Đại sứ quán nguy tình (Embassy)

Đại sứ quán nguy tình (Embassy)

Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 01

❊ ❊ ❊

Mỗi ngày tại London đều bắt đầu bằng một khung cảnh quen thuộc.

Khi phần lớn mọi người còn đang chìm trong giấc mộng, một vầng thái dương nhô lên từ đường chân trời xa xăm, dát ánh vàng kim lên những tầng mây dày đặc bao phủ thành phố, tạo nên một ảo giác về ngày nắng đẹp, rồi sau đó biến mất không dấu vết.

Ned thắt chặt dây giày chạy bộ. Mặt trời mọc ở hướng đông lặn ở hướng tây mỗi ngày, vận hành đều đặn như một chiếc đồng hồ, chạm sâu vào nỗi u sầu trong tâm khảm của Ned-French. Cuộc sống cá nhân của anh hoàn toàn trái ngược với quy luật bất biến này: hỗn loạn, khó lường và tất cả đều dựa vào vận may.

Anh nhếch mép cười. "Tất cả dựa vào vận may" là câu cửa miệng của Chemnitz, thầy giáo đại học của anh. Vị giáo sư này dù là người tị nạn Đức, nhưng luôn thích "cướp bóc" những từ vựng tiếng Anh ẩn giấu trong các góc khuất để làm phong phú thêm cách diễn đạt của mình.

Cuộc sống cá nhân của Ned chẳng có quy luật nào cả. Ví dụ, căn hộ của anh nằm ở St. John's Wood gần Regent's Park có ba lối ra, trong đó một lối đã bị khóa. Chẳng ai đoán được sáng nào anh sẽ rời nhà qua lối nào.

Anh cũng có thể thay thường phục để chạy bộ trong công viên như bây giờ, hoặc ăn mặc chỉnh tề cầm ô ra ngoài, hoặc đi bộ đến ga tàu điện ngầm St. John's Wood để bắt chuyến tàu hướng nam đến Bond Street.

Ned liếc nhìn Levina đang nằm ở phía bên kia chiếc giường lớn, thấy đôi gò bồng đảo của cô đang phập phồng nhịp nhàng. Thật kỳ lạ, sao hơi thở của cô lại đều đặn đến thế.

Hoang tưởng. Ned nhón chân đi xuống bếp. Anh cúi người mở tủ lạnh, hít một hơi lạnh... nhìn kỹ cánh cửa tủ xem có đóng chặt không?

Chỉ có anh và Levina sống ở đây—bốn cô con gái của họ đã sang Mỹ từ tuần trước—vì vậy, sẽ chẳng có những ngón tay nhỏ nhắn dính dớp nào thò vào tủ lạnh, hay để cửa hé mở. Anh dùng ngón cái và ngón trỏ đẩy nhẹ cửa tủ lạnh, nó không hề nhúc nhích, đóng kín mít.

Ned ra khỏi nhà, chạy chậm trên những con phố tĩnh lặng, anh cảm thấy luôn có thứ gì đó, một con quỷ hèn hạ, dơ bẩn, không thể gọi tên đang hành hạ mình.

Hoang tưởng, anh nhếch mép chế giễu bản thân—triết lý sống của một kẻ hay suy tư.

Dẫu vậy, anh hiểu rõ rằng khi đang thi hành công vụ, việc giễu cợt bản thân là kẻ hay mơ mộng chẳng phải chuyện tốt, bởi tính cách này chính là một trong những vũ khí lợi hại của anh, nó kết hợp chặt chẽ với ánh nhìn nhạy bén thấm đẫm nỗi u sầu, giúp anh biết được khi nào sẽ có biến. Ngay lúc anh đang chạy chậm, một cơn sợ hãi ập đến như chứng đau nửa đầu đột phát.

Chết tiệt, sắp có chuyện rồi. Hy vọng chứng hoang tưởng có thể giúp mình chỉ ra chính xác vấn đề nằm ở đâu! Anh ngước nhìn bầu trời.

Đây là một khoảnh khắc mê hồn: ánh bình minh nhuộm đỏ bầu trời phía đông trên đỉnh Primrose Hill, rồi lại đổ xuống phía tây một luồng sáng rực rỡ, sân cricket quý tộc đối diện Wellington Road lập tức lộ rõ đường nét. Một lát sau, tòa nhà cao tầng hiện đại đầy uy nghiêm của bệnh viện Wellington tỏa sáng dưới ánh mặt trời, rồi tất cả lại bị một bức màn trời xám xịt che khuất. Đột nhiên, Ned nghĩ đến người vợ vẫn đang say ngủ trên giường.

Liệu cô ấy có đang giả vờ ngủ không?

Anh dừng lại ở góc phố Prince Albert Road. Lúc này, xe cộ trên đường thưa thớt, qua những kẽ lá trên cành cây, anh có thể nhìn thấy nhân viên tại Winfield House đã vào vị trí cạnh mấy cột cờ. Bây giờ là cuối tháng 6, cành lá sum suê gần như che khuất cột cờ.

Khu đất xanh tươi mướt mắt thuê lại từ Hoàng gia Anh này có diện tích 12 hecta, trên đó sừng sững một tòa nhà theo phong cách thời kỳ George, có tổng cộng 35 phòng. Ngài Đại sứ thường nghỉ tại đây. Hầu hết người Mỹ và người Anh đều cho rằng, Đại sứ quán Mỹ là một tòa nhà đồ sộ tọa lạc tại Grosvenor Square ở Mayfair, nơi nhìn xuống bức tượng đồng đầy vết tích thời gian và thu hút ánh nhìn của Tổng thống Roosevelt đang khoác áo choàng.

Thực ra, tòa nhà hình khối vuông vức đối diện mặt phố do Saarinen thiết kế đó là nơi làm việc của Đại sứ quán, còn dinh thự Đại sứ biểu trưng cho trung tâm quyền lực lại nằm trong Regent's Park. Lúc này, cửa sổ tầng thượng của nó lấp lánh ánh ráng chiều lúc ẩn lúc hiện, ngài Đại sứ vẫn chưa thức dậy. Mỗi tối trước khi đi ngủ, ông đều cầu nguyện Chúa bảo hộ cho linh hồn mình được bình an, hoặc ít nhất là giữ cho sắc mặt được điềm tĩnh.

Ned liếc nhìn chiếc xe vẫn luôn theo sau bảo vệ mình đang rẽ vào Macclesfield Bridge, nhưng lúc này trong đầu anh chỉ có một ý nghĩ:

Tại sao cô ấy phải giả vờ ngủ?

Edward James French năm nay 40 tuổi, là một đại tá có chức có quyền, nhưng lại có vẻ quá non trẻ để đảm nhận vị trí sĩ quan tình báo cấp cao nhất của Đại sứ quán tại một đô thị đầy rẫy biến động như London. Anh thầm nghĩ: 21 năm hôn nhân sắp đổ vỡ, mình còn trẻ thế này, làm sao chịu nổi đả kích nghiêm trọng đến vậy.

Anh tăng tốc, chạy lên bãi cỏ công viên chạy song song với đường vành đai ngoài. Khi đi ngang qua Winfield House, anh nhìn thấy lá cờ Stars and Stripes kéo lên trên cột cờ. Dưới ánh sáng mờ nhạt của buổi sớm, các sọc đỏ trắng trên đó trông ủ rũ, như những cây kẹo bạc hà không đặc điểm, nền xanh đầy sao mờ ảo không rõ nét, cả lá cờ hình chữ nhật hòa làm một, chẳng nói rõ là màu gì.

Tệ thật. Ned vừa chạy vừa suy nghĩ, bỏ lại dinh thự Đại sứ phía sau. Thật tệ, mặt trời chỉ ló dạng một chút, không kịp đổ những sắc màu rực rỡ khiến lòng anh run rẩy lên lá cờ vinh quang đó.

Giày chạy bộ giẫm những nhịp nhẹ nhàng trên vỉa hè. Anh lại liếc nhìn chiếc xe bảo vệ phía sau, chiếc Ford Fiesta màu nâu do Mo Charman lái, cố gắng giữ tốc độ chậm, bám sát theo anh. Bên phải anh, mái vòm và tháp đèn rực rỡ của Nhà thờ Hồi giáo Trung tâm London lúc ẩn lúc hiện, phần thân mạ vàng béo ngậy bên dưới khảm một vầng trăng khuyết, thỉnh thoảng bị bầu khí quyển mờ ảo phía trên London che khuất, phát ra ánh sáng chập chờn.

Đầu anh bỗng ù lên một tiếng, điềm gở lại một lần nữa cảnh báo anh, như móng vuốt của đại bàng khổng lồ túm chặt lấy anh. Anh hiếm khi có linh cảm xấu như vậy, nên cảm thấy lần này gần như không thể thoát thân.

Anh chạy lên Baker Street, mồ hôi nhễ nhại, lúc này anh nhìn thấy vài người chạy bộ khác. London vốn dĩ giao thông đông đúc, cộng thêm đường sá đan xen không theo quy tắc, vì vậy dù người chạy bộ hay người đi xe đạp có cẩn thận đến đâu, cũng có khả năng va chạm hoặc gặp tai nạn bất cứ lúc nào. Ned giảm tốc độ, giữ khoảng cách nhất định với các phương tiện khác và áp sát mép vỉa hè bên trái. Như vậy, dù xe cộ đi từ hướng nào tới, cũng khó mà đâm phải anh. Mặc kệ tất cả điềm gở xuống địa ngục đi!

Chiếc xe hộ tống anh đi chậm rãi cách một khoảng phía sau. Ned không sao, nhưng mạng sống của những người chạy bộ "trình độ cao" khác lại thường xuyên bị đe dọa bởi các loại xe cộ chạy lướt qua. Da thịt con người với những thứ làm bằng thép cùng dùng chung một con đường, thế nào cũng khiến bạn thấy rợn người. Nhưng nếu như—

Cách anh không quá năm sáu thước phía trước, một chiếc xe con hiệu Mini màu xanh nhạt đột ngột rẽ gấp, đâm ngã một người chạy bộ xuống mặt đường cứng nhắc của Bond Street. Chúa ơi, điềm gở đã ứng nghiệm!

Người này bị đâm mạnh, lộn hai vòng, rồi rơi xuống vỉa hè như một bao xi măng. Mấy người qua đường thấy cảnh tượng đó thì chết lặng, chờ đến khi hoàn hồn mới vội vàng chạy tới cứu giúp. Nhưng chiếc Mini kia vẫn không dừng lại.

"Đồ khốn!" Ned chửi thầm. Anh dồn hết sức bình sinh, tung người nhảy tới. Cổ họng anh hơi đau, mồ hôi từ mặt chảy ròng ròng, đèn vàng ở bốt gác phía trước đã sáng lên.

"Đồ khốn!" Anh gầm lên, dang rộng hai tay lao về phía chiếc Mini, chỉ cảm thấy ngón tay mình nắm chặt lấy tay nắm cửa xe, lúc này anh đã hoàn toàn mất đi khả năng tự vệ. Chiếc xe xóc nảy lao về phía trước.

Anh cố xoay người, liều mạng kéo cửa xe, nghiêng ngả đổ về phía trước. Ngay lúc sắp ngã xuống, anh dùng sức đẩy cửa xe mở rộng hơn nữa. Đầu gối va mạnh xuống mặt đường bê tông của vỉa hè. Anh nghiến chặt răng, chuẩn bị chịu đựng cơn đau xé lòng khi bánh xe cán qua hai chân. Chiếc xe này chỉ cần chạy thêm vài thước nữa, chắc chắn sẽ nghiền nát đôi chân anh.

May thay, chiếc Mini dừng lại đột ngột. Ned nhớ lại lúc nãy mình đã đẩy cửa xe vào một nửa, kẹt chặt lấy ghế lái, nhưng thứ thực sự khiến chiếc xe dừng lại chính là chiếc Fiesta màu nâu. Mo Charman đã chặn trước đầu chiếc Mini, buộc nó phải dừng lại. Bóng dáng Ned kỳ diệu nhảy lên, xuất hiện trước mắt hắn.

"Mày muốn chết à?" Tài xế chiếc Mini quát lớn.

Tay phải Ned vung lên khiến đối phương hoa mắt. Tiếp đó, anh chụm ngón cái và ngón trỏ, ấn mạnh vào huyệt vị thần kinh phế vị phía trên rốn của tài xế, kẻ tội nghiệp này lập tức thở không ra hơi, mặt cắt không còn giọt máu, không thể nhúc nhích.

Ned lảo đảo đứng dậy, bước đi tập tễnh về phía người đang nằm dưới đất. Đã có người cởi áo khoác kê dưới cái đầu đang chảy máu ròng ròng của anh ta. Hai cảnh sát mặc đồng phục đang chạy từ xa tới chỗ đám đông.

Ned khập khiễng đi đến gần chiếc Fiesta, gọi Charman lên xe cùng mình.

"Đi mau!"

"Anh không sao chứ, Ned?"

Tòa nhà văn phòng tại Grosvenor Square, cùng với bức tượng đại bàng vàng rộng 35 feet, dường như khá hài hòa với chiều cao của các tòa nhà xung quanh. Thực ra đây là một ảo giác. Người qua đường chỉ có thể nhìn thấy năm tầng lầu và một sân thượng hình bậc thang, không hề biết rằng còn có ba tầng nữa được chôn sâu dưới lớp đất phù sa của London.

Trong một tầng hầm tại đó, Ned French vội vàng tắm rửa, lau khô người, bôi thuốc sát trùng lên đầu gối bị trầy xước, rồi vội vàng thay thường phục sạch sẽ. Anh vừa bước vào sảnh tầng trên đã bị một thanh niên người Anh chặn lại. Những chàng trai đầy sức sống này thường chạy việc, làm người đưa tin và liên lạc ở đây.

"Đại tá French, thưa ngài," chàng thanh niên thở hổn hển nói, "Ông Cornell bảo ngài đến văn phòng của ông ấy ngay lập tức."

"Bảo ông ấy, tôi mặc quần áo xong sẽ tới ngay."

"Ngay lập tức, thưa ngài."

Ned nghĩ đến việc trong số 800 nhân viên tại tòa nhà này, người Mỹ còn chưa đến một nửa, trong lòng không khỏi nảy sinh chút khó chịu. Những người còn lại gần như toàn là người Anh, họ tham gia vào công việc bí mật thông qua việc kiểm tra lòng trung thành, chỉ là những tạp vụ đơn điệu máy móc nhất. Mỗi khi cần tuyển người mới, họ gửi hồ sơ lý lịch của ứng viên cho Cơ quan An ninh Anh phê duyệt một bản, bản còn lại gửi đến trạm làm việc của CIA tại London, rất nhanh sẽ có kết quả kiểm tra. Trong mắt Ned, điều này tự nó cho thấy quy trình có vẻ rườm rà này thực chất là đơn giản nhất.

Ned vừa cài khuy áo sơ mi, thắt cà vạt, vừa thầm nghĩ, trời mới biết những người Mỹ đã qua kiểm tra của FBI thực sự đáng tin hơn họ bao nhiêu. Việc kiểm tra lòng trung thành của nhân viên tình báo thời nay rốt cuộc có tác dụng gì? Chẳng hơn gì những linh cảm ngớ ngẩn trong đầu bạn đâu.

Cuộc sống, ừm... ừm, tất cả đều dựa vào vận may. Bạn vừa mới chạy bộ xong, trong chớp mắt đã bị xe cán nát bấy, kẻ gây tai nạn đã chạy thoát từ lâu. Anh nhìn kỹ đôi mắt xanh thẫm của mình. Anh đã chơi trò chơi này cả đời, từ những ván bài poker đơn giản đến việc chỉ huy đặc vụ tại các khu vực biên giới đầy rẫy âm mưu. Ned biết, năm tháng đã ban cho anh một đôi mắt luôn lạnh lùng vô hồn. Báo cáo kiểm tra lòng trung thành của anh ghi nhận như sau: Mắt, không khác người thường, màu đá lapis lazuli.

Jane đã từng dùng từ này. Không phải xanh thẫm: màu đá lapis lazuli.

Ned tỉ mỉ thắt nút cà vạt. Bạn giao thiệp với những người ăn mặc chỉnh tề như Royce Cornell, thì phải chú ý đừng để chiếc cà vạt hơi lệch làm phân tán sự chú ý của ông ta. Ned lao lên một tầng lầu, văn phòng của Royce nằm trên tầng năm, nhưng dù sao mình vừa chế phục được một tên xấu, lại tràn đầy nhiệt huyết yêu nước, nên phải tràn đầy năng lượng mà lao vào công việc.

"Ned!" Cornell chỉ vào chiếc ghế bành có đệm mềm cạnh bàn cà phê lớn, ông ngồi xuống một chiếc ghế khác, ánh mắt sắc bén nhìn vị phó phòng an ninh dưới quyền mình.

"Kể cho tôi tất cả những gì anh biết về vợ của Đại sứ, bà Fulmer."

French quan sát vị trưởng bối trước mắt, ban đầu còn chút dè dặt, sau đó lộ ra vẻ tập trung như đang thưởng thức một thiết kế tinh xảo. Royce Cornell là một người hoàn hảo. Điều này không chỉ vì: ông dù được sinh ra bởi một người phụ nữ phóng đãng, nhưng lại lớn lên thành một người đàn ông đẹp trai, mái tóc trắng dày là minh chứng duy nhất cho 50 năm thăng trầm của ông; cũng không chỉ vì ông là đại diện ngoại giao xuất sắc nhất do Bộ Ngoại giao bổ nhiệm, lập nên một hồ sơ ghi dấu sự thăng tiến vững vàng trong 30 năm sự nghiệp ngoại giao. Nói ông là người hoàn hảo, chủ yếu vì vẻ ngoài của ông thể hiện khí chất ưu tú bên trong con người này: kiên nghị, ít nói, uyên bác, ăn nói có duyên, phong thái tao nhã, ăn mặc chỉnh tề, người như vậy có thể bán cho bạn tất cả mọi thứ từ bảo hiểm nhân thọ đến kẹo cao su.

"Susan Pandora Morgan," Ned bắt đầu bài tường thuật của mình, "sinh khoảng năm cuối cùng của Thế chiến II tại thị trấn Biloxi, bang Mississippi, cha mẹ là vợ chồng Consuelo và Montgomery Morgan. Tốt nghiệp trường nữ sinh do cô Huckleton sáng lập, làm việc cho tờ 'Tampa Daily', viết các bài phóng sự về vấn đề phụ nữ và các chủ đề chung khác. Sau đó tốt nghiệp Đại học Sproul ở Orlando, lấy bằng Cử nhân văn chương, rồi tiếp tục học lên cao, lấy bằng Thạc sĩ Khoa học chính trị tại trường đó. Tại sao ông không để Carl Follett cung cấp tài liệu nền của bà ta? Việc này thuộc quyền quản lý của ông ta, không phải của tôi. Gia đình Morgan này khá có ảnh hưởng xã hội, nhưng không có tiền. Tôi đoán báo chí sẽ trả..."

Cornell làm một cử chỉ mất kiên nhẫn. "Anh phải nói vào vấn đề thực chất."

"Vấn đề thực chất? Nếu bà ta nói với Đại sứ," Ned bắt chước giọng điệu kéo dài đặc trưng của vùng Vịnh, "'Anh yêu, sao anh không ngâm mình trong cái bồn tắm trắng đó đến 5 giờ, để tránh làm máu nhỏ xuống thảm,' thì ông Byrd tội nghiệp sẽ ngoan ngoãn chui vào bồn tắm mà không nói một lời."

Ánh mắt ẩn chứa sự giận dữ của Cornell là một tín hiệu đáng suy ngẫm, ông không bộc lộ ra ngoài, chỉ tỏ vẻ không hài lòng. Ned ngồi im lặng lâu lâu thưởng thức biểu cảm của ông. Anh thích nhìn người khác thể hiện thế giới nội tâm của mình một cách đúng mực như vậy, từ Royce, anh có thể thưởng thức màn trình diễn tinh tế của một diễn viên chuyên nghiệp kiểu cũ.

Thư ký của Cornell bưng hai tách cà phê vào văn phòng, đặt lên bàn, hỏi: "Đại tá French, như vậy được không?"

Ned mỉm cười với cô: "Tôi chưa kịp uống cà phê ở nhà. Làm phiền cô quá."

"Không sao." Royce thay cô trả lời từ bên cạnh. Nữ thư ký đi về phía chiếc tủ lạnh nhỏ chỉ để được vài chai, bề mặt sơn vân gỗ. Ned nhìn cô rót ra hai cốc nước cam nhỏ, xoay người rời khỏi phòng.

Ned nghe thấy tiếng cửa tủ lạnh đóng nhẹ. Anh rõ ràng biết cửa tủ lạnh đã đóng chặt rồi, nhưng vẫn không nhịn được thò chân, dùng mũi giày da bằng nhẹ nhàng đẩy vào cửa. Làm vậy khiến đầu gối anh đau nhói. Cornell có lẽ có điều muốn nói, chỉ là nhẫn nhịn không thốt ra, ông cúi đầu nhìn cốc nước cam trước mặt, vô tình nhíu mày, trên mặt lập tức hiện lên một biểu cảm tuyệt vời, nghiêm nghị như được đẽo gọt bằng dao, làm tôn lên vẻ đẹp trai của khuôn mặt đoan trang cân đối kia.

"Thân thế của bà Fulmer này có điểm đen nào không?" Câu hỏi bâng quơ của Cornell mang theo giọng điệu ép người. "Đã từng ký tên vào bản kiến nghị nào chưa? Tham gia hoạt động quyên góp nào không? Có bạn bè hay người quen khả nghi nào không?"

French lắc đầu. "Bà ta rất trong sạch, Royce. Có căn cứ gì để nghi ngờ bà ta không?"

Nhân vật số hai của Đại sứ quán trầm ngâm một lát, giống như Ned lúc nãy, như đang suy tính các bước hành động tiếp theo. Ông cầm lấy xấp giấy được ghim lại trên bàn đưa cho Ned: "Đây là danh sách khách mời tham dự tiệc vườn ngày 4 tháng 7 mà bà ta soạn thảo."

French lật từng trang danh sách, vừa xoa đầu gối đang đau. Các cái tên bên trên không được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái. Anh nhanh chóng nhận ra, Pandora Fulmer soạn danh sách này không theo quy luật nào, mà là sự kết hợp ngẫu hứng. Nếu bà ta viết tên ba ngôi sao điện ảnh trước, thì sẽ thêm vào tám người khác; tương tự, nếu bà ta tình cờ nghĩ đến một học giả danh tiếng, cũng sẽ tìm thêm năm người khác để viết vào.

Danh sách này liệt kê những nhân vật kiệt xuất trong giới Anh-Mỹ tại London, từ nhà ngoại giao, nghệ sĩ, đại gia thương giới đến ngôi sao nhạc rock, nhà thiết kế thời trang, và những người may mắn nổi tiếng sau một đêm được giới trẻ sùng bái đến phát cuồng. Các ngôi sao điện ảnh đến thăm không bỏ sót ai, những nhân tình xinh đẹp, những chàng trai lãng mạn đa tình, phàm là người có danh tiếng đều nằm trong danh sách được mời. Nếu một nửa số người trong danh sách đến dự, Ned nghĩ, bữa tiệc này sẽ có hy vọng trở thành sự kiện được giới truyền thông đưa tin tập trung nhất, trừ thiên tai ra.

Anh ngước nhìn Cornell. "Follett sẽ nói gì về việc này?"

"Follett," Royce nhấn mạnh chữ cái đầu của cái tên này một cách sắc bén, "lúc này đang nghỉ phép một tháng tại Newport, Rhode Island."

Bầu không khí điềm gở khó chịu như chứng đau nửa đầu, ập đến đè nặng lên tim Ned, khiến anh nghẹt thở đến mức gần như không thể thở nổi. Anh cố gắng an ủi bản thân, thả lỏng chút đi, không sao đâu, không cần phải sợ hãi.

"Ông ta chọn thời gian nghỉ phép đúng lúc thật." Ned nhíu mày. "Khoan đã, ông không định nói là, bây giờ trưởng phòng an ninh không có nhà, thì đến lượt tôi phải đối phó với tình thế nan giải này chứ?"

"Còn ai có thể rảnh tay nữa?"

"Nhưng, Royce..." Ned do dự: nếu giải thích chi tiết tình hình công việc trong giới tình báo cho ai đó, mà sau này người đó phải phủ nhận mình biết những chuyện này, thì sự giải thích đó chi tiết đến mấy cũng bằng không. "Royce, ông biết đấy, tôi làm việc trong bộ phận tình báo quân sự, không phù hợp để xử lý việc này vốn chẳng liên quan gì đến quân sự. Follett không có nhà, người ông ưng ý nhất phải là—"

"Không cần anh nói ai là người tôi ưng ý nhất."

"Nhưng đây là phạm vi chức trách của ông ta."

"Sai rồi." Lời phản bác của Royce không hề cao hơn âm lượng ông thường nói. "Chức trách tôi phải thực hiện để các hoạt động của Đại sứ quán diễn ra an toàn, chính là chọn người có năng lực nhất phụ trách công tác bảo vệ. Larry Land không phải là lựa chọn tốt nhất mà tôi hài lòng."

"Ông ta sẽ gào thét như một con lợn rừng bị đâm một nhát, một con lợn bẩn thỉu không ai để ý."

"Người khác nợ ông ta một cây xúc xích, ông ta cũng sẽ càu nhàu như một con lợn con." Cornell dùng một loạt từ ngữ miệt thị để nói về cấp dưới của mình, điều này khá trái ngược với tính cách của ông. "Vì vậy, công việc này do anh phụ trách."

"Cảm ơn." Ned trả lời lạnh lùng. Anh lùi người ra sau ghế, thầm nghĩ, Cornell lại tạo thêm cho mình một kẻ thù rồi.

Ned xem xong danh sách đặt lên bàn, ngồi im không nói tiếng nào. Rất khó để biết nên bắt đầu từ đâu. Mời nhiều nhân vật nổi tiếng tham dự lễ kỷ niệm ngày Độc lập tại Đại sứ quán Mỹ như vậy, tuy về lý thuyết không có gì không đúng, nhưng cũng hơi quá đà, nếu không khéo sẽ gây ra tai họa lớn. Hèn gì đến bây giờ anh vẫn còn đầy lo lắng.

"Giới danh lưu hội tụ một chỗ." Anh lẩm bẩm một câu.

"Giới danh lưu hội tụ một chỗ." Royce Cornell lặp lại lời đối phương, rồi bổ sung: "Việc này giống như anh dùng bia đỡ đạn che ngực mình, rồi đưa súng cho tên khủng bố gần anh nhất."

"Đại lễ ngàn năm có một." Ned cố gắng làm giọng mình dịu lại. Hai người im lặng hồi lâu. "Này," Ned không nhịn được mở lời, "nên bảo bà ta đừng phô trương như vậy. Thời Nữ hoàng Victoria có lẽ được, lúc đó tình hình không phức tạp thế này. Ngày nay thì không."

Cornell không phản ứng. "Bà ta đã qua mặt chúng ta thế nào?" Ned hỏi. "Mấy tuần nay chắc chắn là bận rộn gọi điện mời khách."

Vị đại diện gật đầu vẻ u ám, vẫn không đáp lời.

"Tuyệt thật!" Ned nói tiếp. "Bà ta biết ông sẽ không đồng ý, nên chọn cách lừa dối. Còn ông, phải để âm mưu của bà ta thất bại. Thật thú vị."

Cornell nhìn anh một lát không cảm xúc. "Ned," ông thở dài, "tôi thực sự ghen tị với khả năng phớt lờ thực tế chính trị của những người quân nhân các anh. Chẳng lẽ anh thực sự không nhận ra những kẻ môi giới chính trị dưới quyền Tổng thống đang khiến ông ấy tự làm tự chịu sao?" Trên mặt ông thoáng qua vẻ khinh miệt. "Ông ta đã khiến đất nước thụt lùi về thời kỳ trước Herbert Hoover. Chỉ có người giàu hoan nghênh ông ta, còn người nghèo và tầng lớp nghèo đói mới do chính tay ông ta tạo ra căn bản không ủng hộ."

Hắn chậm rãi nhấp một ngụm cà phê, rồi lại nói: “Đảng của hắn đã bị chỉ trích nặng nề vì việc này, vì thế họ vội vàng muốn xây dựng lại hình ảnh. Ned, ngày 4 tháng 7 chỉ còn cách cuộc bầu cử bốn tháng. Họ muốn dùng ngày 4 tháng 7 để xây dựng lại hình ảnh, vì vậy nó sẽ là ngày lễ tràn đầy khí phách anh hùng nhất. Hai tuần trước, Văn phòng Tổng thống đã gửi Chỉ thị Tổng thống số 103 tới mọi đại sứ ở nước ngoài.”

“Đừng cuốn cờ của chúng ta lại,” Tổng thống ra lệnh, “Hãy ngẩng cao đầu, cho cả thế giới biết rằng người Mỹ chúng ta không sợ hãi. Amen.”

Cornell đặt tách cà phê xuống. “Thực ra, Chỉ thị Tổng thống số 103 chỉ nhận được sự hưởng ứng bằng miệng mà không có thực chất. Bài phát biểu của mỗi đại sứ sẽ đầy những lời hùng biện đầy dũng khí. Điều duy nhất có thể lay động khán giả, cũng chỉ có vậy. Rắc rối của chúng ta là, này Ned, vợ chồng Fulmer mới nhậm chức được một tháng, cả hai đều là những kẻ cấp tiến đầy tham vọng, hay ít nhất bà Fulmer là thế. Rõ ràng là bà ta đã liên tục gọi điện mời trong suốt một tháng. Kế hoạch tổ chức lễ mừng của bà ta rất phù hợp với tinh thần của Chỉ thị Tổng thống. Tôi có ý muốn chống lại kế hoạch của bà ta, nhưng thế lực quá yếu: bà ta chỉ cần tung ra Chỉ thị Tổng thống số 103, hoặc đơn giản là viện dẫn Tổng thống làm chỗ dựa.”

Lời vừa dứt, sự im lặng kéo đến sâu thẳm đến nỗi cả hai người như đang ở trong một cái hầm mỏ sâu thăm thẳm, bị bỏ hoang lâu ngày, đầy nguy hiểm. “Tôi nghĩ,” Ned nói, “trong chuyện này chắc chắn còn có gì đó nữa. Tổng thống chắc không đến nỗi ngu ngốc đến mức say mê những trò chính trị khoa trương như thế này.”

Cornell dường như đang miệt mài nghiền ngẫm ẩn ý trong lời nói của đối phương, như thể Ned đã ném một hòn đá xuống cái hầm mỏ sâu thăm thẳm kia. Hắn thở dài, cuối cùng nói: “Anh nói rất có lý, họ đang thực hiện một thương vụ bí mật nào đó, cần một lớp ngụy trang sặc sỡ để che đậy. Chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời, đừng lo. Chỉ là phải đợi khá lâu thôi.”

“Anh không nhận ra sao?” Cornell hỏi, giọng nói lần đầu tiên pha chút cảm xúc thật của chính mình. “Bà ta và Đại sứ đã khống chế chúng ta hoàn toàn. Biết đâu còn bao nhiêu đại sứ quán khác cũng lâm vào hoàn cảnh như chúng ta?”

Sắc mặt Ned trở nên nghiêm trọng. Hắn xoa đầu gối, nói: “Đương nhiên, việc này đối với những người quân sự như chúng ta – như anh thường gọi tôi – là dễ dàng hơn nhiều. Tổng chỉ huy ra lệnh: ‘Học tiếng chó sủa!’ Chúng ta cũng sẽ cúi xuống sủa ầm ĩ! Đơn giản thế thôi! Đâu có khó như các anh văn nhân!”

Trên khuôn mặt tuấn tú của Cornell hiện lên vẻ khinh bỉ nhưng không kém phần lịch sự. “Bởi vì, chúng tôi được trả tiền là để suy nghĩ kỹ càng, không phải để hành động liều lĩnh.” Vừa thốt ra lời, hắn lại tỏ vẻ áy náy. “Tôi vừa nói hơi quá lời, Ned. Tôi xin lỗi anh. Nhưng tôi thực sự mất phương hướng, việc này đã hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi. Bà ta tinh ranh hơn chúng ta, lại có chỗ dựa vững chắc nhất. Chúng ta không thể hoãn buổi tiệc, sẽ bị người ta cười cho. Giờ chỉ còn cách tăng cường phòng bị, đảm bảo vạn vô nhất thất.”

Ned ngẫm nghĩ một lúc. Hắn nghĩ Royce đã đoán ra hắn định nói gì, dù sao đi nữa, hắn vẫn phải nói hết suy nghĩ của mình. “Lần này bà ta đặt cược lớn, chúng ta chắc chắn sẽ gặp không ít rắc rối. Vấn đề không phải là đối phó với ai – người Ireland, đội hành động đặc biệt của Pháp, đội tiên phong Grabshneider của Tây Ban Nha, và bọn khủng bố… Royce, đến cả đối thủ cũ của KGB cũng không đáng lo… Vấn đề là bọn chúng đã nắm được thời cơ hấp dẫn như vậy, chúng ta không thể lơ là.”

Trên khuôn mặt tuấn tú của Royce Cornell, hai bên cánh mũi hơi xám lại. Hắn hít một hơi thật sâu, ngừng một chút, rồi lại hít thêm một hơi, như thể hơi thở vừa rồi không đủ dưỡng khí. Cằm hắn căng cứng, hiện ra những đường nét thô ráp. Từ chỗ Ned ngồi nhìn sang, đường nét ấy sắc cạnh và tỉ mỉ đến nỗi kẻ thận trọng tuyệt đối không dám khinh suất. Nhưng khi Royce quay sang hỏi hắn, cái cằm cứng như đá ấy bỗng như ảo ảnh do ánh sáng tạo ra.

“Tôi thực sự không hiểu,” Ned không kịp sắp xếp lại suy nghĩ của mình, giận dữ thốt ra, “Sao bà ta có thể qua mặt được chúng ta. Bà ta gửi nhiều lời mời như vậy, sao trước đó chúng ta lại không hề hay biết?”

“Tôi đã để Jane Will luôn theo dõi bà ta. Bà ta cũng giấu Jane chuyện này. May mà Jane tinh ý, lấy trộm được một danh sách, nếu không chúng ta sẽ bị mù tịt cho đến khi nó lên mặt báo The Times.”

Ned ngồi trên ghế bành, chậm rãi xoa cái đầu gối sưng tấy, để mặc sự im lặng bao trùm cả hai. Trong cơn mơ hồ, hắn bắt đầu suy nghĩ Cornell biết được bao nhiêu về thân thế của mình. Hắn gạt sang một bên cái việc tổ chức tiệc vườn mà người đàn bà ngốc nghếch kia đã làm họ đau đầu, quan sát kỹ nét mặt Cornell, xem có dấu hiệu nào cho thấy hắn đã biết chuyện tốt giữa Ned French và Jane Will hay không.

Đừng có ngu. Không ai biết cả. Duy có Levine, nhờ bản năng người vợ, thỉnh thoảng lại nghi ngờ. Ned tự nhắc mình, trên dưới cả đại sứ quán, không ai nhìn ra một manh mối nào về mối quan hệ giữa hắn và Jane...

“Anh nói đi nào!” Cornell đột nhiên cắt ngang dòng suy nghĩ miên man của hắn. “Nói với tôi rằng chúng ta không có sai sót, sẽ không rơi vào vực thẳm của thảm họa.”

Ned cười nhạo một cách cay đắng. “Royce… anh mong tôi nói dối sao?”

Mãi lâu sau khi Ned chậm rãi chạy vào màn sương mù buổi sáng của Công viên Regent, Levine French đứng bên cửa sổ phòng ngủ, nhìn chăm chú vào ngày mới đang đến.

Bà không còn trẻ – cùng tuổi với Ned – vẫn còn nhớ những cảnh bình minh trước kia báo hiệu một tương lai tươi sáng, nhưng giờ không còn tâm trạng đó nữa. Bà đứng bên cửa sổ, lơ đãng suy tư, người vẫn mặc chiếc váy ngủ mà hai mươi năm trước mua ở cửa hàng Fort Bragg cho tuần trăng mật.

Chiếc váy ngủ nhỏ nhắn tinh xảo này màu sắc loè loẹt, tay phồng, bên trong là một chiếc áo nịt nhỏ co giãn, nâng đỡ hai bầu vú đầy đặn và hiện rõ đường nét của chúng. Nó được làm bằng loại vải nhân tạo mỏng manh mờ ảo, in hình những trái tim với đường viền ren màu nâu nhạt trong suốt, nhìn qua rất hoa mắt.

Dù Ned đã ra ngoài từ lâu, nhưng bóng dáng hắn dần xa khuất vẫn hiện lên trong mắt Levine. Gần đây, hắn dường như đã vĩnh viễn rút lui… khỏi cuộc sống của bà. Tất nhiên, cuộc hôn nhân của họ bây giờ khác xa thời kỳ sơ khai, bà nghĩ. Những năm gần đây, Ned không hề quan tâm đến chiếc váy ngủ trên người bà – một tín hiệu tình yêu chẳng hề kín đáo. Nhớ ngày nào...

“Đồ lăng nhăng.” Levine nhận ra mình đã mắng thành tiếng, chợt giật mình: “Lỡ có người nghe thấy thì sao?”

Thực ra, các con gái của bà đã bình an đến California cách đây 6000 dặm từ tuần trước. Người giúp việc buổi trưa mới đến. Bà bị Ned bỏ lại một mình, tự thương xót, ít nhất đã một nghìn buổi sáng, chẳng riêng gì sáng nay? Kể từ khi họ chuyển đến Bonn, chẳng phải vẫn thế sao?

Bà quay lưng lại cửa sổ, soi gương tự đánh giá mình. Mặc chiếc váy ngủ này, bà trông thật lố bịch. Bà là mẹ của bốn cô con gái sắp trưởng thành, bà tự nhắc mình, là con gái của Chuẩn tướng Không quân Hoa Kỳ đã về hưu D. Cassius Kolisowski, vợ của một sĩ quan tình báo cấp cao, còn bản thân là đại úy lực lượng dự bị. Bà chưa bao giờ mặc bộ đồ hở hang của gái lẳng lơ để dụ dỗ đàn ông, uể oải đi qua đi lại trong phòng ngủ, than thở về đời sống tình dục nghèo nàn.

Levine cởi váy ngủ, ngắm đôi chân thon thả và bộ ngực đầy đặn căng tròn của mình. “Nhìn cô lúc nào cũng to trên nhỏ dưới,” bà tự trách, “Người như con bồ câu có bầu ngực, mặc đồ gì cũng không vừa.” Mái tóc vàng xoăn ngắn như một cái mũ lụa trùm đầu. “Thằng nhóc mặt bầu sợ sệt.” Bà mắng mình thành tiếng. Khuôn mặt tròn trịa của bà với đôi mắt to cách xa nhau, trông như mấy cô ngốc nghếch trong quảng cáo súp của Công ty Campbell.

Ngày xưa dáng vẻ ấy của bà thường làm Ned vui lòng, bà nghĩ. Ngay cả hôm nay ở London, khi đi trên phố, vẫn có nhiều đàn ông nhìn theo. Mỗi lần dự tiệc xã giao, luôn có vài người đàn ông như ruồi đeo chặt lấy bà. Giờ đây trong số những kẻ theo đuổi ấy, không còn thấy bóng dáng Ned nữa. Bà bị bỏ lại ở nhà, con gái lại đi Mỹ, nên có dư thời gian suy nghĩ, gỡ rối.

Chắc chắn mối bất hoà giữa mình và Ned là do đời sống tình dục không hòa hợp. Hầu hết rạn nứt vợ chồng đều liên quan đến việc này. Các tạp chí phụ nữ nói thế. Cha mẹ đã nuôi dạy bà và bốn anh trai hoàn toàn theo tín điều khổ hạnh thời Trung cổ, kiêng kỵ tình dục đến mức không dám nghĩ tới. Trong những năm tháng tuổi trẻ đau khổ, mẹ bà thường khuyên nhủ:

“Vinnie,” bà thường nói, “con lớn lên trong một ngôi nhà toàn đàn ông, một doanh trại đàn ông, đây là ý Chúa. Điều duy nhất khiến cha và mẹ được bình yên là biết rằng con gái yêu quý của chúng ta dù ở trong thế giới đầy cám dỗ của đàn ông, vẫn giữ được sự trong trắng của thể xác và tâm hồn. Vì thân thể con, Vinnie, là Chúa ban, mục đích thiêng liêng duy nhất khi con xuống thế là để mang thai và sinh sôi nòi giống của Chúa.”

Levine mới lớn vô cùng chán ghét những lời giáo điều cũ rích ấy. Về sau ở trường huấn luyện sĩ quan dự bị, bà gặp vài nữ học viên không hề trải qua thời kỳ kiềm nén tình dục thời con gái. Họ dùng phương pháp tốc hành nhồi nhét cho bà một ít kiến thức tình dục, nhấn mạnh lợi ích khi nữ binh sĩ tiếp xúc gần gũi với nam binh sĩ trong thời kỳ khao khát ái ân.

Thứ tình dục vốn từng khiến bà chán ghét, dần dần trong tâm trí bà trở thành món nợ mà một người phải trả cho thể xác của người khác. Khi lấy Ned, bà cuối cùng cũng cảm thấy thanh toán xong món nợ, nhẹ nhõm, và hết lòng tận hưởng niềm vui giao hoan nam nữ.

Lạy Chúa, quả thật họ đã trải qua những ngày tháng tươi đẹp bên nhau. Cả cuối tuần, họ uống rượu sâm banh mua bằng lương, sáng muộn vẫn còn lưu luyến trong ổ chăn. Nghĩ đến đây Levine mỉm cười. Đôi khi, họ chẳng làm gì ngoài uống rượu và ngủ. Có lần ở Moscow, suốt năm ngày họ không rời khỏi phòng khách sạn, cuối cùng bước ra khỏi căn hộ, lão bà già KGB được cử đến theo dõi họ còn nheo mắt nháy mãi.

Bà đột nhiên quay người, tránh nhìn cơ thể trần trụi trong gương. Bà cảm thấy hai má nóng bừng, liền nằm lên chiếc giường mát lạnh. Levine từng thường hy vọng gặp được một “kẻ ngu lầm đường”, xong việc thì đạp thẳng ra ngoài, như nhiều đàn ông vẫn làm. Nhưng không được. Chúa làm chứng, đã se duyên cho bà và Ned nên vợ chồng, tận hưởng niềm vui chăn gối, sinh ra những đứa con yêu quý. Ai đã phá đám, khiến Ned không còn cần bà, không còn khao khát bà? Bà đã làm gì sai, đáng phải nhận hình phạt như thế? Bà cố gắng suy nghĩ tìm câu trả lời cho những câu hỏi này, gần như phát điên.

Bà sẽ không gục ngã. Con gái duy nhất của Tướng Kolisowski và ông đều có ý chí sắt đá. Vâng, dù tình thế không tốt, nhưng không thể để nó thắng thế. Bà không cần giúp đỡ, cảm ơn, không cần phải nói chuyện thẳng thắn với chồng, cũng chẳng làm theo lời khuyên trên tạp chí phụ nữ, chủ động nhận lỗi với chồng.

Bà biết, cứ giấu kín nỗi khổ tâm như bây giờ, không hé lộ nửa lời với chồng, chỉ có thể khiến nó mãi mãi giam cầm trong lòng. Thêm nữa, bà lo sợ bầu không khí căng thẳng trong gia đình sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ tinh thần của các con gái, đó là lý do chính khiến bà gửi chúng về nội địa Mỹ. Các chị em gái tuổi tác chênh nhau không nhiều: chị cả Louise Ann 18 tuổi, đứa út Sally gần 15. Levine không khỏi có lỗi tự liên hệ dục vọng mãnh liệt và khả năng sinh sản mạnh mẽ khác thường của mình với nhau. Khoảng thời gian đó, chỉ cần Ned chạm nhẹ vào bà là bà có thể thụ thai.

Những cô gái tuyệt vời ấy, đứa nào cũng chu đáo tỉ mỉ, hoạt bát vui tính, dễ thương, đáng yêu. Mắt Levine ngấn lệ. Bà nhớ chúng, mong được nghe chúng kể chuyện cười. Khi có chúng ở bên, ngay cả Ned cũng vì gia đình mà làm tròn một số trách nhiệm.

Điều khiến Levine luôn thắc mắc là Ned không hề lấy làm lạ về việc bà không mang thai nữa sau khi sinh Sally. Levine sẽ không thừa nhận rằng bà đã thắt ống dẫn trứng. Bà sẽ không bao giờ sinh con nữa, nhưng một người đàn ông sắc sảo như Ned lại không ngờ bà lén lút phạm phải tội lỗi ấy.

Đàn ông.

May mắn thay các con gái của bà giờ đều đang ở Trại Tự do, dưới sự giám sát nghiêm ngặt của ông ngoại chúng. Đây là khu dân cư xây dựng trên sa mạc của Tướng Kolisowski và cộng sự. Levine hiểu rằng sẽ luôn có đàn ông ra sức tán tỉnh con gái bà. Ơn Trời phù hộ, môi trường sống trong Trại Tự do được kiểm soát chặt chẽ, lại nằm dưới quyền kiểm soát của cha bà.

Levine trở mình, nằm ngửa nhìn lên trần nhà. Bà có thể tưởng tượng cảnh họ làm tình, thân hình gầy chắc của Ned đè nặng lên người bà. Chỉ có tư thế này mới khiến bà vui sướng, hắn còn nói vài cách làm tình khác, bà không muốn nghe. Hắn nói về những cách làm tình mà nam giới có lẽ đều biết. Làm xáo trộn sự sáng tạo của Chúa một cách bừa bãi, tận hưởng theo ý muốn – đàn ông chẳng phải thế sao? Bà không hề muốn có kiểu tận hưởng ấy.

Chuông cửa tầng dưới rung lên. Bà tiện tay khoác tạm chiếc áo choàng lụa xám nhạt của Ned, chân trần chạy lộp bộp xuống dưới, mở máy quay truyền hình mạch kín theo dõi cửa vào và máy bộ đàm.

“Việc gì thế?”

Chưa kịp định thần xem người đến có cao hơn, trắng hơn và trẻ hơn ông đưa thư thường ngày, hắn đã né khỏi ống kính camera.

“Thư.” Người đến nói, vẫn giấu mặt. “Một bưu kiện lớn, không nhét vào hộp thư được.”

Bà đưa mắt nhìn hắn một cách dò xét, thầm nghĩ, sao chữ “bao kiện” nghe giống hệt chữ “be điên” ① thế nhỉ. (①Trong tiếng Anh, “large” (lớn) và “larch” (cây tùng rụng lá) phát âm tương tự nhau.)

“Không cần phiền. Cứ để trên bậc thềm là được.”

Hắn do dự. “Được thôi.” Hắn cúi xuống khuất khỏi tầm mắt Levine. Khi xuất hiện lại trên màn hình TV, hắn bước vội ra khỏi nhà, mặt vẫn núp, tay cầm một gói nhỏ, vai không đeo túi vải mà các ông đưa thư Anh thường mang.

Vì vậy, khi bà nghiêng người mở cánh cửa trước được khóa chặt, không thấy bưu kiện nào trên bậc thềm, bà không đặc biệt ngạc nhiên. Tất nhiên, bà cũng không thấy lá thư nào khác.

Bà khóa lại cửa trước, bấm một số trên bàn phím điện thoại trong phòng khách, trong tai bỗng vang lên âm “bíp bíp” kép của điện thoại Anh. Rung đến hồi thứ tám, trợ lý của Ned, Mo Shamoun trả lời điện thoại. “Văn phòng ban Phòng vệ.”

“Mo, tôi là Levine French, Ned có ở đó không?”

“Hiện tại không có.”

“Khi hắn về, bảo hắn gọi cho tôi. Việc gấp.”

“Tôi có thể giúp gì không?”

Bà chuẩn bị gác máy, lại nghe giọng nói trong ống nghe. “Cô nói gì?”

“Tôi nói ‘Đừng làm anh hùng rơm, Levine.’ Có khó khăn gì cứ nói.”

“Sao anh lại nghĩ ra lời ấy?”

“Giọng cô hơi run.”

“Tại ống nghe ở gần tai anh quá.” Levine nói xong cúp máy.

Thằng khốn tạp chủng Lebanon tự cho là thông minh. Quân đội Mỹ tại sao lại lôi mấy thứ đồ hèn hạ mọp dưới chân chủ nhân da trắng này vào giới tình báo? Levine quấn thắt lưng chiếc áo choàng tắm của Ned lại chặt hơn, lộp bộp chạy xuống đoạn cầu thang vào hầm. Người thuê nhà trước, cũng là nhân viên đại sứ quán, đã lắp đặt ở đây một trường bắn cỡ 50 feet vuông với thiết bị cách âm rất tốt để không làm phiền hàng xóm. Levine xoay ổ khóa số trên két sắt trong tường, lấy ra một khẩu súng lục Colt sáu phát, nạp đạn, dùng một cái bịt tai giống như găng tay liền bịt chặt hai tai, bật đèn trường bắn.

Tay phải

Clifford nuốt lại câu nói đùa chực trào nơi đầu lưỡi, ánh mắt lướt qua bảng viết trên tay rồi chuyển sang phía Bert. "Tôi cũng vừa hoàn thành một sứ mệnh trọng đại," hắn nói bằng chất giọng khàn đặc, bình thản bằng tiếng Ả Rập. "Tôi đã phát minh ra một loại vũ khí mới."

Bert làm một vẻ mặt kỳ quặc, như thể vừa ăn phải thứ gì đó khiến hắn buồn nôn. "Tôi nghĩ..." hắn ngập ngừng nói ra nỗi lo của mình. "Một số thiết bị đã qua sử dụng, đã bị tháo dỡ. Ngay cả đạn dược cũng có thể hỏng hóc do lưu trữ không đúng cách. Làm sao để kiểm tra tất cả những thứ này đây? Chúng ta đâu thể mang vũ khí kém chất lượng ra tiền tuyến được?"

"Trước đây chúng ta đã từng mạo hiểm như vậy rồi," Clifford nói, sắc mặt không chút thay đổi. "Không ai trong chúng ta dám đảm bảo mình sẽ không gặp chuyện gì, anh bạn. Tất cả chúng ta đều phải phó mặc cái thân xác không đáng giá này cho Allah."

"Nói đúng lắm," Bert đồng tình. "Nhưng Clifford này, cuốn thánh thư nào quy định chúng ta không được dùng cái đầu của mình nhân danh Allah chứ? Hay là chúng ta chuyển những vật liệu thử nghiệm đó đến một căn nhà an toàn ở ngoại ô để kiểm tra."

Clifford im lặng hồi lâu. Cả hai đều nghe thấy tiếng ai đó huýt sáo trên lầu.

"Ý hay đấy," Clifford gật đầu đồng ý. "Chúng ta hãy phái Mahmoud và Malak đi thực hiện nhiệm vụ này. Rủi ro còn thấp hơn nhiều so với việc cậu phải đối phó với con đàn bà đó sáng nay. Cậu không bị ả mê hoặc đấy chứ?"

Bert nhếch mép cười. "Có hắn ở đó cản trở thì làm sao được. Hắn đang mặn nồng với con mụ đó mà."

"Đại tá Ned Franchi vẫn chơi trò đánh lạc hướng với chúng ta mỗi ngày sao?"

"Vì tối nào hắn cũng phải quay về với vợ mình - cái thứ mỹ nhân quyến rũ mà hắn nói ấy - nên mấy trò đánh lạc hướng đó chẳng có tác dụng gì cả. Cậu có để ý phòng ngủ của hắn đối diện với cửa sau không?"

"Tôi đã quan sát được từ trên mái nhà ở đây rồi."

"Cần bao nhiêu thời gian để hai anh em dùng ống phóng hai chân đưa 7 kg thuốc nổ vào cửa sổ phòng ngủ của Franchi từ khoảng cách 200 mét?"

Clifford lộ vẻ vui mừng. Hắn vỗ tay cái bốp. "May nhờ lời dạy của Tiên tri: 'Đàn ông làm việc, đàn bà quấy rối.' Như vậy chúng ta có thể chung tay hợp tác mà không cần phân tâm đối phó với đàn bà nữa."

Hai người đàn ông ôm chặt lấy nhau đầy trang trọng. Sau đó lại dừng lại, lùi lại một bước, nhìn nhau, rồi lại một cái ôm nữa, nồng cháy hơn.

Trong một khoảnh khắc, đôi tay của Bert siết chặt lấy đôi vai cơ bắp của Clifford. Đột nhiên, cơ thể hắn run lên bần bật, chỉ cảm thấy đôi vai đau nhói. Hắn run dữ dội đến mức Clifford chắc cũng đang run rẩy không kém. Họ là những người anh em thực thụ, những người anh em máu thịt gắn liền.

"Hôm nay, London;" Bert nói bằng tiếng Ả Rập, buông Clifford ra, "ngày mai, cả thế giới."

Bert như mọi khi, cẩn thận cầm mẩu giấy vụn ghi địa chỉ vào phòng vệ sinh, ném vào bồn cầu rồi giật nước.

Rời khỏi văn phòng của Cornell, Ned nhìn đồng hồ đeo tay: kim dừng ở 7 giờ 40 phút. Anh tháo nó ra, ngước nhìn chiếc đồng hồ điện tử trên tường hành lang tòa nhà đại sứ quán, thời gian là gần 9 giờ kém vài phút. Rõ ràng, chiếc đồng hồ này đã bị hỏng khi anh tay không đối phó với chiếc xe Mini đó.

Anh dừng bước, nhớ lại khoảnh khắc nực cười đó, tên tài xế gây họa rồi còn muốn bỏ chạy, còn anh thì viển vông cố gắng dùng tay không chặn một chiếc xe đang lao tới. Tuy nhiên, tất nhiên là không thể để kẻ làm điều xấu cứ thế mà chuồn được. Không biết người chạy bộ tập thể dục đó bị thương nặng đến mức nào? Chứng hoang tưởng của Ned không giúp anh có được dự cảm để trả lời câu hỏi này.

"Nếu mày cố tình để đầu óc mình có vấn đề," Ned tự nhủ, "thì bệnh gì chẳng tốt hơn chứng hoang tưởng? Thói ăn cắp? Chứng cuồng dâm? Thậm chí bệnh mất trí nhớ sớm cũng có thể dùng được."

Từ ô cửa sổ nhìn ra quảng trường Grosvenor ở hành lang, anh thấy "Người canh gác" đã tới.

"Người canh gác" là biệt danh Ned đặt cho ông ta. Một người cao gầy, cử động vụng về, khuôn mặt đầy sẹo rỗ, đầu trọc, đang đứng trên bãi cỏ, buộc hai tấm biển quảng cáo trước sau, áp sát vào người, trông giống hệt một chiếc bánh sandwich.

Có vẻ người này mang mối hận thù với nước Mỹ, nhưng người ngoài rất khó đoán được lý do thực sự. Giữa hai tấm biển là một hàng dài chữ US được sơn bằng sơn đỏ từ trên xuống dưới, và trên nền trắng bên cạnh được sơn thêm một vài chữ cái màu xanh, tạo thành một chuỗi đố chữ. Ned thường đứng bên cửa sổ, chăm chú suy ngẫm về ý nghĩa của chuỗi đố chữ đó. Hiện tại, ngay lúc anh đang làm việc này, những âm thanh khác nhau phát ra vào sáng thứ Hai tại tòa nhà đại sứ quán đã làm anh mất tập trung. Những âm thanh này, trước đây anh chưa từng, và sau này cũng sẽ không nhắc đến với bất kỳ ai - có lẽ trừ Jane ra. Đây là những âm thanh đặc trưng phát ra từ tòa nhà đại sứ quán: tiếng vo ve của máy điều hòa, tiếng nói chuyện lúc to lúc nhỏ trong văn phòng, tiếng giấy tờ sột soạt trong máy văn phòng, tiếng tít tít mơ hồ của máy tính, cùng với tiếng máy đánh chữ, máy fax và điện thoại, bạn phải dừng lại lắng nghe kỹ mới thấy. Những âm thanh này giờ đây đang ở ngay bên cạnh bạn.

Sáng thứ Hai, khi mọi người trong văn phòng giải quyết khối lượng công việc tồn đọng từ cuối tuần, Ned có thói quen đi dạo một vòng, chào hỏi mọi người, cảm nhận nhịp độ làm việc của cơ quan khổng lồ này.

Sáng nay, vì Cornell đã dặn dò nhiệm vụ từ trước, nên tất nhiên đã chiếm mất thời gian đi dạo thong dong của anh. Nhưng anh vẫn đến, là để xem xét tài liệu định kỳ vào thứ Hai. Anh không muốn giả vờ mình có thể tiên tri, nhưng anh tin vào trực giác của mình hơn là những xấp báo cáo tuyệt mật kia.

Sáng nay, anh vội vã đi vòng qua Phòng Hành chính, một trong sáu phòng ban trực thuộc đại sứ quán. Đây là bộ phận cung cấp nhân sự và thiết bị, duy trì hoạt động bình thường của đại sứ quán, xử lý các vấn đề tài chính, giao thông, nhân sự, an ninh và liên lạc thông tin. Trưởng phòng An ninh Carl Follett đang về quê nghỉ phép thường làm việc ở đây.

Sáng nay anh cũng không vào Phòng Quan hệ Công chúng. Nhân viên ở đây đang bận rộn cắt những bài báo có giá trị từ các tờ báo và tạp chí cuối tuần. Bộ phận này hợp tác với truyền thông, thiết lập các dự án trao đổi giáo dục, tài trợ cho các báo cáo học thuật và hội nghị quan trọng. Nơi đây lưu giữ không ít sách tham khảo, cung cấp tài liệu cho những người nghiên cứu chính sách Mỹ và thời sự hiện tại.

Phòng Chính trị và Phòng Thương mại là nơi bận rộn nhất, liên quan đến nhiều vấn đề chính sách nhạy cảm, vì vậy người ngoài không thể dễ dàng đến thăm hỏi xã giao nhân viên ở đây. Công việc ở đây quá nhiều, không ai dám mơ tới việc có chút thời gian rảnh rỗi để trò chuyện vài câu. Những báo cáo và phương án họ soạn thảo đều được tóm tắt sơ bộ và gửi đến bàn làm việc của anh. Anh chỉ cần chờ họ gửi đến là được.

Lúc nào đó hôm nay, Ned tự nhắc mình, anh phải cùng với nhân viên kiểm toán tài chính, hải quan thực hiện kiểm tra định kỳ đối với nhân viên Sở Thuế vụ. Đây là bộ phận công việc mật duy nhất của Phòng Thương mại, vì vậy luôn được Ned Franchi chú ý.

Tiếp theo là Phòng Lãnh sự, bộ phận giao dịch nhiều nhất trong giới ngoại giao, được chia thành ba tổ, lần lượt phụ trách cấp hộ chiếu, đăng ký khai sinh và khai tử cho công dân Mỹ, công chứng tài liệu, thực hiện quyền hạn thay mặt các cơ quan chính phủ như Cục An sinh Xã hội và Cục Quản lý Cựu chiến binh. Nếu bạn là một người Anh dự định đi du lịch Mỹ, bạn phải nộp đơn xin thị thực tới Phòng Lãnh sự. Dưới sự che chở của chiếc ô bảo vệ khổng lồ này, còn có vài người do Bộ Tư pháp phái đến, họ hành động lén lút như các đặc vụ CIA, âm thầm làm công việc của riêng mình. Mọi công việc lãnh sự của phòng này đều do một tham tán phụ trách - một người phụ nữ vóc dáng mảnh khảnh, da hơi ngăm, mái tóc đen nhánh, tên là Jane Will.

Ned đi ngang qua thư ký của Jane, đứng ở cửa văn phòng đang mở của cô. Đây là căn phòng nằm ở góc hành lang, từ đây vừa có thể nhìn xuống quảng trường Grosvenor, vừa có thể nhìn thấy dòng người đi làm buổi sáng đang đổ về các con phố của khu Mayfair từ khắp mọi hướng.

Jane bình thản ngẩng đầu lên từ bàn làm việc. Ned biết thư ký của cô đang chú ý đến mình và cô, nên đứng ở cửa không di chuyển. Jane có mái tóc dài đen nhánh, hơi vén sang hai bên, búi lỏng thành một búi tóc trên đỉnh đầu. "Danh sách khách mời đó," cô nói, "lạy Chúa tôi."

Anh nhìn cô đầy u sầu: "Cô ấy định giấu chúng ta bao lâu nữa?"

"Đây là lỗi của tôi, Ned. Bây giờ tôi mới nghĩ ra lúc đó cô ta đã gọi hàng trăm cuộc điện thoại với cấp dưới. Tôi chưa bao giờ nghĩ..."

Ned khẽ lắc đầu, ra hiệu phía sau anh đang có thư ký, đang nghe họ trò chuyện. Jane đột nhiên dừng lại, sau đó đổi chủ đề, hỏi một câu không đầu không cuối: "Việc này có quan trọng không?"

"Buổi họp báo ở hội trường vào buổi trưa, có kịp không?"

"Không vấn đề gì."

Ned dùng cơ thể chắn tầm nhìn của thư ký phía sau, dùng ngón tay chỉ vào Jane và chính mình. "Chúng ta có lẽ phải bận rộn một lúc, có thể không kịp ăn cơm."

"Tôi biết."

Gương mặt anh vẫn tránh ánh mắt của thư ký, mỉm cười với Jane Will. "Cảm ơn sự hợp tác của cô." Sau đó quay người rời khỏi văn phòng.

Bây giờ chỉ còn lại Phòng Quốc phòng. Đây là bộ phận làm việc của chính anh, phụ trách duy trì liên lạc chính thức với quân đội Anh - Mỹ. Theo truyền thống, đây cũng là nơi ẩn náu của những đặc vụ như Ned. Tuy nhiên, trước khi về văn phòng của mình, anh còn phải gặp một người.

Một văn phòng dưới tầng hầm, trên cửa treo tấm biển ghi chữ "Bảo trì Cơ khí", mặc dù nó cách xa văn phòng của Phòng Hành chính. Ned đẩy cửa, bước vào một căn phòng nhỏ đủ cho một thư ký làm việc nhưng chưa bao giờ thấy người, gõ cửa căn phòng bên trong: "Ông Perkins có đó không?"

Từ sau cánh cửa truyền đến tiếng bước chân mạnh mẽ, người kia lạch cạch mở khóa, đẩy cửa hé ra một khe nhỏ, lộ ra đôi mắt màu xám nhạt, đánh giá anh một lượt.

"Ồ, là cậu. Chào buổi sáng, Đại tá."

Cánh cửa lập tức mở rộng. Ông Perkins lớn hơn Ned tròn 10 tuổi, cao 6 feet, hơn anh một chút, thân hình vạm vỡ mà thẳng tắp, như một thân cây sồi. Trên cái đầu nhỏ của ông phủ một lớp tóc ngắn màu xám sắt, khuôn mặt có một cái mũi diều hâu và cái cằm cong mà Perkins thường nói là "có thể treo được một chiếc đèn lồng".

Ned thận trọng nhìn ông, đột nhiên nhớ ra ông là nhân viên người Anh có thân phận cao nhất trong đại sứ quán. Đây là sự đãi ngộ xứng đáng, vì ông chịu trách nhiệm bảo trì, sửa chữa hệ thống đường ống, dây điện, gas, điện thoại, máy tính phức tạp của cả tòa nhà, căn phòng nhỏ phía sau chất đầy dụng cụ, dây điện và những chiếc hộp đen chứa linh kiện điện tử.

"Ở Mỹ," Ned chậm rãi dẫn dắt câu chuyện, "gây tai nạn rồi bỏ trốn khỏi hiện trường là phạm pháp. Ở đây có giống vậy không?"

Gương mặt căng cứng, đường nét không rõ ràng của Peter Perkins lộ ra vẻ nghiêm nghị vừa phải mà xa cách. "Ừm, cứ cho là vậy đi."

"Tuy nhiên," Franchi truy hỏi, "cơ quan thực thi pháp luật để mặc cho kẻ gây tai nạn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, hay kiên quyết trừng trị, liệu có phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vụ tai nạn không?"

Perkins suy ngẫm, những nếp nhăn hiện lên trên khuôn mặt, ông đã sớm hình thành sự kiên nhẫn quen chờ đợi, ngồi trên ghế không nói nửa lời. Ai ngờ Ned trong trường hợp này cũng kiên nhẫn như ông, cũng không mở lời.

"Tôi không rõ, Đại tá," Perkins cuối cùng miễn cưỡng nói một câu.

"Sáng nay khoảng 7 giờ 30, phía bắc cửa hàng bách hóa Marylebone trên phố Baker, một tài xế đã đâm vào một người đang chạy bộ tập thể dục. Tôi tình cờ đi ngang qua đó, nhưng chậm một bước, không bắt được hắn. Tôi nghĩ..."

"Hắn không thoát khỏi tay tôi đâu," Perkins không nhịn được nữa. "Giao cho tôi đi, Đại tá."

"Không biết tên tuổi của chúng."

Mí mắt phải của Perkins từ từ sụp xuống. "Không biết tên tuổi."

Ned leo lên một tầng lầu, đi đến trước văn phòng của mình. Nhưng vừa nghĩ lại, anh lại gõ cửa phòng bên cạnh. Mo Shamoon ló đầu ra. "Cậu không sao chứ?"

"Cậu không hỏi câu này không được sao?"

"Đầu gối của cậu..."

"Mau lấy cho tôi bản đồ mặt bằng tỷ lệ lớn của dinh thự Winfield và khu vực xung quanh, tất cả bản vẽ thiết kế kiến trúc và ảnh chụp từ trên cao của tòa nhà này."

"Có việc gì à?"

"Chúng ta lại sắp bận tối tăm mặt mũi rồi."

Shamoon nhe răng cười với anh. "Nghĩa là, không có thời gian để nghĩ ngợi lung tung nữa?"

"Kẻ hèn nhát mới thích suy nghĩ vớ vẩn, những người đàn ông thực thụ chỉ biết tiến về phía trước."

"Đúng là khí chất anh hùng của ngôi sao lớn John Wayne."

"Cậu nói đúng đấy. Thực ra tôi một mình chấp..."

"Hai."

Ned mở khóa cửa văn phòng, bỏ chiếc đồng hồ hỏng vào ngăn kéo bàn, lấy chiếc đồng hồ điện tử hiển thị kỹ thuật số mà con gái lớn mua cho, chỉnh giờ rồi đeo vào tay.

Anh lặng lẽ nghĩ về cuộc sống khi không có con gái bên cạnh. Trước đây khi con gái ở nhà, cô và Lavine đã vất vả chăm sóc chúng, chẳng phải là để chúng lớn lên thành những người phụ nữ xuất sắc nhất sao? Trời mới biết được.

Anh giống như Jane ở trên lầu, có thể quan sát quảng trường Grosvenor từ hai góc độ. Dòng xe đi làm buổi sáng điên cuồng đổ qua quảng trường. Không biết Jane có đang nhìn thấy tất cả những điều này không. Không biết cô ấy có hiểu ẩn ý của mình không? Mấy tuần gần đây, hai người luôn mời nhau đi ăn trưa, nhưng toàn là nhất thời hứng khởi, không thể thực hiện được.

Tất cả đều nhờ vào vận may. Ned ngồi yên không nhúc nhích, lắng nghe những âm thanh mơ hồ của tòa nhà văn phòng. Ngay cả tiếng ồn giao thông ầm ĩ bên ngoài cũng không thể xua tan những âm thanh quen thuộc, gần gũi, quẩn quanh không dứt này.

Shamoon cầm bản đồ bước vào phòng, một ngày bận rộn căng thẳng bắt đầu -

[DeepSeek phụ dịch] C.1
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 6 năm 2026