ổ khóa lớp học, không xoay được, và tôi nhận ra nó đã được mở sẵn rồi.
Tôi đưa tay bật đèn, rồi sững người. Một mùi hương, một thoáng chuyển động trong khóe mắt, một linh cảm.
Tôi xoay người lại, thấy Theo Burton đang ngồi tại bàn mình, hai tay đặt lên trên, mỉm cười. Cậu ta có mái tóc màu vàng lạnh và đôi môi mỏng, những đường nét hẳn sẽ chớm mang phần nữ tính nếu không tồn tại những đường gân chạy dọc cổ và phần lộ ra ở cẳng tay cậu ta.
“Xin lỗi,” cậu ta nói. “Em không có ý dọa cô. Cửa không khóa.” Nhưng tôi khá chắc rằng mình đã khóa cửa sau khi ra về vào thứ Sáu.
“Cô có thể giúp gì cho em đây, Theo?” Tôi vẫn đứng ở cửa, nhớ lại buổi huấn luyện định hướng của mình: Đừng ở một mình với học sinh trong một căn phòng kín. Chỉ vậy thôi là đã quá đủ điều tiếng rồi.
“Không có gì ạ. Em chỉ muốn hoàn thành một số bài tập trước khi vào lớp thôi. Như vậy có được không ạ?”
Không hẳn là ổn. Hồi chuông đầu tiên vẫn chưa reo lên, nhưng nếu tôi chất vấn cậu ta về chuyện này thì tôi sẽ là một bà cô già cứng nhắc. Dù sao thì nó cũng sẽ reo lên trong vòng ba phút nữa. Khi ấy, cậu ta sẽ đường đường chính chính được ngồi tại đây. Và học sinh lẽ ra phải được nhận sự giúp đỡ bổ sung của tôi cả trước và sau giờ học. Tôi, cũng như các học sinh của mình, đều được chấm điểm bởi một ai đó khác. Ngay cả bản thân ngôi trường này cũng được chấm điểm.
Tôi không trả lời. Thay vào đó, tôi dỡ đồ đạc trong túi ra, chuẩn bị bắt đầu buổi học.
Tôi ngồi xuống bàn làm việc được kê sát bức tường bên cạnh, nhưng màn hình máy tính đã bật xanh, thân máy kêu vù vù. Tôi di chuyển con chuột, màn hình đen trở nên sống động. Máy tính đang ở trang đăng nhập, chờ tôi nhập tên người dùng và mật khẩu. Không thể biết được rằng liệu có ai đăng nhập vào rồi lại thoát ra hay không. Tôi nghĩ đến địa chỉ email mà tôi đã đưa cho Kyle - băn khoăn không biết có phải chỉ là cảnh sát đã tới đây và kiểm tra ổ cứng hay không.
Nhưng Theo đang ngồi đây, trong một căn phòng mở, với chiếc máy tính đã bật. Tôi quan sát một bên gương mặt cậu ta, nhìn khóe miệng cậu ta nhếch lên một góc 90 độ, giống như cậu ta đang chờ tôi buộc tội mình. Mọi thứ ở đây là một trò chơi, và tôi tham gia muộn, tôi vừa chơi vừa học luật.
Tôi chọn im lặng, như thể tôi không nhận thấy, như thể tôi không quan tâm. Nếu tôi nói ra bất cứ điều gì, cậu ta sẽ phủ nhận và rồi cậu ta sẽ biết là mình đã lay chuyển được tôi. Tôi đăng nhập, lướt xem hòm thư. Không có dấu hiệu nào cho thấy đã có ai đó ở đây. Tôi thậm chí còn kiểm tra cả mục thư gửi và thùng rác, nhưng mọi thứ vẫn trông у hệt như cũ.
Tôi giả vờ làm việc bởi cậu ta rõ ràng cũng đang tỏ vẻ như vậy. Tôi xáo xấp giấy trên bàn, lắng nghe tiếng bước chân ngoài hành lang. Muốn rời khỏi căn phòng này nhưng lại không muốn cho cậu ta quyền tự do kiểm soát không gian. Tôi chưa bao giờ cảm thấy biết ơn thói quen vào lớp sớm của Molly Laughlin đến thế. Tôi nghĩ ngay cả con bé cũng sửng sốt trước lời chào quá mức hớn hở của tôi.
Khi những học sinh còn lại ùa vào lớp, tôi trả lại chúng bài tập hôm thứ Sáu. Chuông reo lên, tôi không để phí chút thời gian nào. “Có vẻ như các em đều có những lập trường kiên định của mình về những sự kiện đã xảy ra trong tuần qua. Vì vậy, chúng ta sẽ viết thư ẩn danh. Lá thư này sẽ đóng vai trò như một bài luận bàn về một biện pháp an toàn được đề xuất cho trường học của chúng ta. Chúng ta sẽ bắt đầu viết trên lớp, và hạn nộp cuối cùng là ngày mai. Đánh máy và in nó ra nhé. Các em có ghi tên không là tùy các em. Cô sẽ tích cho các em khi các em nộp bài.”Ai đó trong lớp này đang muốn nói chuyện với tôi. Tôi phải tạo cơ hội để họ nói. Lắng nghe mà không thúc ép, không gật đầu khích lệ, kẻo họ sẽ hoảng sợ. Đây là kiểu nguồn tin bạn phải để nó dẫn đường.