Đại sứ quán nguy tình (Embassy)

Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 08

❊ ❊ ❊

Tại tòa nhà văn phòng đại sứ quán, ngày thứ Ba bắt đầu nhịp điệu công việc với một tốc độ tăng dần đều. Mọi người tạm gác lại những chuyện vụn vặt cá nhân, dồn toàn bộ tâm trí vào công vụ. Ban đầu, họ buộc phải giải quyết những việc hành chính như bóc thư từ, thu thập và sắp xếp các mẩu giấy ghi chú, tin nhắn. Thế nhưng, đối với hai người, khoảng thời gian từ 9 giờ đến 10 giờ sáng tuyệt đối không phải là lúc dành cho những công việc tầm thường đó. Giống như một họa sĩ đang tự tin vung bút, hai người này tập trung cao độ, đồng thời lại bằng một cách thức đầy ẩn ý để tuần tra khắp tòa nhà, vì vậy không thể coi chuyến tuần tra này là công việc thường lệ.

Hơn nữa, cả hai đều cẩn trọng tránh mặt đối phương.

Ned Francis đã đi qua vài phòng ban, và như thường lệ, muốn tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào bất ổn. Anh đã nói chuyện với không ít người, nhưng lại chẳng mấy chú tâm vào nội dung. Trong đầu anh vẫn đang luẩn quẩn chuyện Lavinia giận dỗi cãi vã với mình vào buổi sáng, nếu có thể dùng từ này để mô tả cảm xúc bộc phát của cô.

Ned nhận ra lý do mình khó lòng gạt bỏ chuyện này là vì Lavinia rất hiếm khi bộc lộ cảm xúc mạnh mẽ. Lavinia không thích cằn nhằn, Ned đã nghe đủ những lời than vãn của các bà vợ quân nhân trong suốt nhiều năm qua, vì thế anh thấy việc Lavinia lên tiếng phàn nàn thực sự rất hiếm hoi.

Chắc hẳn cô ấy đã đến giới hạn chịu đựng – những bất mãn tích tụ trong lòng quá lâu, nay bất chợt bùng phát. Anh đã xử lý chuyện này không tốt, mọi thứ thật tồi tệ.

Anh dừng lại một chút ở khúc quanh cầu thang, thay đổi góc độ để suy ngẫm lại sự việc. Mâu thuẫn giữa anh và Lavinia đang ảnh hưởng đến công việc tại văn phòng, bản thân điều này đã phản ánh sự thiếu hụt nghiêm trọng trong năng lực quản lý của anh. Do đó, nếu anh xảy ra xích mích với cấp dưới, thì trước hết nên tự trách mình.

Tất nhiên, vẫn có thể nhìn nhận sự mất kiểm soát của Lavinia từ một góc độ hoàn toàn khác, đặc biệt là nếu cô ấy đã âm thầm biết chuyện Ned và Jane có tư tình. Nếu quả thực là vậy, Ned cảm thấy anh chỉ có thể tự trách chính mình. Trong tình cảnh này, cũng như bao người khác, anh đều khao khát có thể được giải thoát một cách nhẹ nhàng.

Anh đứng đó, vô tình liếc thấy một bóng dáng to khỏe như gốc cây lướt qua cửa cầu thang tầng dưới: sống lưng thẳng tắp, dáng đi nhẹ nhàng không tiếng động như mèo, nhìn qua là biết ngay đó là Perkins. Ned tránh ánh nhìn của đối phương, đây không phải là lần đầu họ suýt chạm mặt khi cùng đi lại trong tòa nhà như thế này. Nhưng lần nào cũng giống lần này, anh đều khéo léo tránh được.

Nhớ đến ông già Perkins thường xuyên lén lút đi lại trong tòa nhà, Ned vừa bực vừa buồn cười. Anh đinh ninh người này chắc chắn là thành viên của Cục An ninh Anh, công việc cho phép ông ta có điều kiện thuận lợi để dòm ngó mọi ngóc ngách của tòa nhà. Điều khiến Ned lo ngại hơn là anh cảm thấy những việc ông già này làm thường ngày đều là những thứ phô ra cho người khác xem, vì vậy anh nghi ngờ đó có thể chỉ là màn kịch. Người Anh tham gia Thế chiến II chẳng phải đã dùng đủ mọi thủ đoạn quỷ quyệt sao: quân đội giả, sân bay ngụy trang, điệp viên hai mang, những cuộc tấn công phô trương thanh thế. Bất kỳ nhân viên tình báo nước ngoài nào từng làm việc với họ đều biết, giở trò hai mặt chính là sở trường của họ. Tuy nhiên, nếu ông ta thực sự là điệp viên, thì ý đồ thực sự của ông ta là gì?

Ned sải bước đến đối tượng trò chuyện tiếp theo của mình, thậm chí không nhận ra những suy tính của anh về Perkins vừa rồi đã khiến anh gần như quên sạch chuyện của Lavinia. Ông già đó quả thực đã giúp anh một tay trong chuyện này.

9 giờ 30 phút, Ned Francis bước lên tầng nơi Jane Wilson làm việc, anh nhìn ra quảng trường Grosvenor phía dưới qua cửa sổ. Những nhân viên đi muộn đang lững thững tiến về phía đích đến của mình. Thời tiết lúc nắng lúc âm u, vài đám mây trắng chạy vội trên bầu trời xanh cao vời vợi, tiếp đó lại là những đám mây đen cuồn cuộn.

Ned nhìn cảnh tượng trước mắt, vô thức dừng bước. Quảng trường trông... không đúng lắm?

"Người gác cổng" biến mất rồi.

Ồ, tất nhiên ông ta không thể ở đó, Ned chợt nhớ đến cảnh ba tên lưu manh đánh đấm túi bụi vào người mình. Ở cái tuổi đó, bị thương nặng như vậy, chắc chắn là đang dưỡng thương ở đâu rồi. Ned đoán tuổi của "Người gác cổng", sáu mươi mấy? Trạc tuổi cha anh? Chẳng phải vài tháng trước anh đã nhờ Max Graves điều tra về ông ta rồi sao? Chắc phải có hồ sơ tư liệu chứ.

Ned không đi thẳng đến văn phòng của Jane mà dừng lại trước cửa phòng đóng kín của Graves. Anh gõ cửa, đợi một lát rồi đẩy cửa bước vào. Gương mặt gầy dài của Max lập tức biến sắc hoảng sợ, nhăn nhúm lại như vừa chui ra từ máy vắt.

"Chào buổi sáng, Ned." Đặc vụ FBI gồng giọng chào anh. "Có tin tức gì mới về vụ ngày 4 tháng 7 chưa?"

"Để sau đã. Sáng nay có chuyện gì không suôn sẻ à?"

"Sắc mặt tôi tệ đến thế sao?"

"Còn tệ hơn cả tiêu bản người ngâm trong dung dịch formalin ở bệnh viện."

"Tôi gặp..." Max ngập ngừng.

Ned nhận ra kẻ này hễ có tâm sự là hiện hết lên mặt. Câu nói dở dang kia nếu bổ sung đầy đủ chính là "Tôi gặp một rắc rối." Ned gật đầu, như đang khẳng định suy nghĩ của mình. "Vài tháng trước, tôi nhờ cậu điều tra về ông già kỳ quặc cứ đeo hai tấm biển, suốt ngày xuất hiện ở quảng trường Grosvenor, chuyện này cậu không quên chứ?"

Graves cố gắng chuyển sự chú ý từ nỗi sợ hãi và nghi ngờ chưa nói ra sang yêu cầu có vẻ không mang tính đe dọa này của đối phương. "À, tất nhiên. Không quên."

"Cậu có thể tra hồ sơ của ông ta không?"

"À, tất nhiên. Khi nào?"

Ned nhíu mày nhìn anh ta. "Ngay bây giờ."

"À, tất –" Lần này, Max nghe thấy đối phương đang bắt chước giọng điệu hoang mang lo sợ của mình.

"Ông già kỳ quặc đeo biển." Anh xoay ghế về phía máy tính trên mặt bàn bên cạnh, bật công tắc, ngón tay đặt trên bàn phím.

"Sản phẩm công nghệ cao đời mới nhất hả, Max?"

"À, tất nhiên. Ông ta tên gì?"

"Không có tên thì không tra được tư liệu à? Hệ thống truy xuất thông tin kiểu gì thế này? Ý tôi là, cậu có thể thử từ khóa không? 'Biểu tình'? 'Bất đồng chính kiến'? 'Cằn nhằn'? 'Kẻ kỳ quặc'? 'Gã điên'? Max, trong văn phòng các cậu còn ai nắm vững mã hóa máy tính không?"

Graves chậm rãi lắc đầu. "Anh không biết đâu, Ned. Máy tính ở văn phòng này do tôi phụ trách quản lý. Tôi từng được đào tạo bài bản tại trường máy tính, hệ thống thông tin máy tính ở đây cũng là một tay tôi xây dựng."

Ned dừng lại một lát rồi hỏi: "Cậu chỉ có thể dùng tên tệp mới mở được tệp thôi sao?"

"Chẳng lẽ còn cách nào khác à?"

Lần này, Ned im lặng hồi lâu, chỉ mải tính toán giá trị thực tế của một máy chủ và bốn năm thiết bị đầu cuối chỉ dùng cho một văn phòng này.

"Này," Max lớn tiếng phá vỡ sự im lặng, "chỉ cần biết tên gã đó, đảm bảo trong nháy mắt anh sẽ có toàn bộ thông tin về ông ta."

"Nghe có vẻ hay đấy."

"Burnside!" Max hét lên.

"Cái gì?"

Graves hí hửng gõ phím lạch cạch một hồi. Quả nhiên, anh ta không khoác lác, chưa đầy một giây, trên màn hình huỳnh quang đã xuất hiện ba dòng chữ xanh lục lấp lánh, Ned cúi xuống nhìn.

Burnside, Ambrose Everett – Thông tin liên quan bắt đầu từ đây: Tuổi: 66. Giới tính: Nam. Người da trắng. Địa chỉ hiện tại: Số 60 phố Goodge, London. Không có lý lịch cá nhân.

"Còn gì nữa không?" Ned hỏi.

"Người này không có lý lịch cá nhân, ở đây hay ở quê nhà ông ta đều không có."

"Thật tuyệt." Trong giọng nói của Ned lộ rõ vẻ mỉa mai. "Nếu gặp phải người không có lý lịch, các cậu chỉ cung cấp được chừng này thôi sao?"

"Tôi từng lén theo ông ta về nhà. Lấy được tên từ bà chủ nhà. Ông ta sống ở tầng trên một khách sạn có cái tên kỳ quặc, chỉ có một phòng đơn, phòng khách kiêm phòng ở. Người trong khách sạn chỉ biết ông ta ngày nào cũng đeo biển đứng ở quảng trường, ngoài ra không biết gì cả. Ông ta không hay đến khách sạn, cũng chẳng trò chuyện với ai, tốn của tôi nửa ngày trời. Ở đó toàn là khách trọ tạm thời, sinh viên Đại học London, hay đến Bảo tàng Anh đọc sách. Đó là khu Bloomsbury, lạy Chúa tôi."

"Bình tĩnh nào, Max."

"Tôi rất bình tĩnh." Graves nhấn mạnh. "Tôi muốn điều tra tất cả thông tin quan trọng của ông ta ở đây và quê nhà, nhưng chẳng thu được gì."

"Vậy là không bao giờ tra ra được à?"

"Tôi nói vậy sao?" Anh ta hậm hực hỏi ngược lại. "Ông ta có thể từng bị bức hại. Theo tôi biết, ông ta không có lý lịch cá nhân."

"Nhưng cậu nói không đúng, Max. Ambrose Everett Burnside là một danh tướng thời Nội chiến Mỹ."

Đôi mắt như cú vọ của Graves nhìn chằm chằm vào mắt Ned một hồi lâu, rồi thăm dò hỏi: "Có lẽ là người thân của ông ta?"

"Chắt, có lẽ vậy?" Ned phân tích giúp anh ta.

"Có lẽ."

"Có lẽ là tên giả, có lẽ vậy?"

"Nhảm nhí, Ned."

Hai người rơi vào im lặng. "Tắt cái máy tính ngu ngốc của cậu đi. Cái thứ quỷ này ngốn mất 500.000 đô la, mà nó cung cấp được thông tin gì chứ? Doanh nghiệp tư nhân hét giá cao với chính phủ, gấp đôi giá thị trường, chỉ để bán một thứ rác rưởi như thế này sao? Phần mềm đại diện cho trình độ phát triển mới nhất, mà cậu dùng để nhập một cái tên giả mà ngay cả đứa trẻ 12 tuổi cũng không lừa nổi vào chương trình."

"Chuyện kiểu này nhiều lắm, Ned. Anh biết mà."

May mà cái đầu chó chết của cậu không bị đặt trong tủ lạnh của tôi, Ned thầm nhủ thêm một câu. Anh ghi vội địa chỉ của Burnside vào một tờ giấy. "Cảm ơn sự giúp đỡ của cậu, Max."

Graves thấy Ned quay người đi về phía cửa, vội hắng giọng nói: "Ned, tôi làm hành chính, không giỏi làm điệp viên. Ý tôi là, tôi bám đuôi ông già như Burnside mà không để ông ta cắt đuôi sau hai ba con phố đã là may mắn lắm rồi."

"Thôi, Max, đừng than vãn với tôi."

"Nghe này, anh muốn tôi giúp, tôi cũng đã cố gắng, dù không giúp được gì nhiều." Graves chìa một tay ra phía đối phương. "Chuyện này đến đây là hết. Bây giờ, anh phải giúp tôi điều tra lai lịch của một người. Người này tên Tony Reardon, là một tay lừa đảo cao thủ, môi giới chứng khoán Mỹ. Tôi nhập tên hắn vào máy tính theo năm cách khác nhau, nhưng không nhận được bất kỳ thông tin nào."

"Tên Reardon có năm cách viết à?"

"Ít nhất là năm cách. Có ấn tượng gì không?"

Ned lắc đầu. "Có lẽ tên thật của hắn là Am..."

"...brose Burnside. Thú vị thật. Tôi đang đợi người của FBI đi làm để liên lạc với họ đây. Có lẽ ở đó có hồ sơ của hắn."

"Ở đây bây giờ là 10 giờ kém 15, đúng không? Washington bây giờ là 4 giờ 45 sáng. Còn lâu mới đến giờ làm việc. Cậu thử gửi điện tín cho người trực đêm bên đó xem sao."

Ned rời khỏi văn phòng của Graves, đi dọc hành lang về phía văn phòng của Jane. Anh cứ tự hỏi, trời mới biết trong cơ quan chính phủ có bao nhiêu kẻ ngốc đáng mến như Graves. Cậu không thể nổi giận với họ, nhưng cũng đừng mong họ có thể làm việc cho cậu một cách tử tế, ngay cả khi họ thực sự làm, thì cũng chỉ để lại cho cậu một đống bòng bong, lại phải tìm người khác dọn dẹp.

Thư ký của Jane đã ra ngoài. Ned đi ngang qua bàn làm việc của cô, gõ lên cánh cửa đang mở. "Tôi muốn phản ánh vấn đề của một nhân viên dưới quyền cô, cô Wilson."

"Ôi, Đại tá Francis. Anh làm tôi giật cả mình."

Họ lặng lẽ nhìn nhau một lúc, Ned bước vào trong vài bước. Jane nói: "Đừng vào nữa. Nhìn dáng vẻ anh là đủ no rồi. 10 giờ tôi còn có việc."

"Không có cả thời gian ăn nhanh một chút sao?"

"Không. Có chuyện gì?"

"Tôi biết Max Graves thực tế không thuộc quyền quản lý của cô, nhưng..."

"Là một chàng trai đáng yêu. Nhưng từ đây đến đây," Jane nói, chỉ vào hai bên tai, "chỉ có khuôn mặt đẹp mã, ngọt như phô mai Philadelphia vậy."

"Sao cô cứ nhớ mãi đến chuyện ăn uống thế?"

"Đừng để ý. Trưa nay chúng ta ăn gì?"

"Đảm bảo cô được ăn lạc rang, miễn là khách sạn bỏ đồ ăn vào lại cái tủ đông đó."

"Giờ cũ?"

"Trễ nửa tiếng, cho chúng ta phá lệ một chút."

Cô gật đầu, ánh mắt lướt qua người anh. "Amanda, tài liệu đó cô photo xong chưa?"

"Tôi đi photo ngay đây." Thư ký của cô đáp.

Ned nghe tiếng bước chân lạch cạch của cô xa dần, gửi một nụ hôn gió cho Jane, rồi quay người rời khỏi phòng, vừa đủ để Amanda chỉ nhìn thấy bóng lưng của mình.

"Đúng, York." Perkins nói với người ở đầu dây bên kia.

"Không cần gửi đến. Cái tên Tony Reardon này đáng chú ý đấy."

Ông ngồi trên ghế như một gốc cây, cứ như thể chính ông và cái ghế này được chạm khắc từ cùng một loại gỗ, cùng một chất liệu và độ dày.

"Anh nói ai cơ?" Giọng người Scotland vẫn mang theo vài phần bực bội như thường lệ.

"Reardon." Perkins lặp lại.

"Có quan trọng đến thế không?" York chua chát hỏi.

"Không quan trọng tôi còn nói với anh làm gì?" Perkins không chút nhượng bộ hỏi ngược lại.

Đối phương ngượng ngùng im lặng. Sau đó, Perkins phá vỡ sự bế tắc. "Anh có biết tình hình vụ tai nạn giao thông ngày hôm qua không?"

"Tôi, không biết."

"Tôi nghĩ chàng trai bị đâm đó có lẽ tên là Reardon, hoặc là cái thằng nhóc lái xe."

Từ ống nghe truyền đến tiếng ngáp dài. "Tra cho rõ đi, Peter. Phải tra cho rõ." Nói xong liền cúp máy.

Khi ngồi trên ghế, Perkins vốn có thể cử động thoải mái như người thường, nhưng ông được thừa hưởng cử chỉ đoan trang từ cha mẹ từ nhỏ, rất chú trọng tư thế ngồi: thân trên thẳng tắp, giữ góc 90 độ so với mặt đất. Vừa bị gã người Scotland kia làm cho bẽ mặt, ông muốn thả lỏng một chút, liền đứng dậy đi qua đi lại giữa hai chiếc bàn chất đầy thiết bị điện tử và dụng cụ.

Ông phải gọi vài cuộc điện thoại, phải gọi cho cảnh sát trực ban để tra rõ tên, quốc tịch của Reardon, có lẽ đây chỉ là sự trùng hợp. Có lẽ hắn không phải Tony cũng chẳng phải người Mỹ. Có thể tên là Beldon hoặc Deldon, Perkins tự nhắc nhở mình. Vì hôm qua ông nắm tình hình qua điện thoại, không thấy tài liệu văn bản.

Tuy nhiên, nếu hắn thực sự là Tony Reardon, và là người Mỹ, thì Đại tá Francis đầy mưu mô kia lại đang giở trò gì đây?

Chàng thanh niên này mặc bộ đồ sinh viên rộng thùng thình, hai chân dang rộng, khuỷu tay cong lại, nằm rạp trên mặt đất với tư thế mai phục của bộ binh. Cậu ngẩng đầu, mắt dán chặt vào một chiếc ống nhòm phóng đại cực lớn. Loại ống nhòm này do độ phóng đại vượt xa mức thông thường nên cần dùng chân máy để giữ hình ảnh ổn định và rõ nét.

Cậu nằm trong một căn phòng nhỏ bị bỏ hoang từ lâu ở tầng ba. Tòa nhà này ẩn mình trong sắc xanh tươi mát của mùa hè tại công viên Regent, trước đây có lẽ là ký túc xá sinh viên, chàng thanh niên này có lẽ là người cư trú hợp pháp ở bên trong.

Thế nhưng, tính chất quỷ quyệt của công việc mà cậu dồn toàn bộ tâm trí vào – cậu đặt bên giường một bình giữ nhiệt đầy cà phê nóng và vài thanh sô-cô-la – lại ám chỉ sự xuất hiện của cậu ở đây là hoàn toàn bất hợp pháp.

Ở độ cao này, tầm nhìn của cậu vừa đủ để vượt qua những bụi cây và hàng cây rậm rạp phía đối diện đường. Chúng tạo thành một rào chắn tự nhiên, ngăn cản người ngoài dòm ngó dinh thự Winfield nơi Đại sứ và phu nhân đang lưu trú. Con đường ngăn cách kẻ giám sát và người bị giám sát gọi là đường Outer Circle. Bây giờ đã gần trưa, những phương tiện chạy về phía nam qua đây chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Chính Ned Francis hôm qua đã chạy bộ dọc đường Outer Circle, nhìn thấy lá cờ Mỹ tung bay, sau đó lại nhìn thấy Nhà thờ Hồi giáo London thấp thoáng ẩn hiện. Thánh địa của đạo Hồi này nằm ở phía nam tòa ký túc xá nơi chàng thanh niên đang ẩn náu. Chàng thanh niên không ngừng giám sát nhiều cửa sổ của dinh thự Winfield và hai lối vào đường Outer Circle dẫn đến nơi này.

Một trong những lối vào nằm ngay đối diện tòa ký túc xá, từ đó có thể nhìn rõ mặt phía tây và phía nam của tòa Winthrop, chỉ có điều cổng lớn đóng chặt, khóa xích, và dùng ván ép che chắn kín mít, hoàn toàn che khuất tầm nhìn của người qua đường. Cách đó vài chục mét về phía bắc là lối vào thứ hai. Cổng luôn mở, nhưng có người gác cổng. Xe cộ đi vào phải dừng lại tại đây để kiểm tra, sau đó đi theo con đường rải sỏi sang trái đến phía sau tòa nhà, hoặc chạy đến bãi đỗ xe sau nhà kính và sân tennis.

Chàng thanh niên nhìn đồng hồ thấy đã 11 giờ, đưa tay cầm lấy chiếc bộ đàm cồng kềnh.

"Tango 2 gọi Người gác đêm 1."

Máy thu vô tuyến của đối phương truyền đến âm thanh gấp gáp và khàn khàn. "Tôi là Người gác đêm 1, xin mời nói."

"Vẫn là những chiếc xe đó, xe dụng cụ của người làm vườn, và xe chở hàng của công ty tiệc rượu Hawkins và Dutt."

"Hôm nay cậu làm tôi rất vui, tất cả là nhờ Allah ban cho cậu đôi mắt sáng ngời."

"10-4."

Chàng thanh niên cầm lấy một tấm bảng viết, gạch một vạch bên cạnh con số 11, rồi tiếp tục quan sát động tĩnh phía đối diện. Đột nhiên, trong bộ đàm lại truyền đến âm thanh gấp gáp và khàn khàn. "Tango 2, Tango 2, có khách đến thăm."

"Xin nhắc lại, Người gác đêm 1."

"Cậu may mắn hơn chúng tôi rồi." Đối phương kéo dài giọng. "Này người anh em, giày da của cậu đã đánh bóng chưa?"

Chàng thanh niên ngẩn người nhìn bộ đàm, dần dần hiểu ra ý nghĩa thực sự của câu nói đó: cấp trên sắp đến thị sát chỗ cậu. Ừm, thì đã sao nào? Cậu giữ vững vị trí, tuân thủ mệnh lệnh, có gì phải sợ?

"Đừng đứng dậy." Phía sau có người ra lệnh sắc lạnh.

Chàng thanh niên nghiêng người, đưa tay định với lấy khẩu súng tự động hạng nhẹ bên cạnh bộ đàm, nhưng đột nhiên khựng lại. "Chào ông." Cậu miễn cưỡng chào người mới đến.

"Chào cậu."

Một người đàn ông thấp đậm như cột chữa cháy đứng ở cửa phòng. Người này nhìn thoáng qua thì hơi giống một gã bất hảo, nhưng lại là người đàn ông mỗi ngày hít đất 50 cái. "Làm việc của cậu đi," người đàn ông thấp bé vội vã nói, "tiếp tục dùng ống nhòm quan sát đi, Schulthess."

"Vâng, ông Rand."

"Có gì mới không?"

"Vẫn như cũ, ông Rand. Vài chiếc xe tải."

"Xe chở hàng. Schulthess, xe chở hàng. Phải nói theo cách của người bản địa. Cậu cứ quên mãi."

"Kế hoạch về bữa tiệc vườn vào Chủ nhật tai họa đó, ông đã nghe nói chưa?"

"Ông Croft đã tóm tắt cho tôi rồi. Một bữa tiệc lớn với sự tham dự của các nhân vật nổi tiếng?"

"Kế hoạch này sẽ không thực hiện đâu."

"Sao vậy?"

"Sẽ không thành công đâu. Sẽ chẳng có bữa tiệc nào được tổ chức cả, vì phương án này đang bị chúng ta phản đối."

"Nhưng tôi nghe nói đây là phương án do chính phu nhân Vollmer đề ra?"

"Chuyện này, cậu không hiểu đâu."

"Vâng, ông Rand."

Hai người nói chuyện bằng giọng Mỹ một cách buồn tẻ, trong căn phòng bài trí đơn sơ vang lên những tiếng vo ve nhỏ nhẹ, như thể cuộc đối thoại này truyền đến từ tận chân trời xa xôi. Những tiếng "Vâng, ông Rand" mà chàng thanh niên thốt ra một cách ngoan ngoãn có tác dụng làm tâm trí con người bình yên, như thể họ vốn có thể trò chuyện với nhau giữa thánh đàn và hàng ghế cuối cùng của một nhà thờ lớn.

"Dọn dẹp rồi đi theo tôi." Rand nói với chàng thanh niên. "Chúng ta cần tăng thêm hai người để vận hành hệ thống giám sát điện tử, cậu và Dietrich phải ghi lại tất cả mọi tình hình trong ngoài rồi sắp xếp lại."

"Bao gồm cả điện thoại của phu nhân Vollmer?"

"Phải đặc biệt chú ý đến điện thoại của bà ta."

Người đàn ông thấp bé bắn ánh mắt thách thức về phía chàng thanh niên. "Chuẩn bị xuất phát đi, nhóc." Ông nhìn Schulthess bỏ dụng cụ của mình vào một chiếc túi hành lý bằng vải bạt bình thường, đứng dậy kéo khóa lại.

"Xong cả rồi, ông Rand."

Hai người này trông chẳng có điểm gì chung. Schulthess vẫn như một sinh viên chưa thoát vẻ trẻ con, đeo ba lô về nhà nghỉ hè. Larry Rand là người phụ trách trạm làm việc tại London của CIA Mỹ, phong thái cử chỉ chẳng có chút vẻ trí thức nào. Ông giống kiểu người nào? Một kỵ sĩ đua ngựa chuyên nghiệp đã nghỉ hưu? Huấn luyện viên thể thao? Hay là một vận động viên tham gia môn thể thao nào đó? Trong tư thế nghiêng người về phía trước của ông có một sự hung hăng, một thái độ bướng bỉnh như chó bull kiểu "trận đấu nhất định phải thắng", rất hài hòa với giọng điệu gấp gáp, ngắn gọn, dứt khoát và đầy tự tin khi ông ra lệnh.

Lander quay người, đi trước ra khỏi phòng, tiến đến một chiếc bàn dài chất đầy thiết bị nghe lén. Vài người trẻ tuổi trông như sinh viên đang đeo tai nghe, có vẻ như đang nghe 40 ca khúc đứng đầu bảng xếp hạng âm nhạc. Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ lại vội vàng ghi chép điều gì đó.

Một khi đã bắt tay vào việc, vẻ mặt cứng nhắc như chó bull của Larry Lander lập tức biến mất. Anh ta di chuyển nhanh nhẹn, lúc xoay người, lúc lùi lại, lúc nghiêng đầu, hệt như một chú chó chăn cừu lão luyện. Anh ta rất am hiểu nghệ thuật quản trị con người. Có lẽ bản năng mách bảo anh ta khi nào chỉ cần khẽ vung roi, hoặc quát tháo ra lệnh một tràng là đám thuộc cấp đông đảo kia sẽ ngoan ngoãn tuân lệnh.

Anh ta bảo Shursis ngồi xuống ở đầu kia chiếc bàn dài. "Cỗ máy này sẽ tự động đưa ra chỉ thị nghe lén," anh ta giải thích. "Thấy đèn tín hiệu trên bảng điều khiển sáng lên, cậu phải lập tức báo thời gian, không được sai lệch dù chỉ một giây. Nếu không, sau này muốn đối chiếu xem cuộn băng đó được ghi âm lúc nào sẽ rất phiền phức. Rõ chưa?"

"Rõ, thưa ông Lander."

"Bắt tay vào làm đi."

Thân hình Lander quay về phía cửa sổ. Anh ta phát hiện một cô hầu gái đang đứng bên cửa sổ tầng cao nhất của dinh thự Winfield đối diện, xịt một chút nước rửa kính rồi lơ đãng lau chùi. Trong mắt anh ta, kiểu làm việc đối phó này còn tệ hơn cả việc không làm gì cả. Bỏ tiền thuê người giúp việc, làm không tốt thì phải đuổi việc. Thế nhưng cô hầu gái lười biếng đối diện kia, chẳng biết đến bao giờ mới bị trừng phạt, mà trước đó, cô ta còn liên tục trộm tiền của chủ nhà.

Anh ta thu hồi ánh mắt, quan sát đám thanh niên bên cạnh. Họ trông như đang vây quanh một chiếc bàn dài để ôn bài chuẩn bị thi cử. Quả thật, đây chính là một cuộc thi. Kẻ địch ngày nào cũng giở trò lừa bịp, bạn phải có khả năng vạch trần chúng. Cuộc thi này không bao giờ có hồi kết, bạn buộc phải giải đáp những câu hỏi sống còn này, nếu không sẽ phải trả giá đắt.

Anh ta đi đến một góc phòng, chộp lấy ống nghe điện thoại đặt trên sàn xi măng bụi bặm, quay một dãy số. "Henlin, nói nhanh tình hình đi."

Người ở đầu dây bên kia nghẹn lại một câu kiểu như "Tôi không chắc", rồi tiếp tục: "Bây giờ nói vẫn còn quá sớm, thưa ông Lander."

"Vậy sao?" Lander truy vấn không buông. "Cậu đang tìm cớ phải không?"

"Chúng tôi mới chỉ bắt đầu liên lạc với họ cách đây một tiếng. Một nửa số điện thoại chúng tôi gọi đều không có người nhấc máy."

"Đó là cái cớ, Henlin. Cậu đã liên lạc được với ai?"

"Chỉ có hai người: Robert Mann và Gillian Lamb."

"Họ là ai?"

"Một người là sếp của đài truyền hình Grenada, người kia là người dẫn chương trình truyền hình, hình như chuyên bàn về các vấn đề phụ nữ."

"Đừng nói lan man, Henlin. Kết quả thế nào?"

"Mann rất nhanh đã khuất phục. Hắn không định đến, cũng không cho thuộc hạ đến. Nhưng mụ đàn bà tên Lamb kia lại muốn biết tôi là ai, đại diện cho tổ chức nào, vân vân và vân vân."

"Đừng nói lan man, kết quả thế nào?"

"Thưa ông Lander, chúng tôi chắc chắn một trăm phần trăm mụ ta sẽ tham dự buổi tiệc vườn vào Chủ nhật. Mụ ta nói biệt danh của mình là người phụ nữ chuyên gây tranh cãi."

Lander đứng tại chỗ, im lặng hồi lâu, chăm chú lắng nghe tiếng rè rè của dòng điện phát ra từ tai nghe của sáu trợ lý đang giám sát dinh thự Winfield. "Vậy cứ thế đi, Henlin," anh ta nói. "Những người khác thì sao?"

"Cũng như chúng ta thôi. Một nửa này, một nửa kia."

"Tôi ra lệnh cho các cậu, nếu gặp lại những kẻ cứng đầu như Lamb, các cậu hoàn toàn có quyền nhân danh tổ chức khủng bố gửi cho mụ ta vài lá thư đe dọa. Rõ chưa? Những kẻ lập dị như mụ ta, phải cho mụ ta biết tay. Chúng ta xem rốt cuộc mụ ta thích gây tranh cãi đến mức nào."

Giống như một số nhân viên được tuyển dụng sau khi OSS (Cục Dịch vụ Chiến lược) thời chiến giải thể và CIA thời bình được thành lập, Lawrence Lander cũng từng học tại Đại học Brown. Thành tích học tập của anh ta luôn chỉ ở mức C+, nhưng anh ta từng là đội trưởng đội đấu kiếm. Sau khi tốt nghiệp năm 1960, anh ta tích cực thực hiện nghĩa vụ của mình tại CIA và bắt đầu thăng tiến từng bước.

Con đường quan lộ hanh thông của anh ta chủ yếu do hai yếu tố, một là yếu tố hoàn toàn ngẫu nhiên. Một trong những người sáng lập CIA là Henry Lander, thực ra không có bất kỳ quan hệ họ hàng nào với anh ta, nhưng anh ta luôn tránh không nhắc đến Henry Lander. Cùng họ với một nhân vật quyền thế, ngay cả ở những bộ lạc nguyên thủy nhất, cùng lắm cũng chỉ là một lá bùa hộ mệnh không đáng kể. Thế nhưng tại Langley, Virginia, nơi cách xa trụ sở chính của CIA, đặc biệt là sau khi Henry Lander, một trong những người sáng lập qua đời, cái họ này đã đóng vai trò thúc đẩy kỳ diệu cho sự thăng tiến của Larry.

Yếu tố thứ hai không hề ngẫu nhiên mà liên quan đến tính chất công việc. Công việc tại trạm CIA London đối với bất kỳ đặc vụ chuyên nghiệp nào sắp đến tuổi nghỉ hưu đều là một vị trí béo bở đáng mơ ước. Chức vụ trạm trưởng thường được dành cho kiểu người chuẩn bị rút lui khỏi dòng đời, về nhà chăm sóc vườn tược sớm tối, nhưng những năm gần đây, công việc ở đây dần trở nên căng thẳng khốc liệt, thường xuyên xuất hiện nhiều điềm báo nguy hiểm bất ngờ, vì vậy rất cần một nhân vật bàn tay sắt trấn giữ chỉ huy, một người có thể giở mọi thủ đoạn mà không hề cảm thấy tội lỗi.

Suy nghĩ của Larry Lander dần quay về thực tại.

Anh ta đang dốc toàn lực để "hủy bỏ" buổi tiệc vườn mà Pandora Fall đã dày công chuẩn bị - sự kiện mà bà ta coi trọng và tự hào hơn cả con cái mình. Một khi biết chính anh ta là người đứng sau phá đám, đe dọa khách khứa, Pandora chắc chắn sẽ kết thù không đội trời chung với anh ta. Đồng thời, hành động này chắc chắn cũng sẽ đắc tội với Royce Cornell, chưa kể đến con chó săn Ned French của ông ta.

Tuy nhiên, những người như Larry Lander chưa bao giờ nghi ngờ rằng việc mình làm là hoàn toàn đúng đắn. Đúng vậy, sự can thiệp của anh ta có lẽ sẽ tạo ra tác dụng ngược đối với những phóng viên đầy rẫy ý tưởng tồi tệ như Gillian Lamb. Có lẽ sẽ khiến một đám người tự do ngu xuẩn, cứng nhắc tụ tập lại, trở thành mục tiêu tấn công của những kẻ sát nhân Ireland và Hồi giáo, từ đó khiến cuộc sống của Ned French trở nên khó khăn hơn.

Không cần phải lo lắng. Khi bạn biết điều gì là đúng đắn, cứ lặp đi lặp lại việc đó, cho đến khi leo lên vị trí cao như Larry Lander, lúc đó dù bạn làm gì cũng đều là đúng đắn. Vào thời khắc cuối cùng khi phần lớn khách mời đáng lẽ phải đến lại không xuất hiện, những người được anh ta điều động tạm thời để hỗ trợ Ned French sẽ dùng hết khả năng để đảm bảo an toàn tính mạng cho Đại sứ và phu nhân, còn những người khác sống chết ra sao chẳng liên quan gì đến họ.

Đặc biệt là Ned French.

Một người sắt đá, một khi nhận được sự tôn trọng nhờ giữ chức vụ cao, thường phải đối mặt với một vấn đề khó khăn, đó là trực giác nhạy bén của bản thân thường không được người khác đánh giá cao. Tuy rằng Lander thường ngày tự phụ, hay giáo huấn người khác, nhưng lại có một năng lực đặc biệt gần như hoang tưởng, có thể nhìn thấu khiếm khuyết tính cách của người khác.

Nghệ thuật làm việc trong các cơ quan tình báo mà Larry Lander tôn sùng chính là cố gắng cung cấp đủ loại tư liệu nội dung phong phú để đối phó với những lời buộc tội vô lý của bộ máy quan liêu. Với tư cách là người đứng đầu trạm CIA London, nhiệm vụ hàng đầu của anh ta là không để bộ phận công tác này trở thành mục tiêu công kích tùy tiện của bộ máy quan liêu.

Liệu một kẻ nông nổi như Cornell có bỏ qua cơ quan tình báo để sắp xếp người khác làm công việc đáng lẽ thuộc phạm vi trách nhiệm của cơ quan tình báo hay không? Nếu vậy, phải để kẻ đó hứng chịu đòn đánh nặng nề, chí mạng ngay trước mắt Cornell. Đây là cách duy nhất để Cornell rút ra bài học quan trọng -

[DeepSeek phụ dịch] C.1
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 6 năm 2026