Con đường từ San Francisco đến Monterey có vẻ như bất tận. Nếu như Jonathan hoan hỉ như trút được gánh nặng ngàn cân trước lời thú tội của cô gái Bô-hem, thì kể từ đó anh đeo một nỗi oán giận dành cho bác của mình.
Cơn giận tan nhanh như trò ảo thuật ngay khi chiếc Chevrolet màu trắng cũ rích của anh băng qua cửa cổng nhà bác để trườn vào con đường viền đầy cây bách, như thể một sự an lạc bất biến đã thấm sâu vào chốn này, có khả năng làm dịu cả những con rồng đang giận dữ nhất.
Jonathan xuống xe và đi về phía ngôi nhà, những viên sỏi dăm kêu lạo xạo dưới chân anh. Hoa mùa này ít hơn, những bông cúc sao màu xanh lơ đã thế chỗ những bông ông lão màu hồng, và lá cây thích đang dần chuyển sang màu đỏ. Nhưng bầu không khí vẫn y nguyên như xưa, êm đềm, thơm nồng và bao trùm một sự an bình vĩnh hằng. Phía bên dưới, hàng cây thông trăm tuổi vẫn thế, thân cây xù xì cong queo chế ngự cả một vùng đại dương luôn mang một màu xanh thẳm khôn cùng.
Bác Margie xuất hiện bên bậc tam cấp, vẫn nụ cười rạng rỡ và nồng hậu như thường lệ, và Jonathan không thể không ghì chặt bà trong vòng tay mình.
An tọa trong ghế bành mây, anh và bác cùng dùng trà trong vườn để tận hưởng không khí êm dịu của buổi chiều. Jonathan đợi lúc thuận tiện để đối chất với bác. Anh đang thiếu từ để diễn đạt.
Bác Margie đặt một khay ấm tách bằng sứ trang nhã lên mặt bàn thấp.
- Vậy là cháu đã biết rồi, đúng không? - bác nói một cách ngẫu nhiên, sau vài phút.
Bị bất ngờ, Jonathan gật đầu nhè nhẹ. Bác Margie là một trong những người có trực cảm cực tốt, sở hữu một kiểu nhạy bén đặc biệt, với kiểu người như vậy chúng ta chẳng thể giấu họ được điều gì.
Bác rót trà vào các tách. Hương vị cam bergamot lan tỏa phảng phất trong không khí.
Chẳng có lấy một lọn gió. Xa xa trên mặt biển, một con thuyền buồm đứng bất động, vẻ như đã được họa vào phong cảnh.
Thời gian hình như ngừng trôi.
- Ý thức về cái chết là điều thiết yếu trong cuộc sống, - bác nhẹ nhàng lên tiếng. Một con bướm vàng bay phấp phới quanh họ, rồi đậu xuống một cây bóng nước, vỗ cánh vài lần trước khi đứng im. - Xã hội chúng ta đang chìm ngập trong sự cự tuyệt cái chết, - bác vừa nói vừa thả mình nhè nhẹ xuống ghế bành. - Người ta cứ giả vờ làm như nó không tồn tại. Người ta thậm chí còn ẩn mình đằng sau một số từ vựng ẩn dụ để biểu thị nó: khi ta mất một người bác, một ông chú già, ta nói ông đã biến mất, ông đã ra đi, ông đã rời bỏ chúng ta. Ta nói chúng ta đã mất bác ấy rồi, như thể chúng ta sẽ lại tìm thấy ông ở một góc phố hoặc trong một gian hàng bán kẹo ở siêu thị vậy.
Jonathan mỉm cười.
- Người ta cự tuyệt tất cả những gì khiến chúng ta xích lại gần cái chết, - bác Margie tiếp tục nói. - Những dấu hiệu lão hóa được che giấu cẩn thận ngay khi chúng vừa xuất hiện. Người ta chỉ nâng tầm giá trị của tuổi trẻ và tất cả những phương tiện để thành công của lứa tuổi này, và đó là những thứ duy nhất người ta thích chường ra như thể tuổi già là một nỗi xấu hổ hoặc đáng sợ vậy. Ngay cả những triết gia cũng đi căng da mặt và chăm nom sao cho dáng điệu mãi trẻ trung!
Rồi bác phá lên cười.
- Tuy vậy, - bác tiếp tục, - khi ta hỏi mọi người xem họ có hạnh phúc không, thì số người trả lời “có” ở độ tuổi sáu mươi đông hơn rất nhiều so với ở độ tuổi hai mươi.
Bác đưa tách trà lên môi.
- Xưa kia trong các ngôi làng, tuần nào người ta cũng đi cùng gia đình đến nghĩa trang để viếng thăm tổ tiên. Người ta tưởng niệm họ, trò chuyện với họ, và cuối cùng là giữ một mối liên hệ, có cái gì đó vẫn tồn tại giữa họ và chúng ta, tức giữa người sống và người chết. Và trong lúc người lớn dọn dẹp chốn linh thiêng ấy thì lũ trẻ chơi quanh các ngôi mộ xung quanh đó và vẻ như không có gì nhưng trên thực tế thì chúng đang tiếp cận, làm quen với cái chết.
Bác Margie nhấp vài ngụm trà và Jonathan cũng làm theo. Độ nóng khoáng đạt của đồ uống lan đi khắp cơ thể và anh cảm thấy được thư giãn.
- Ngày nay, sự cự tuyệt cái chết tồn tại ở khắp nơi, - bác Margie tiếp tục. - Điều ấy chủ yếu giải thích sự ám ảnh của một số người thích đẩy lùi các giới hạn, cho dù về mặt thể chất, tài chính, hoặc vị thế xã hội, các mối quan hệ thân tình, quyền lực… Chính vì thế mà ở thời đại chúng ta, người ta hết sức ngưỡng mộ các nhà thể thao lớn, những người đẩy lùi các giới hạn của cơ thể, và các nhân vật nổi tiếng, mà nhờ vị thế hoặc tác phẩm của họ, tặng cho chúng ta một cái gì đó giống như sự trường tồn bất tử…
Bác đặt tách trà xuống.
- Dẫu vậy như cháu thấy đấy, nghịch lý ở chỗ là chính nhận thức được về giới hạn thì chúng ta mới có thể là người được giải phóng. Chính việc chấp nhận chúng hoàn toàn thì khi ấy chúng ta mới có thể thăng hoa, triển khai sự sáng tạo, và thậm chí mới bắt đầu thực hiện được những điều to lớn. Và do cái chết là giới hạn lớn nhất, là điều không thể tránh khỏi nhất,… nên cuộc sống của chúng ta thực sự bắt đầu vào ngày mà ta ý thức rằng ta sắp chết đến nơi và ta hoàn toàn chấp nhận nó một cách vui vẻ.
Con bướm đậu trên cây bóng nước cất cánh bay, khiến bông hoa lay động nhè nhẹ.
Xa xa trên mặt biển, con thuyền buồm hình như cũng tìm được chút gió để trườn đi.
Jonathan không nói gì. Dẫu vẫn oán trách bác gái vì nỗi thống khổ mà lời tiên đoán giả vờ hôm nào đã gây cho anh, thì từ sâu trong tâm khảm anh biết rõ rằng chỉ sau khi đã vượt qua những hoảng sợ liên quan đến cái chết thì anh mới thực sự đánh giá cao và thưởng thức cuộc sống, điều mà trước đây anh đã không bao giờ có được.
Thế là cuối cùng anh đã hiểu những con người ấy, những người đã bị vướng một căn bệnh nan y trầm trọng, đôi khi họ tự nhủ cám ơn cái ác đã rơi xuống trúng họ.
- Ý thức được cái chết cho phép ta thoát khỏi những ảo tưởng của mình, - bác Margie nói. - Ta đột nhiên nhận ra điều gì thực sự có giá trị trong cuộc sống của chúng ta. Tất cả những gì còn lại, mà cho đến tận lúc đó luôn huy động sự tập trung, sự chú ý và năng lượng của chúng ta, bất thình lình trở thành thứ yếu. Sự mù quáng kết thúc, những ảo tưởng tan biến đi. Ta tự cho phép được là chính mình, bày tỏ những gì ta cảm nhận được và sống điều ta muốn sống.
Bác đặt ấm trà xuống, trước khi nói thêm:
- Sống tốt, đó chính là chuẩn bị để chết mà không tiếc nuối.
Jonathan im lặng gật đầu.
- Hơn nữa cái chết có lẽ cũng chẳng khủng khiếp lắm đâu, cháu biết đấy. Mỗi người ai nấy có cách nhìn của mình về cái chết, mỗi người có đức tin riêng về chuyện này. Nhưng dẫu gạt sang bên cạnh những cách suy diễn tôn giáo, thì có nhiều lý do để nghĩ rằng chết chỉ là một sự chuyển tiếp sang một trạng thái khác, một hình hài khác của cuộc sống, hơn là tin rằng chúng ta sẽ chỉ là vật chất khi kết thúc thì về với cát bụi. Ngay cả những tín đồ tin tưởng nhất của quan điểm duy vật chủ nghĩa về cuộc sống thì cũng không thể đưa ra bằng chứng về chuyện này. Còn ngược lại, chúng ta có vô vàn nhân chứng, tất cả đều chung quan điểm, những người đã từng trải nghiệm cái chết nhãn tiền. Tất cả bọn họ đều miêu tả một trạng thái an lạc như thế, tình yêu, vẻ đẹp, ánh sáng đến nỗi mà không ai trong số họ kể từ đó còn sợ chết nữa.
- Đúng thế, cháu có đọc thấy vài người nói về chuyện này.
- Nhiều người đã rơi vào trạng thái hôn mê sâu, trong trạng thái gần như chết não, và khi tỉnh lại quay về với cuộc sống theo cách không thể giải thích nổi, thì họ có thể mô tả chính xác các sự kiện xảy ra xung quanh trong giai đoạn họ bị hôn mê, những lời trao đổi của khách thăm viếng hoặc của bác sĩ, và thậm chí cả những gì đã xảy ra… trong một căn phòng khác. Nhiều bác sĩ phẫu thuật cũng thu thập lời tường trình từ những bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật, khi họ tỉnh dậy, đã có một “bản báo cáo” rất thực tế về hành động và lời nói của nhân viên y tá trong cuộc giải phẫu, và có thể mô tả các đồ vật trong phòng khác mà họ chưa bao giờ đến đó. Điều này thậm chí đã xảy ra với các nhà khoa học… chủ nghĩa duy vật! Không cần phải nói rằng sau đó họ đã sửa đổi quan điểm đôi chút…
Bác lại phá lên cười trước khi nói thêm:
- Chắc chắn ta không thể rút ra bất kỳ kết luận nào về những trải nghiệm ấy, nhưng ít nhiều cũng rắp ranh muốn nghĩ rằng linh hồn chúng ta, mà ta thường xuyên đồng hóa với não bộ, không bị tù túng trong cơ thể chúng ta, mà có thể được giải thoát khỏi đó, rồi khi đến dịp thì dứt bỏ hẳn.
Jonathan mỉm cười trước quan điểm này, một quan điểm mà chính anh cũng đã muốn tin. Bác Margie bỗng nín bặt. Khu vườn, chìm trong một sự tĩnh lặng tôn giáo, dường như đang chuẩn bị đi ngủ. Khi ấy, người ta nghe thấy tiếng chim hót vang lên.
Một con sáo với bộ lông màu đen tuyền đến đậu cách đó vài mét.
Bất thình lình, một ý tưởng vụt qua tâm trí Jonathan. Anh quay về phía bác Margie.
- Với cô nàng Bô-hem, bác đã rất liều đấy. Cháu có thể đã có những phản ứng xấu, và sẽ dẫn đến kết cục tồi…
Bác tặng cho anh một trong nụ cười rạng rỡ nhất.
- Bác biết rõ con người cháu, cháu thân mến ạ, để đoán ra phản ứng của cháu. Hơn nữa, - bác nói với cặp mắt lóe lên những tia tinh ranh và hạ thấp giọng như thể bà đang thú tội, - bác chắc chắn rằng cháu sẽ đến gặp bác!
Jonathan nhìn bác mình, nhìn vào cặp mắt tinh ranh, vào khuôn mặt rạng rỡ của bác. Đó đúng là một nhân vật vô cùng đặc biệt.
Rồi anh đưa mắt lướt mơn man khắp khu vườn, quang cảnh tuyệt vời cho đến tận đường chân trời nơi mặt biển đang hòa lẫn với nền trời. Cơn gió tây nổi lên đã lại thu hút các thuyền buồm mới. Jonathan hít thở thật sâu. Gió biển mang một mùi hương bất diệt.