Tôi tỉnh dậy trước Kyle, người hất tung chăn khi ngủ, một tay choàng qua đầu. Ánh sáng tràn vào qua khe hở giữa những tấm rèm cửa trong phòng ngủ của tôi, vạch một đường lên ngang ngực anh ấy, và tôi mỉm cười, những ngón tay tôi chỉ cách bụng anh ấy vài phân, tự hỏi liệu có nên đánh thức anh ấy không. Nhìn gần, vết sẹo trên trán anh ấy thô ráp hơn, và anh ấy có một vết sẹo khác trên sườn mà tối qua tôi không thấy. Lúc này, tôi nhẹ nhàng chạm những ngón tay của mình lên nó, ngực anh ấy phập phồng, và tôi nghĩ tự bản thân Kyle chính là một câu chuyện; một thứ gì đó cần khám phá.
Cuối cùng, tôi quyết định để anh ấy yên. Quần áo anh ấy nằm trên ngưỡng cửa phòng tôi. Tôi rón rén bước qua chúng, để chúng nguyên tại chỗ, hy vọng sẽ kịp tắm qua trước khi anh ấy thức giấc.
Đèn trên bàn phụ trong phòng khách bật sáng, và tôi sững người. Tôi đã không bật nó lên khi chúng tôi về nhà, tôi chắc chắn là vậy.
Nhưng tôi vừa mới lắp thêm chốt cửa, và hiện nó vẫn đang khóa. Chắc là Kyle rồi. Kyle, tỉnh giấc để uống nước vào lúc nửa đêm, hoặc đi vệ sinh. Tôi ngủ như chết khi có ai có bên cạnh - trái ngược với sự cảnh giác đáng ra phải có theo logic.
Tôi tắt đèn phòng khách trước khi bước vào phòng tắm.
Khi tôi bước ra khỏi phòng tắm, giường đã trống trơn, khăn trải giường được kéo lên và miết phẳng. Tôi mặc đại một chiếc quần tập yoga và một chiếc áo thụng bước ra phòng khách, dùng khăn lau khô tóc. Kyle ngước lên từ bàn bếp, một hộp ngũ cốc mở trên bàn, một chiếc tô đã vơi đi một nửa, không có sữa, đặt trước mặt.
Anh ấy cười toe toét, giơ chiếc muỗng chứa đầy ngũ cốc khô lên chào tôi. “Hy vọng là cô không phiền,” anh ấy nói. Và rồi anh ấy nhìn xuống, như thể xấu hổ.
“Không hề,” tôi đáp. “Tôi có thể lấy thêm gì khác cho anh không?”
“Không cần đâu, cảm ơn cô. Chút nữa tôi có ca trực, nên tôi cần phải quay lại sớm. Nhưng tôi không muốn rời đi trước khi nói lời tạm biệt.”
Tôi mỉm cười. “Để tôi lấy giày và đưa anh về.”
“Cô không cần làm vậy đâu.”
“Thật sự không sao mà,” tôi nói.
Kyle đang rửa tô khi tôi quay lại với đôi giày thể thao. Giữa chúng tôi có một sự thoải mái tự nhiên miễn là chúng tôi không ngừng chuyển động. Anh ấy trượt mở cửa trước trong lúc tôi tìm túi xách, và tôi thấy anh ấy cúi xuống, với lấy một thứ gì đó vừa khuất tầm mắt.
Anh ấy quay người lại, chìa tay ra. “Báo của cô,” anh ấy nói với một nụ cười tươi tắn. Anh ấy đưa nó cho tôi, đựng trong một chiếc túi nhựa trong.
“Tôi không-” Và rồi tôi khựng lại. Thoáng liếc thấy tiêu đề tờ báo khi lật nó lại.
Đỉnh của một chữ B, bị che nửa. Sống lưng tôi cứng lại, và tôi hắng giọng. “Cảm ơn.” Tôi thả tờ báo lên mặt quầy như thể nó chẳng là gì. Tôi túm lấy chùm chìa khóa, cố gắng giữ nó khỏi run rẩy trong tay tôi. “Sẵn sàng chưa?” Tôi hỏi.
“Sẵn sàng ,” anh ấy đáp.
Tôi khóa cửa sau khi chúng tôi ra ngoài, và anh ấy bước đi chậm rãi bên cạnh tôi, cánh tay anh ấy thi thoảng cọ vào cánh tay tôi. Nhưng tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là tờ báo và rằng nó đang làm gì ở đây. Liệu nó có thể chỉ là một tờ báo địa phương, một bản đọc thử, hoặc bị giao nhầm. Liệu tôi có đang để trí tưởng tượng của mình bay đi quá xa, và thực tế thì hoàn toàn chẳng có gì để lo lắng.
“Vậy,” anh ấy cất lời, đứng cạnh xe tôi, để những suy nghĩ của mình lang thang.
“Vậy…” tôi nói, lơ đễnh. Điều này nghe có vẻ như là sự khởi đầu của bất kỳ những lời bào chữa khả dĩ hoán đổi. Tôi đã uống rượu. Khi ấy là ban đêm. Quán bar. Cô. Không phải tại cô. Không phải tại tôi. Tôi không cần nghe những lời đó. “Hay là chúng ta bỏ qua phần khó xử, nhỉ?”
Anh ấy nhoẻn miệng, bật cười với bản thân. “Dĩ nhiên rồi, Leah.”
Chúng tôi lái xe trong im lặng đến bãi đậu xe, nơi chỉ còn độc một chiếc xe duy nhất. Một chiếc SUV hạng trung màu đen nằm giữa hàng hai, bùn đóng thành vệt trên bánh. “Tôi đoán rằng đó là xe của anh?”
“Đúng thế.” Anh ấy ngồi lại một lúc, thay đổi ý định, rồi rời khỏi xe. Khi tôi sang số, sẵn sàng lái xe đi, có một tiếng gõ khẽ trên cửa sổ ghế lái. Tôi hạ kính xuống, và Kyle dựa hai cánh tay của mình lên khung cửa sổ để mở, đặt đầu gần ngang tầm với tôi. Anh ấy cúi người qua khe hở để hôn tôi, một tay chạm lấy cằm tôi, ngón tay cái đặt lên hàm tôi - tôi vừa kịp nhận thức thì bờ môi anh ấy đã rời xa.
Nó đang nằm chờ trên quầy bếp, у nguyên như khi tôi bỏ nó lại. Một tờ báo đựng trong túi nhựa, được cuộn tròn và buộc lại bằng một sợi dây chun cáu bẩn. Số lượng báo in đã giảm xuống ở Boston, nhưng tôi nghĩ rằng tại đây nó vẫn đang ổn định.
Tôi thích bản cứng như thế này hơn. Bố cục ở đây tuân theo một logic tồn tại song song với một hệ thống thứ bậc đã được định trước, và bạn luôn biết mình đang ở đâu trong mối quan hệ với mọi thứ khác, theo một thứ tự mức độ quan trọng đã được ấn định. Không phải một danh sách những đường dẫn mà bạn quên mất là mình đã truy cập. Không có những video tự phát (một mối thù hằn cá nhân), quảng cáo ăn theo hoặc lịch sử máy tính về thói quen đọc của bạn được giám tuyển chặt chẽ để cung cấp cho bạn những tin tức cùng chiều đúng ý trong tương lai - thế giới quan của bạn bị thu hẹp và biến đổi mà bạn không hay biết.
Tờ báo đượm mùi sương sớm, những mép giấy cong và giòn.
Khá chắc rằng đây là một sự nhầm lẫn. Một địa chỉ sai mà người giao báo điền vào. Hoặc một tờ báo miễn phí, một chiến dịch tiếp thị nhằm thu hút thêm người đăng ký. Chữ B có thể là trong từ Bulletin (bản tin) hoặc Beacon (đèn hiệu), hay vô số những từ khác. Có thể có vô số những lý do khác nhau giải thích cho việc tờ báo này nằm trên hiên trước nhà tôi.
Tôi tháo sợi chun, mở tờ báo ra để thấy phần còn lại của tiêu đề. Tôi cảm thấy tim mình đang đánh trống thình thịch trong lồng ngực khi những chữ cái từ từ hiện ra. Boston. The Post.
Tờ báo của tôi.
Tôi cảm thấy vai mình siết lại, dạ dày cuộn lên, và tôi phải đặt một bàn tay lên ngực để trấn an bản thân: Bình tĩnh nào.
Được rồi, được rồi, cũng không quá khó để luận ra chuyện này. Tôi đã nói rằng mình từng là một nhà báo. Tôi đã kể cho học sinh của tôi. Tôi đã tự gây nên chuyện này. Thật vô lý nếu chúng không biết. Những kinh nghiệm làm việc trước đây của tôi là cần thiết để tôi kiếm được công việc mới này. Hãy cứ coi nó như thể nó không quan trọng, và nó sẽ không quan trọng. Từ ngoài nhìn vào, dường như sẽ chẳng có gì luận tội được bạn.
Ngoại trừ.
Mắt tôi lướt lên mục ngày tháng phát hành, và trái tim tôi rớt bịch xuống dạ dày. Ngày hai mươi ba tháng Tư. Ai đó đã phải gọi cho tòa soạn hoặc thư viện địa phương để tìm được một tờ báo cũ như thế này. Tin bài cuối cùng mà tôi từng viết. Tin bài mà cả tờ báo và tôi đều muốn lãng quên đến tuyệt vọng, nín nở tập thể, hy vọng sẽ không dẫn đến hậu quả gì.
Tôi giở số trang vốn đã thuộc lòng, lật thẳng tới tin bài đó, tờ báo run rẩy trong tay tôi:
Mùa Tự Sát: Bốn cô gái kết liễu đời mình tại một trường đại học địa phương - Có ai đang thực sự lắng nghe?
Họ đây rồi. Những bức ảnh của họ trong một khung lưới vuông, những bức ảnh được cung cấp bởi phòng đào tạo của trường. Tôi đã nằm lòng những thông tin này, theo chiều kim đồng hồ từ góc trên bên trái:
Kristy Owens, sàn phòng tắm, dao cạo.
Alecia Gomez, tháp Dermot, nhảy lầu.
Camilla Jones, sông Charles, túi quần và túi áo nặng trĩu đá, kiểu Virginia Woolf.
Bridget LaCosta, bồn tắm, quá liều.
Tôi đã thấy nguyên nhân tử vong và kết quả xét nghiệm sinh hóa máu của Bridget, đang xem xét lịch học của cô bé khi tôi thấy tên gã được liệt kê trong danh sách - Giáo sư Aaron Hampton - và mọi thứ sáng tỏ. Máu tôi chảy rần rật, nhìn thấy tất cả những mảnh ghép khớp lại với nhau.
Một lọ thuốc, gương mặt tươi cười của gã, tiếng nước chảy.
Trong bài báo, không có câu từ nào trực tiếp ám chỉ đến điều tôi tin rằng Bridget LaCosta đã bị giết. Không có gì trong bài báo này tiết lộ những điều đã xảy ra trước và sau đó. Không có sự bác bỏ hay còn tiếp - câu chuyện cứ thế chìm vào quên lãng.
Tôi gấp những trang báo lại, giấu nó vào sâu ngăn kéo đựng đồ dùng nhà bếp, tự hỏi người đã tìm kiếm và mang nó đến trước cửa nhà tôi vào lúc nửa đêm có thể là ai.
Có phải nó đã ở đó từ lúc mới chập tối không nhỉ? Trước khi tôi về nhà cùng Kyle? Tôi không nghĩ thế. Vậy, đã có ai đó lảng vảng xung quanh nhà tôi giữa chín giờ tối và tám giờ sáng. Ai đó có thể đã nhìn thẳng vào bên trong vì khi ấy nhà sáng đèn. Có thể đã để ý thấy quần áo của Kyle ngổn ngang trên hành lang, hay giày của anh ấy nằm lăn lóc trong phòng khách. Có thể đã thả bộ vòng quanh căn nhà, nghe lỏm qua cửa sổ. Có thể đã kiễng chân và nheo mắt nhìn vào trong phòng tôi qua những khe hở giữa các tấm rèm.
Tôi bước ra ngoài, đi vòng quanh căn nhà, tìm kiếm những dấu chân và bằng chứng cho thấy đã có ai đó ở đây. Tôi dò tìm những đầu lọc thuốc lá, những phần đất bị xới tung hoặc san phẳng, bất cứ thứ gì - nhưng không có gì khả nghi.
Tôi tưởng tượng cảnh Davis Cobb cúi mình núp trong bụi cây, tờ báo kẹp dưới nách, và nghĩ, Giờ tôi đã nắm thóp được cô. Những gương mặt nhòe đi, và bất chợt, chính Paige là người đã lần ra tôi, người mang thứ này đến để nhắc nhở tôi. Tôi hít vào một hơi thật sâu để dừng vòng suy nghĩ luẩn quẩn này lại. Bình tĩnh, Leah. Bình tĩnh.
Tôi không thể để bản thân trở nên như thế này. Không thể suy diễn ra một điều gì đó từ trong không khí, như sự khẳng định đã từng của tôi với câu chuyện của chính mình ngày trước.
Nhưng chắc chắn là đã có gì đó - tôi biết gã, biết tâm địa đốn mạt ẩn mình của gã.
Tôi không ngạc nhiên khi gã đã tiếp tục ẩn mình, như những kẻ mắc chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội thường làm. Duyên dáng, tàn nhẫn, không bị kìm hãm bởi lương tâm hay mặc cảm tội lỗi.
Vì vậy tôi đã bắt chước gã, và tấn công. Tôi vẫn nhớ khoảnh khắc mà tôi quyết định sẽ làm điều đó, sau khi Noah rời đi đêm ấy. Tôi có lẽ đã quyết định sớm hơn thế, và đó là lý do tại sao tôi cứ đi qua đi lại bên trong căn hộ. Tôi đã biết sẵn những điều mình sẽ làm.
Những câu từ này in ra, nhìn qua chẳng mấy khác biệt: Một nguồn tin giấu tên đã làm phức tạp thêm vụ dùng thuốc quá liều của Bridget. “Một trong số những giáo sư của cô ấy đã đưa những viên thuốc đó cho cô ấy,” cô gái khai. “Tôi biết vì ông ấy cũng đã đưa chúng cho tôi.”
Việc họ tin rằng tôi đã bịa đặt nguồn tin này, rằng tôi đã tưởng tượng ra nó, để chạm đến sự thật: Đây thậm chí còn không phải là nhát đinh cuối cùng đóng lên cỗ quan tài mang tên đời tôi.
Nếu tôi nói ra sự thật, tất cả sẽ được tha thứ, mọi sự đều sẽ công bằng - tôi chắc chắn về điều đó. Và vì vậy, tôi nộp bài báo, chờ đợi cuộc điều tra. Đợi nhà trường phát hiện xem ai là kẻ có khả năng tiếp cận loại thuốc đó - cô bé đó chỉ có bốn giáo sư, nên chuyện này không khó - đợi những cô gái khác lộ diện, vì tôi vô cùng chắc chắn là họ sẽ làm như vậy; đợi cảnh sát xem xét vụ án kĩ hơn một chút, để tự hỏi tại sao và làm thế nào mà những viên thuốc đó lại được đưa cho cô bé. Để tự hỏi liệu Giáo sư Aaron Hampton có phức tạp hơn vẻ bề ngoài hay không.
Một rủi ro đã được tính toán. Một nước đi lớn. Một thất bại lớn hơn.
Một chuỗi những hậu quả mà tôi không ngờ đến và không thể kiểm soát. Mọi thứ đều lao đi vun vút, quá nhanh, đến nỗi không sao nắm vững cho được - và cùng với đó, cuộc đời tôi mau chóng vượt ra khỏi tầm kiểm soát.
Tôi đã không nói chuyện với Aaron Hampton trong gần tám năm. Nhưng, như một cơn ác mộng tái diễn, anh ta đã trở lại. Tôi thậm chí còn không in tên anh ta. Logan nói rằng những lý do của tôi không quan trọng. Ông ấy nói rằng tôi đã cố ý hủy hoại Aaron, rằng bất kì ai cũng có thể luận ra người mà tôi đang đề cập đến nếu họ quan sát kĩ hơn. Ông ấy nói như thể đó là một điều tồi tệ. Như thể không có một cô gái nào với gương mặt được lưu lại vĩnh viễn trên một bức ảnh đen trắng cầu xin tôi làm điều này. Và chính dư âm trong đầu tôi, yêu cầu điều đó.
“Tôi đã không biết,” tôi nói, đứng trước bàn của Logan. Dối trá sinh dối trá, và tôi đã lún quá sâu trước khi có thể dừng lại.
“Nhảm nhí,” ông ấy nói, và khuôn mặt ông ấy đỏ như gấc, hiện thân của nỗi giận dữ bị kìm nén. “Cô tốt nghiệp năm nào?”
Tôi không trả lời.
“Cô có biết anh ta không, Leah?”
Tôi để sự yên lặng tự mình lên tiếng - tưởng tượng xem chuyện này sẽ tồi tệ hơn đến mức nào nếu ông ấy biết rằng tôi đã từng sống chung với gã. “Đây là một sự xung đột lợi ích nghiêm trọng,” ông ấy nói, và đây hóa ra lại là lời nói giảm nói tránh vĩ đại nhất trong toàn bộ cuộc nói chuyện. Trên thực tế, chuyện này chính là nhát búa đóng đinh cuối cùng xuống cỗ quan tài của tôi.
“Đó là sự thật,” tôi đáp trả. Đáng ra tôi không nên phòng thủ quá mức như thế. Giờ tôi nhận ra đây chính là thời khắc mà tôi thua cuộc. Như thể từ sự phòng thủ của tôi, ông ấy biết rằng có điều gì đó đáng để biện hộ.
Ông ấy nhìn chằm chằm vào mắt tôi, và tôi nhìn lại, ông ấy gập những ngón tay của mình trên mặt bàn. “Chúng ta sẽ cần nguồn tin của cô.”
Nhưng dường như ông ấy đã biết sẵn tôi sẽ nói gì. Dường như Noah đã cảnh báo sẵn cho ông ấy rồi.
“Tôi không thể làm điều đó,” tôi nói.
Ông ấy không di chuyển. Không lắc đầu. Không lên giọng. Để sự kết thúc đến nhẹ nhàng và chóng vánh. “Tôi cần cô thôi việc ngay bây giờ,” ông ấy quả quyết. “Tôi cần cô thôi việc, thu dọn đồ đạc và đi ngay bây giờ. Và cầu Chúa, hy vọng chuyện này sẽ không quay lại quật cho chúng ta một đòn.”
Tôi gật đầu và đi lui ra khỏi văn phòng, tim đập loạn xạ. Có một sự hồi hộp khủng khiếp trong tôi trước khi nó giảm sâu. Nhưng trong một khoảnh khắc, tôi cảm nhận được điều đó, và tôi biết nó là gì: Là sự thật, và tôi đã làm được. Trồi lên trên bề mặt, như những bóng khí trong nồi nước sôi, vì tôi đã bật bếp và nhìn những sợi dây điện từ nóng lên đỏ rẫy.