Tôi nóng lòng muốn đọc những bài luận. Vừa mới về nhà chưa đầy năm phút, tôi đã trải hết những tờ bài lên bàn bếp, bức tượng thần lùn giữ vườn chặn chồng giấy khỏi bay tán loạn. Tôi mở cánh cửa sổ trên bồn rửa cho không khí lưu thông, làm tiêu biến cảm giác trống trải của căn nhà, những trang giấy phất phơ trong gió.
Bài của Theo nằm ở trên cùng. Tôi biết điều này do cậu ta vào lớp muộn và dù không thèm ghi tên.
Khi huấn luyện viên bị bắt vì tội hành hung. Khi giáo viên của bạn bị gọi lên văn phòng, và bạn có thể thấy rằng cô ấy đang sợ hãi.
Khi bạn tự hỏi vì sao cô ấy lại sợ hãi.
Đây là lý do tại sao tôi đề xuất biện pháp an toàn sau đây cho trường của chúng ta: rằng các giáo viên của chúng ta cần được đối xử giống như chúng ta. Họ phải là đối tượng của những cuộc kiểm tra ngẫu nhiên, và nên có một cách để chung ta có thể nhìn vào đời tư của họ, giống như họ làm với chúng ta. Họ có địa chỉ của chúng ta, số điện thoại của chúng ta, họ tên của cha mẹ chúng ta, ngày sinh của chúng ta, sổ An sinh xã hội của chúng ta. Đang tồn tại một sự mất cân bằng quyền lực, và họ biết điều đó.
Tôi gần như phun ra đống đồ uống của mình lên chiếc bàn bếp nhựa. Thật là nực cười. Điều này rất thuyết phục. Và cũng đúng. Nhưng nó đã mất đi sự sắc bén khi được viết ra bởi Theo Burton. Tôi tự hỏi liệu tất cả những điều này có phải là kết quả của nỗi buồn chán hiện hình - của khao khát quấy rầy tôi - hay nó còn nằm sâu hơn nữa.
Những bài luận còn lại tràn ngập các ý tưởng tương tự như khi chúng ta sống trong một tình trạng sợ hãi. Những biện pháp an toàn được đề xuất như có hai người giám sát tại mỗi phòng vệ sinh, hay học sinh được phép để điện thoại ở chế độ bật, hoặc chúng hộ tống nhau theo cặp, như ở mẫu giáo, để tới phòng vệ sinh, ra xe, hoặc đến văn phòng trường. Máy quay trong lớp học. Trong hành lang. Trong nhà vệ sinh.
Chúng luôn mồm để cập đến những thuật ngữ như trách nhiệm, riêng tư và lớp học từ xa. Tôi như nghe thấy tiếng cha mẹ chúng vọng lại trong những câu từ của chúng. Không có lời nhắn nào được nhét thêm vào cả. Không có gì về những lời đồn. Không có gì để xây dựng thêm cho cái nền móng KHÔNG PHẢI COBB ĐÂU.
Tôi đã sai. Hoàn toàn chẳng có gì trong những trang viết này dành cho tôi. Chẳng có gì ngoài những đứa trẻ nộp bài cho có. Tôi đã mong đợi quá nhiều. Như thể, bị chôn vùi đâu đó trong một biển những gương mặt, có lẽ sẽ có ai đó như tôi - ai đó biết nơi mà sự thật có thể được tìm thấy, chỉ cần liên lạc với đúng người.
Lời nhắn về Cobb có lẽ là của Theo, như một trò đùa, nhằm khiến tôi chấn động. Cũng giống như bài tập mới nhất mà Theo đã nộp, một bài tập mà tôi đã giao cho chúng toàn quyền sáng tạo, được phép ẩn danh.
Từ lời cảnh báo của Mitch, tôi biết vụ Davis Cobb này sẽ xoay sang chiều hướng ngược lại trừ khi có thứ gì đó thay đổi với Bethany Jarvitz. Tôi không nghe được gì thêm về cô ấy - từ cảnh sát, giáo viên, học sinh cũng không. Bắt đầu có cảm giác rằng cô ấy đã trở thành một bóng ma. Người mà, ngay cả khi cô ấy tỉnh dậy, có thể sẽ không nhớ hoặc trí nhớ cũng không đủ để đáng tin cậy.
Tôi chỉ muốn tất cả mọi chuyện kết thúc, và người duy nhất mà tôi có thể cảm thấy thoải mái khi nói chuyện cùng về những điều này đã biến mất.
Không gian trước đây Emmy từng chiếm cứ chỉ ngày một thêm nặng nề, đòi hỏi sự chú ý của tôi. Tôi đã bắt đầu chuyển sang ngủ trên giường của cô ấy do thói quen. Tôi đã bắt đầu mặc thử quần áo của cô ấy và nhìn vào gương, để ghi nhớ. Ướm chiếc đồng hồ của John Hickelman lên cổ tay rồi lại bỏ xuống. Ngồi xếp xếp bằng trên mặt đất, nhìn chằm chằm vào khu rừng. Tự hỏi điều thực sự mà cô ấy đã ngắm nhìn hoặc tìm kiếm là gì.
Suỵt, cô ấy đã nói.
Yên lặng nào.
Giống như tôi có thể sẽ làm đám cú hoảng sợ. Hoặc giống như có thứ gì đó đã làm cô ấy hoảng sợ.
Emmy thỉnh thoảng hơi gàn dở, nhưng không bao giờ dễ dàng sợ hãi. Cô ấy có thể phớt lờ bất cứ ai và bất cứ thứ gì. Tám năm về trước, đám đông bao quanh chúng tôi luôn không ngừng biến động - mùa hè năm ấy, chúng tôi là những gì bất biến duy nhất của nhau. Vào các ngày trong tuần, tôi đi thực tập còn cô ấy ngủ nướng - và khi tôi về đến nhà, cô ấy đã lên đồ xong xuôi cho buổi tối hôm đó, trên đường tới một quán bar ở bên kia thành phố. Cô ấy đi làm cả ngày vào cuối tuần. Nhưng các tối thứ Sáu và thứ Bảy luôn thuộc về chúng tôi. Vào những buổi tối đó, cô ấy sẽ vẫy tay từ phía bên kia quán bar, gọi tên tôi, đẩy một ai đó ra để lấy chỗ, choàng một tay lên vai tôi trong không khí hầm hập và đẫm mồ hôi của quán bar, và tôi cảm thấy như đang ở nhà. Nhảy nào, cô ấy sẽ nói như thế, và tôi sẽ móc một ngón tay vào lỗ xỏ thắt lưng của cô ấy khi cô ấy dẫn tôi đi qua đám đông, để không lạc mất nhau.
Và sau cùng, giữa những tiếng cười và những ly rượu, giữa những người bạn cô ấy mới quen và những kẻ với nụ cười quá rộng, cô ấy sẽ nghiêng người về phía tôi và nói, chán quá, rời khỏi đây thôi - và, với cái đầu quay mòng mòng, chúng tôi sẽ lao ra ngoài, lao vào màn đêm, choáng váng và rùng mình, rồi chỉ còn chúng tôi với nhau.
Cô ấy giữ khoảng cách với tất cả những người khác. Kể cả những gã mà thỉnh thoảng cô ấy đưa về nhà.
Nhưng đây là điều lớn nhất mà tôi biết về Emmy - lý do đầu tiên cho việc cô ấy mời tôi đến đây, theo như tôi nghĩ: Cô ấy ghét ở một mình. Đó là lý do vì sao cô ấy muốn tôi làm bạn cùng phòng của mình tám năm về trước, dù tôi không trả nổi tiền nhà. Và đó cũng là lý do vì sao cô ấy đưa người về nhà vào những tuần tôi không thể đi chơi với cô ấy. Vì sao cô ấy thích tiếng những giọng nói lúc nào cũng văng vẳng bên ngoài căn hộ của chúng tôi vào đêm khuya.
Vì sao cô ấy trông thật hoảng loạn và khổ sở trong phòng bar đó, nơi tôi tìm thấy cô ấy một lần nữa. Tôi ở đây là để giúp đỡ cô ấy, đáng ra là vậy. Giúp cô ấy trở nên tốt hơn, mang cô ấy quay về, đáng ra là vậy.
Và tôi không thể rũ bỏ cảm giác rằng bằng cách nào đó, tôi đã để cô ấy lại một mình. Không nhận ra rằng cô ấy đã biến mất.
Tôi ngủ quên trên giường của Emmy. Khi vừa tắt chuông báo thức vào sáng sớm thì điện thoại của tôi đặt trên tủ đầu giường của Emmy đổ chuông. “Tôi có đánh thức cô không?” Giọng một người đàn ông đặc sệt ngái ngủ vang lên. “Kyle Donovan đây.”
“Không,” tôi đáp, “Tôi dậy rồi.” Mặc dù giọng nói của tôi hẳn đã làm lộ tẩy điều đó.
“Chiều nay tôi tạt qua được không? Khi cô đã về đến nhà? Tôi nghĩ chúng ta có thể rà soát một phần trong số các cuộc gọi.”
“Chắc chắn rồi,” tôi trả lời. “Có tin gì từ Đoàn Hòa Bình không?”
Một thoáng ngập ngừng. “Không, chưa có.” Anh ta lại dừng lại. “Vậy, năm giờ thì sao?”
“Được, năm giờ, tôi sẽ ở nhà.”
Anh ta sẽ cho tôi thứ gì đó, sau đó muốn nhận lại. Và tôi cần biết chuyện gì đang thực sự diễn ra. Nếu, như Mitch nói, họ thực sự sẽ để Davis Cobb quay lại trường. Nếu mọi người tin rằng ông ta đã không làm gì sai. Nếu điều đó là đúng, thì Bethany Jarvitz có liên quan quái gì tới tất cả những chuyện này?
Lao công đã không ghé qua lớp tôi ngày hôm qua. Ông ấy làm việc theo lịch cách ngày, luân phiên các hành lang. Tôi nhận thấy thùng rác vẫn ở nguyên vị trí cũ, và tôi dùng đầu ngón tay nhặt lên tờ giấy vo viên nằm trên cùng do Theo để lại. Tôi mở mép giấy ra, vuốt nó dọc theo cạnh bàn. Đó là một bức phong cảnh được phác thảo bằng bút chì. Tôi dùng bàn tay vuốt lần nữa, ủi phẳng những nếp nhăn, và những ngón tay tôi bắt đầu run rẩy.
Bức tranh vẽ những búi cỏ cao. Mặt hồ ở phía xa. Nó được vẽ từ góc độ mà tôi đã đứng vào buổi sáng hôm đó và nhìn thấy máu.
Tôi hít một hơi sâu và nhìn lại lần nữa. Đó là một tờ giấy nhàu nhĩ, vẽ cảnh hồ - như cách mà ai cũng có thể nhìn thấy.
Nó chẳng là gì cả. Hoặc là tất cả mọi thứ.
Lời nhắn mà tôi cho rằng cậu ta để lại giữa những tờ bài: Không phải Cobb đâu. Vì đó là cậu ta ư? Ngày hôm đó, cậu ta đã đến muộn. Tôi đã cảm nhận được ai đó ở phía sau khi tôi đi bộ trở lại từ hồ… Phải chăng chính là Theo Burton, kể cả lúc ấy?
Tôi nhét tờ giấy vào một tập tài liệu ở ngăn dưới cùng của bàn làm việc, ngay phần đầu của tập hồ sơ. Và sau đó, tôi đã làm chính xác điều mà Theo Burton sẽ buộc tội tôi: Tôi tra thông tin của cậu ta trong danh sách lớp. Lấy ngày sinh, tên cha mẹ, số điện thoại và địa chỉ cậu ta. Tôi viết chúng lên một tờ giấy và kẹp nó vào bức vẽ.
Chơi lại cậu ta bằng đúng trò đó - vo tròn một mẩu giấy ngẫu nhiên, ném nó vào thùng rác, để cậu ta nghĩ rằng tôi đã không nhận ra.
Để cậu ta không biết nó đã biến mất.
Trên đường về nhà, tôi tạt qua bệnh viện. Nói là tạt qua để nghe cho có vẻ tiện đường, nhưng không phải vậy. Bệnh viện cách đó ba mươi phút lái xe, nằm cạnh đường cao tốc.
Khi vào trong, tôi nói tên Bethany với lễ tân và đi theo biển chỉ dẫn tới khu chăm sóc đặc biệt. Tôi được yêu cầu làm thủ tục tại quầy đăng ký thăm bệnh ở khu chăm sóc tích cực, nhưng bàn làm việc tạm thời không có ai trực, và tôi tìm thấy phòng cô ấy trước. Tôi nheo mắt nhìn qua khung cửa sổ vuông nhỏ, thấy một cơ thể nằm sấp trên một chiếc giường đơn, ống chui ra khỏi miệng, băng gạc quấn quanh đầu, tấm rèm che nửa thân dưới của cô ấy.
Tôi mường tượng ra khung cảnh ấy nếu như nó được đưa tin: Hành lang bên ngoài phòng bệnh Bethany Jarvitz vắng tanh. Máy giám sát trong phòng phát ra tiếng kêu bíp bíp, lồng ngực cô ấy phồng lên rồi lại xẹp xuống theo nhịp.
Tôi nghe thấy tiếng bước chân đến gần và tự dừng bản thân lại.
“Tôi có thể giúp gì được cho cô?” Một người phụ nữ mặc đồ bảo hộ nhìn chăm chú qua khung cửa sổ bên cạnh tôi. “Một tiếng nữa mới đến giờ thăm bệnh. Cô có muốn chờ không?” Cô ấy ra hiệu về phía hành lang dẫn đến tiền sảnh, nơi tôi vừa đến từ đó.
“Không, tôi ổn. Hôm nay thì tôi không thể.”
Mắt cô ấy lướt nhanh qua khuôn mặt tôi. “Cô có phải họ hàng thân thích gì không?”
“Không. Tôi chỉ sống gần cô ấy thôi. Tôi hy vọng được biết rằng cô ấy đang khá hơn.”
Người phụ nữ đặt một tay lên cánh tay tôi, không nói ra điều mà tôi đã biết: Không, cô ấy không khá hơn. “Hãy quay lại nhé. Những người đến thăm là một sự giúp đỡ. Cô ấy sẽ cần được giúp đỡ.”
Tôi nghĩ đến điều mà Kyle đã kể tôi cho nghe, rằng Bethany Jarvitz sống một mình, không có người thân, và là người ở đây.
Người phụ nữ mà dường như không ai biết này là ai? Bạn bè và đồng nghiệp của cô ấy đâu? Họ hàng ở những nơi khác của cô ấy?
“Tôi sẽ làm vậy,” tôi đáp.
Tôi nhìn qua cửa sổ phòng cô ấy lần nữa. Một khối tụ máu lớn, Kyle đã bảo tôi như vậy. Tôi hình dung ra khung cảnh từ những búi cỏ cao, lũ ruồi nhặng bay lượn dưới ánh trăng - khung cảnh mà Theo đã vẽ. Một người phụ nữ đi bộ một mình vào giữa đêm. Giọng một người đàn ông cất lên vì giận dữ. Thứ gì đó đập vào đầu, khiến cô ấy đổ máu, bỏ mặc cô ấy chết. Tôi có thể hình dung ra cùng một khung cảnh này trên bất kì con phố nào, vào bất kì đêm nào, trong bất kì thành phố nào.
Tôi ước có ai đó nói với cô ấy rằng: Đừng rời khỏi những con đường và những ngọn đèn; gọi một chiếc tắc-xi hoặc một người bạn; hét, hét to lên, cho tới khi có ai đó nghe thấy.
Nhìn cô ấy với một cái ống luồn xuống họng, nằm sấp trên giường, tôi biết: Trừ khi cô ấy tỉnh lại, trừ khi cô ấy lên tiếng, nếu không sẽ không có chuyện gì xảy ra. Sẽ không có vụ bắt giữ nào. Tôi có thể cảm nhận được điều đó. Cách mà câu chuyện đã bắt đầu chuyển mình. Cách mà mọi người đã lãng quên cô ấy. Cách mà ngay từ đầu, họ đã không bao giờ thực sự biết cô ấy.
Trên đường ra khỏi sảnh đợi, tôi thấy một người mà tôi đã nhận ra nhưng ban đầu không thể nhớ rõ. Một người phụ nữ lớn tuổi, tóc hoa râm, khuôn mặt hẹp.
Bà ấy chính là người phụ nữ mà tôi đã gặp ở hồ sáng hôm đó. Bà ấy đã tìm thấy Bethany. Giờ đây, hai tay bà ấy đang chắp lại để trong lòng, đôi mắt hướng xuống, như thể đang cầu nguyện.
“Xin chào,” tôi nói, ngồi xuống chiếc ghế đệm cạnh bà ấy. “Bà ở đây vì Bethany ạ?”
Đôi mắt xanh của bà ấy nhìn vào mắt tôi, và bà ấy gật đầu. “Cô là người thân của cô ấy à?” Bà ấy hỏi.
“Không, cháu không biết cô ấy. Chỉ là cháu nghĩ cô ấy sẽ cần người bầu bạn. Nhưng cháu bị lỡ mất giờ thăm bệnh.”
“Martha,” bà ấy nói, chìa tay ra, nhìn tôi chăm chú. Tôi hình dung ra điều mà bà ấy chắc chắn đang nhìn thấy - sự tương đồng mà cảnh sát cũng đã nhận ra. Màu mắt, màu tóc và hình dáng khuôn mặt giống nhau, cả cấu trúc xương bên dưới đôi gò má. Những yếu tố liên kết tôi với Bethany trong mắt Davis Cobb.
“Leah,” tôi nói, nắm lấy bàn tay lành lạnh của bà ấy trong tay mình.
“Tôi cũng không biết cô ấy rõ đến vậy. Nhưng tôi đã nhìn thấy cô ấy…” Bà ấy nhìn xuống chân mình. “Chà, và cũng chẳng có ai khác đến. Tôi cảm thấy mình có đôi chút trách nhiệm với cô gái này.”
“Cô ấy có sống gần bà không?”
Bà ấy khẽ cúi đầu, gần như là một cái gật. “Họ nói rằng cô ấy đã chuyển đến đây vì trung tâm dữ liệu. Một công việc không đòi hỏi kinh nghiệm gì. Cô ấy sống trong một tòa chung cư gần đây, tòa mà có trạm xe buýt ấy.”
“Hill Crest?” Tôi hỏi. Tôi biết toà nhà đó. Biết nó nhìn lạc lõng, cắt lẹm vào một khoảnh rừng, với một tấm biển xấu xí ở rìa đường, không có ngọn đồi hay đỉnh núi nào trong tầm mắt. Đó chính là những người lạ mà dân địa phương hay phàn nàn. Họ có phần dễ được chấp nhận hơn đối với những người lạ sở hữu những ngôi nhà đồ sộ được xây dựng trong những phân khu mới.
“Đúng, tôi cũng nghĩ thế. Cô ấy đã nói là các căn hộ, và tôi không biết gần đây còn nơi nào khác.”
“Hơi xa so với nơi cô ấy được tìm thấy,” tôi nói. Tòa chung cư nằm ở phía bên kia đường chính, cách xa hồ, trên con phố dẫn ra đường cao tốc thay vì cắt sang vùng nước.
“Nếu đi bộ thì không,” bà ấy đáp. “Tôi đã thấy cô ấy cho vịt ăn ở đó trước đây rồi. Chúng tôi đã gặp nhau như vậy. Cô ấy biết đường tắt. Đó chính xác là cách người ta đi bộ đến một căn nhà khác ở bên kia hồ.”
“Tại sao không ai đưa cô ấy về? Khi ấy, trời tối đen như mực.”
Bà ấy lắc đầu. “Tại sao lại có người lẻn ra ngoài vào lúc nửa đêm? Tại sao lại có người chuyển tới sống tại một trong số những căn hộ đó ở thị trấn này?”
Nơi này đầy rẫy những người muốn bắt đầu lại. Tôi, Emmy, Bethany Jarvitz. Có bao nhiêu người ở đây thèm khát được thoát khỏi thứ gì đó? Có bao nhiêu người hy vọng những rặng cây sẽ cong lên, bao lấy họ, và những dãy núi sẽ giữ không cho thế giới bên ngoài tràn vào?
“Cháu phải đi rồi,” tôi nói. “Nhưng cháu có thể để số điện thoại của cháu lại cho bà được không? Làm ơn hãy cho cháu biết nếu cô ấy tỉnh lại. Nếu có bất kì dấu hiệu thay đổi nào. Làm ơn.”
Bà ấy cầm lấy mẩu giấy từ tay tôi. “Chắc chắn rồi. Giờ đây, nơi này tràn ngập người lạ. Ngày trước thì khác.”
Tôi không chắc bà ấy đang nói về Bethany hay tôi. Và tôi tự hỏi liệu bà ấy có nghĩ rằng một kẻ lạ mặt đã làm điều này thay vì Davis Cobb không, giống như học sinh của tôi.
“Chà, cháu mừng vì bây giờ chúng ta không còn xa lạ với nhau nữa,” tôi nói.
Bà ấy cười, hàm răng có hơi khấp khểnh và vùng da quanh gò má mỏng như tờ giấy - nhưng tôi nghĩ bà ấy là người mà bạn sẽ muốn đứng về phía mình. Bà ấy ngồi đây, trông chừng. Bà ấy là người sẽ không để bất cứ điều gì khác xảy đến với cô gái đơn độc trong phòng bệnh kia, một khi bà ấy vẫn còn canh gác.