Bỗng Dưng Muốn Sống

Lượt đọc: 954 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

- Thảm cỏ của bác tuyệt thật đấy!

- Cháu thấy thế à?

Bác Margie và Jonathan băng qua khu vườn của dinh thự, thoải dần về phía biển. Không khí vẫn mát mẻ dẫu mặt trời đã lên khá cao. Những cây kim ngân và cỏ vừa được xén tỏa hương thơm mát.

- Lũ cỏ ba lá tròn mọc đầy trên thảm cỏ nhà cháu. Cháu đã thử các kiểu. Chẳng cách nào có tác dụng hết. Thế là cháu đành nhổ bằng tay và dẫu vậy bọn chúng vẫn tiếp tục mọc. Bác có cách gì tư vấn cho cháu không?

Bác Margie cười phá lên.

- Cháu khiến bác buồn cười quá đi.

Jonathan đứng sững lại.

- Cháu dẫu sao cũng không thể khoanh tay đứng nhìn chúng mọc bừa bãi mà không làm gì.

Bác Margie tiếp tục bước đi, miệng cười tủm tỉm.

- Tại sao?

Jonathan đuổi kịp bác.

- Tại sao ư? Cơ mà… là đương nhiên thôi, đúng không?

- Không.

Bác Margie rất mê chơi với những thành kiến mà bác sẵn sàng đóng vai ngớ ngẩn chỉ để thích thú khi thấy bạn xét lại những ý tưởng của mình thôi.

- Không đẹp, không thẩm mỹ lắm trên thảm cỏ. Mọi người ai cũng biết điều đó mà.

- Tất cả mọi người à? Nhưng cháu kìa, cháu biết nó như thế nào?

- Cháu biết nó như thế nào ư? Làm sao mà cháu biết rằng đó là không đẹp ư? Nhưng mà… cháu biết mà, thế thôi, chẳng ai tranh cãi về chuyện này cả, đó là gu của cháu.

Bác Margie nở một nụ cười tinh nghịch.

- Cháu chắc chứ?

Jonathan nín thinh. Đáp lại thế nào đây?

Bác Margie đi tiếp mà vẫn giữ nguyên nụ cười trên môi, đưa mắt lướt khắp khu vườn tuyệt vời của mình.

- Điều này khiến bác nhớ đến một câu chuyện, - bác nói, - một câu chuyện có thật và Robert đã kể cho bác nghe. Robert là một người bạn của bác ở Santa Cruz. Một hôm, ông ấy hỏi vợ là tại sao bà ấy cứ cắt cái mồng con gà tây của Ngày Tạ Ơn trước khi cho vào lò nướng. Bà ấy luôn cắt đi một mẩu ở phần đuôi, và ông thấy điều ấy thật kỳ quặc. “Nó thường được làm như vậy”, - vợ ông đáp lại. “Đồng ý, nhưng tại sao?” Ông ấy tò mò, ông muốn biết hơn nữa. “Thì người ta làm như vậy mà. Hơn nữa, em đã luôn luôn thấy mẹ em làm gà tây như thế”. Người chồng đã cố nài nỉ đến mức bà ấy phải gọi điện cho mẹ. Bà ấy nhấc điện thoại. “Mẹ à, mẹ biết đấy, con gà tây trong Lễ Tạ Ơn ấy mà, tại sao mẹ lại cắt cái đuôi gà đi?”. Người mẹ đáp mà không hề lưỡng lự: “Đó là công thức chế biến”. Đến lượt con gái nài nỉ, nhưng không nhận được câu trả lời thỏa đáng. Bà mẹ tự vệ: “Đó là cách làm, chính bà ngoại đã luôn dạy mẹ làm như vậy”. Thế là con gái quyết định gọi điện cho bà ngoại và tiếp tục đặt cùng một câu hỏi: tại sao lại cứ phải cắt cái phần đuôi con gà tây chết tiệt kia trước khi cho vào lò nướng hả bà? “Bà đã luôn luôn làm như thế”, - bà ngoại trả lời. “Tại sao ạ?” “Chẳng tại sao cả! Là cái lò nướng của bà nhỏ quá nên không thể cho cả con gà vào!”

Jonathan cười phá lên.

- Ngày trước, - bác Margie nói, - cỏ ba lá tròn luôn luôn là phần đẹp nhất trên các thảm cỏ. Điều đó đúng trên toàn thế giới, cháu biết chứ. Hơn nữa khi ta mua những túi hạt cỏ về gieo, thì trong đó luôn có các hạt cỏ ba lá tròn. Người ta không thể hình dung ra một thảm cỏ mà không có cỏ lá tròn! Chính nhờ nó mà thảm cỏ luôn xanh khi trời hanh khô. Do cỏ lá tròn hấp thụ chất nitơ trong không khí rồi cung cấp cho nền đất, nên nó đem lại phân bón tự nhiên cho thảm cỏ. Còn đòi hỏi gì hơn nữa nào? Thế rồi trong những năm 1950, các công ty đa quốc gia về hóa học đã phát triển thuốc diệt cỏ để trừ bỏ các loại cây cỏ dại mọc giữa thảm cỏ. Vấn đề là thuốc diệt cỏ của họ cũng diệt luôn cả loài cỏ ba lá tròn mà mọi người yêu thích. Thế nên họ không sao bán được cái chất bẩn thỉu kia. Thế là họ đã dùng biện pháp liều lĩnh, đã đầu tư hàng triệu đô la vào chiến dịch quảng cáo để truyền bá ý tưởng cho rằng cỏ ba lá tròn là một loài cỏ dại…

- Bác đang đùa chứ?

- Do cứ ra sức quảng cáo, cuối cùng bức thông điệp đã được ghi nhận.

Mọi người bắt đầu nhìn loài cỏ ba lá tròn với con mắt khác, rồi sau đó nảy sinh ý tưởng muốn trừ khử chúng. Khi ấy các công ty đa quốc gia đã thực hiện một cú đúp: họ đã có thể bán các chất cặn bã diệt cỏ kia, và sau đó mọi người lại mua phân bón, do các thảm cỏ bắt đầu bị thiếu chất nitơ…

Jonathan lắc đầu, bực mình. Bác Margie mỉm cười, cặp mắt ánh lên sự tinh nghịch.

- Cỏ ba lá tròn đẹp chứ, - bác nói. - Mùa xuân đến chúng thậm chí còn nở những bông hoa trắng nhỏ xíu.

Bác nói nhỏ hơn để thích ứng với chất giọng thổ lộ tâm tình:

- Cuộc sống là như thế này: ta khó mà lường được rằng những gì ta coi như là một vấn đề thì đôi khi trên thực tế lại là… giải pháp!

Họ tiếp tục chầm chậm đi xuống dọc theo các bụi hồng và hàng rào cây ông lão tỏa hương thơm ngào ngạt. Phía dưới, những thân cây thông hàng trăm năm sần sùi cong queo nổi bật trên nền mặt biển xanh lơ thăm thẳm. Không hề có lấy một ngọn gió và ta có cảm giác các loài cây tận dụng thời khắc ấy để giải phóng và phát tán mùi hương như thể đã biết rằng chúng sẽ không bị gió thổi đi mất.

- Và như hôm qua chúng ta đã nói, - bác Margie nói thêm, - cuộc chiến đấu là vô vọng. Tất cả chúng ta đều liên kết với nhau.

- Ơ… nếu có thể, cháu đề nghị chúng ta nói về con người, chứ không nói về cây cối nhé!

- Cây cối cũng là những vật thể sống.

- Vâng, nhưng mà… dẫu sao thì cũng có những giới hạn. Bác sẽ không khiến cháu tin rằng cháu có liên kết với đám cỏ ba lá tròn trên thảm cỏ nhà cháu chứ!

Bác Margie cười bình thản.

- Biết đâu đấy… Cháu đã nghe nói về những chuyện xảy ra với đám linh dương vào cuối những năm 1980 ở Nam Phi chứ?

- Không, không nhiều lắm! - Jonathan vừa nói vừa cười.

- Chuyện xảy ra ở vùng Xavan ở Transvaal. Gần ba chục năm trước, bác đã có mặt ở đó…

Bác Margie dừng lại, trước khi tiếp tục bằng một giọng ề à như thể các câu chữ nảy đến dần dần theo cách ký ức của bác khơi cho những kỷ niệm trỗi dậy.

- Bác vẫn còn nhớ mặt trời đỏ rực vào lúc bình minh trên các vùng đồng bằng mênh mông, và những cơn gió nóng đem theo mùi loài thú hoang. Các vùng đồng bằng ấy chứa nhiều nguồn dự trữ tự nhiên, nơi có loài koudou sinh sống, những con linh dương to lớn với bộ sừng xoắn ấy. Chúng có thói quen ăn lá cây keo. Và loài cây này không để cho chúng ăn…

Jonathan bật cười.

- Chúng chẳng có nhiều lựa chọn cho lắm nhỉ!

Bác Margie tặng anh một nụ cười huyền bí.

- Một hôm, những con linh dương bắt đầu lăn ra chết hàng loạt trong các khu bảo tồn mà người ta không hề biết tại sao. Không bị thú dữ tấn công, không có thương tích gì. Cả ê kíp sinh vật học của bác đã phải mất hai năm thì mới tìm ra nguyên nhân của vụ ấy. Điều mà cuối cùng bác và các đồng nghiệp phát hiện ra đã làm thay đổi nhiều thứ trong thế giới quan của bác…

Jonathan nhíu mày.

- Cho đến tận lúc ấy, những cây keo đã để cho bị ăn lá, bởi chúng biết rằng những con linh dương kia ăn vài lá rồi bỏ đi. Nhưng mùa hè năm đó, linh dương đột nhiên xuất hiện rất nhiều trong các khu bảo tồn. Và chúng bắt đầu ăn nhiều lá hơn thường lệ. Khi đó cây keo đã phản ứng bằng cách tăng hàm lượng ta-nanh trữ trong lá của chúng, để khiến chúng trở nên đắng hơn và đẩy lùi bọn linh dương.

Jonathan nhìn bác với vẻ ngờ vực.

Bác Margie không phản ứng mà cứ nói:

- Nhưng do đói nên lũ linh dương cứ tiếp tục ăn lá, đến mức các cây keo đã bị đe dọa.

Bác dừng một chút rồi nói tiếp:

- Thế là chúng bắt đầu phát tán một loại chất độc vào trong nhựa cây của chúng. Lá cây keo bình thường vốn là thứ ăn được, thì khi ấy đã trở thành loại có thể… gây chết.

Jonathan sửng sốt nhìn bác mình, mặt tái bợt.

- Điều đặc biệt nhất không nằm ở chỗ đó, - bác Margie nói. - Các cây keo đã truyền tin cho nhau, từng cây một. Chúng đã báo cho đồng loại biết điều nguy hiểm đang đe dọa chúng nếu như chúng cứ để cho bị ăn lá như trước đây. Đúng đấy, cháu đã nghe rất rõ bác nói rồi đấy: cây cối truyền thông tin cho nhau, theo dạng mà cây nào cây ấy đều bắt đầu sản sinh ra độc tố đó.

Jonathan im lặng hồi lâu trước khi trả lời.

- Cái gì chứng minh điều đó ạ? Đó có thể chỉ là từng cây keo đã phản ứng theo cùng một cách do phải đối đầu với cùng một vấn đề thôi.

Bà Margie chậm rãi lắc đầu, mắt nheo lại.

- Toàn bộ các cây keo trong vùng đều bắt đầu biến lá cây chúng thành độc hại… Bao gồm cả những cây sống bên ngoài các khu bảo tồn, tức là không có tiếp xúc gì với các con linh dương kia. Chúng chẳng có lý do gì để phản ứng như vậy… trừ phi chúng đã nhận được thông tin.

Jonathan cảm thấy lạnh sống lưng khi nghe câu chuyện này. Ý tưởng về các loài cây có thể nói chuyện được với nhau cho thấy như có hơi hướng khoa học viễn tưởng. Rằng có thể có một thực tế trong chuyện này không khỏi khiến người ta lo lắng.

- Các bác biết chúng làm thế nào chứ?

- Có vài hướng, nhưng vẫn chưa dứt khoát hướng nào cả. Ta biết chúng trao đổi thông tin hóa học cho nhau bằng rễ của chúng thông qua đất, nhưng họ đã chứng minh rằng chuyện không dừng lại ở đó.

- Bác kể đi.

- Cây cối biết nhận ra các hàng xóm sống trên cùng một mảnh đất xung quanh nó. Khi liên quan đến loài cây trong cùng một gia đình, nó nhường chỗ cho chúng để phát triển bằng cách giảm phát triển bộ rễ của nó. Ngược lại, khi người hàng xóm là một kẻ xa lạ, nó sẽ phát triển bộ rễ nhanh hết tốc độ để chiếm toàn bộ phần đất. Hồi đó, người ta đã làm thí nghiệm sau: họ đặt một cái hộp rỗng, màu đục và bít kín, trên nền đất đã được gieo những hạt ớt, và đo sự phát triển của rễ ớt. Sau đó họ tiếp tục làm lại thí nghiệm, nhưng lần này họ cho vào hộp một cây thì là bẹ. Cháu nên nhớ cây thì là bẹ được biết đến như là một kẻ thù của loài ớt (do cây thì là bẹ phát tán vào đất và không khí những tín hiệu hóa học gây cản trở cho sự phát triển của ớt). Họ đặt cây thì là bẹ vào trong hộp kính mờ và bít kín hoàn toàn rồi đặt trên nền đất. Không có bất kỳ phương tiện nào để các loài cây này liên hệ với nhau thông qua những trao đổi hóa học hết. Tuy nhiên, họ đã quan sát thấy những cây ớt bắt đầu tăng tốc phát triển bộ rễ của chúng, hành vi điển hình của một loài cây đã nhận ra một loài xa lạ khác trên lãnh thổ của nó. Cây ớt vậy là đã biết rằng cây thì là bẹ có mặt ở đó, nhưng biết như thế nào đây? Huyền bí.

- Chuyện điên rồ thật.

Jonathan đưa mắt nhìn lên những cây kim ngân tỏa mùi thơm, những cây hoa hồng, cây ông lão, những búi cây, những cây thông lớn đứng bất động và oai phong uy nghi. Kể từ bây giờ, anh sẽ nhìn chúng không giống như trước đây nữa.

- Cháu thấy điên rồ là bởi cháu chưa bao giờ nghe nói đến các sự kiện này, nhưng hiện giờ không còn ai ngạc nhiên về những chuyện thường nhật ấy xảy ra xung quanh chúng ta…

Jonathan nhíu mày.

- Bác đang nghĩ đến cái gì thế?

- Ví như cháu đã bao giờ tự hỏi đàn chim làm thế nào để bay theo đội hình không?

- Chuyện đó thì có gì ngạc nhiên ạ?

- Cháu có biết rằng chúng có khả năng cùng chuyển hướng đột ngột mà không bao giờ đụng vào nhau không? Trong khi chúng bay rất gần nhau, như cháu vẫn thấy đấy.

- Cháu hình dung chúng chú tâm vào con bay ở đầu đội hình. Chúng phải theo rất sát trong lúc vẫn hết sức thận trọng, tập trung cao và phản ứng nhanh…

Bác Margie vừa lắc đầu vừa tủm tỉm cười.

- Điều ấy không giải thích hiện tượng này. Các nhà khoa học đã đo khoảng thời gian cần thiết để các con chim chuyển hướng sau khi con đầu đàn đã chuyển hướng. Khoảng thời gian đó còn ít hơn số cần thiết để luồng thần kinh của chim truyền từ mắt đến não bộ rồi từ não bộ đến cánh.

Jonathan nín thinh nhìn bác, sững sờ.

- Cũng cùng một huyền bí như thế đối với cá bơi theo đàn, - bác Margie nói thêm. - Các nghiên cứu đã chứng tỏ được những điều rất khó hiểu trước đây: khi ta phủ lên mắt chúng một lớp kính thô để chúng lóa mắt trong lúc làm thí nghiệm, các con cá vẫn giữ nguyên vị trí của chúng trong đàn và tiếp tục di chuyển phối hợp đồng điệu hết sức hoàn hảo.

- Sự di chuyển của chúng chắc tạo ra tần sóng trong các làn và các luồng nước mà tất cả bọn chúng đều phải cảm thấy được…

- Đó chính là điều mà họ đã tin đấy. Khi ấy các nhà nghiên cứu đã cắt đứt chùm dây thần kinh thính giác nằm trên đường lườn những con cá đang được nghiên cứu thí nghiệm, nhưng đường bơi của chúng vẫn phối hợp hết sức nhịp nhàng với đường bơi của các con khác.

- Chuyện đúng là lạ thật…

- Cũng không biết giải thích như thế nào về loài chim bồ câu đưa thư, làm thế nào chúng tìm về tổ khi được thả ở một nơi hoàn toàn xa lạ, cách nhà chúng hàng trăm kilômét, buộc chúng phải bay một chặng đường mà trước đây chúng chưa bao giờ bay.

- Cả loài chim di cư cũng thế…

- Chính xác. Người ta đã nghĩ liên quan đến chuyến di cư là do cha mẹ chim truyền dạy cho chim con. Thế nên các nhà nghiên cứu đã tách chúng ra ngay khi chào đời. Khi chim con tới tuổi biết bay thì họ thả ra. Chúng tự lao mình lên bầu trời và bay hết sức tự nhiên qua nửa vòng trái đất và đến đúng địa điểm để tìm gặp lại cha mẹ chúng, cặp cha mẹ chim này đã ra đi từ vài tuần và đã đến nơi trước…

Jonathan trầm ngâm, vẻ nghĩ ngợi.

Phía xa xa, một đoàn thuyền có cánh buồm màu đỏ đang cùng nhau ra khơi. Có lẽ là một lớp học lái thuyền buồm.

Gió nhẹ nên những con tàu gần như bất động, chỉ bị những con sóng làm cho lắc nhẹ tại chỗ.

- Bác muốn nói gì ạ? - cuối cùng anh cũng cất tiếng hỏi.

- Một nhà sinh vật học có tên tuổi làm việc tại trường Đại học Cambridge tên là Rupert Sheldrake đã đưa ra một giả thiết cho rằng chắc có điều gì đó liên kết các sinh vật sống với nhau, và điều ấy không chỉ tồn tại nơi loài người. Cái gì đó mà ông ấy gọi là một trường hình thái.

Jonathan bĩu môi.

- Cháu đã nghe nói đến từ trường, trường hấp dẫn… chứ chưa bao giờ nghe nói đến trường hình thái cả.

- Đó chắc là một dạng khuôn vô hình. Giống như một khoảng trống bao bọc các sinh vật sống. Các sinh vật này có quan hệ với nhau và cho phép chúng giữ được một hình thái tiếp xúc nhau vĩnh viễn. Một mối liên hệ chắc sẽ không bị thời gian lẫn khoảng cách làm cho mất đi.

- Cả khoảng cách ư?

- Đúng thế.

- Chuyện hình như lại hơi điên rồ. Cháu có thể hình dung rằng ta phát ra những tần sóng hoặc cái gì đó mà cháu không biết gọi là gì, và người khác nhận được, chúng cho phép ta kết nối với những người khác, nhưng nếu cháu đi du lịch đến đầu kia quả địa cầu, thì cháu không rõ điều đó sẽ tiếp diễn như thế nào.

Bác Margie lắc đầu.

- Chính thế, chúng không phải là những tần sóng. Không phải là trường điện hoặc trường từ, những thứ mà trên thực tế có thể bị biến mất do khoảng cách. Và đó chính là điều khó hiểu nhất: đó sẽ là một mối liên hệ từ một trật tự khác, một trình độ khác như thể con người ta được liên kết trong một phạm vi khác, tách hẳn với thời gian và không gian. Như thể thi thoảng khi kết nối vào phạm vi này thì người ta liền tiếp cận được những thông tin mà nó chứa đựng và nó liên kết chúng ta với nhau.

- Chuyện quá lớn đến nỗi khiến người ta lo ngại…

- Vẫn chưa có cơ sở khoa học chắc chắn gì về vấn đề này, nhưng những giả định có lập luận với những bằng chứng ban đầu và kết quả thí nghiệm do các nhà khoa học như Sheldrake tiến hành đã gây bối rối. Và điều đó cho phép giải thích các hiện tượng mà ta vừa nói đến, và còn rất nhiều các hiện tượng khác nữa.

- Ví dụ như hiện tượng nào?

- Đã khi nào cháu gặp chuyện bỗng nhiên cháu nghĩ đến ai đó mà từ lâu rồi cháu đã không nghe nói đến, người đó có thể ở rất xa, trong một quốc gia khác, và rồi ngay sau đó một lát thì chính người ấy đã gọi điện cho cháu? Hoặc khi nghe tiếng chuông điện thoại reo, cháu đã đoán chính là người ấy gọi không?

Jonathan chợt cảm thấy ớn lạnh. Hiện tượng này đã từng xảy đến với anh nhiều lần. Anh cứ luôn gán cho đó là sự ngẫu nhiên thôi.

- Sự tồn tại của trường hình thái cũng sẽ giải thích tại sao có những người có khả năng cảm nhận được những ánh mắt đang dõi vào họ trong khi họ bị bịt mắt hoặc quay lưng lại.

- Thật ư?

- Ở viện, họ đã tiến hành thí nghiệm trên hơn chín trăm người. Kết quả rất rõ ràng: những người có khả năng này đoán nhận được khi có người đang nhìn mình, với một tỉ lệ thành công là 73%.

- Wow…

- Cũng có các con vật nuôi biết trước khi nào ông/bà chủ của nó sẽ trở về, và thường đứng chờ trước cửa nhà vài phút để đón họ, ví dụ thế. Sheldrake đã tiến hành nghiên cứu rất nhiều về điểm này. Ông ấy đã chỉ ra rằng hành vi được chó hoặc mèo biểu hiện trước khi ông chủ trở về không thể giải thích được bằng thời gian biểu thường lệ của ông chủ ấy (Sheldrake đã đổi thời gian biểu trở về theo cách rất lộn xộn), cũng không phải bởi sự nhận biết tiếng động cơ xe hơi hay xe buýt (ông cũng đa dạng hóa các phương tiện giao thông), cũng không phải nhờ khứu giác phát triển của chúng (ông đã cho ông chủ đi trong những chiếc xe bít kín).

Jonathan gật gù. Anh đã từng được bạn bè kể cho nghe dạng chuyện này, nhưng chẳng bao giờ coi là chuyện nghiêm túc cả.

- Điều này cũng cho phép hiểu rõ hơn tại sao có nhiều động vật chạy trốn đến thế, trước khi có trận sóng thần khủng khiếp đã tàn phá rất nhiều các bờ biển vùng Nam Á năm 2004, trong khi không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy nếu như chúng đã nhận biết được điều ấy là nhờ năm giác quan của chúng. Điển hình nhất là trường hợp các đàn voi của Sri Lanka. Chúng đã đi sâu vào đất liền và lên trú ở những khu đất cao một giờ trước khi những trận sóng thần ập đến tàn phá. Trong một trang trại ở Thái Lan, nơi mà người ta cho khách du lịch cưỡi voi đi dạo, những con voi đã bắt đầu ré lên một cách kỳ quặc ngay từ sáng sớm, và rồi chúng không chịu vâng lệnh chủ nữa. Sau đó chúng đã giằng đứt các chuỗi xích sắt và bỏ chạy lên các quả đồi. Vài người chạy theo chúng đã được sống sót. Rất nhiều các loài động vật khác đã có hành vi tương tự. Như công viên quốc gia Yala ở Sri Lanka, nơi bị sóng thần tàn phá sâu vào đất liền đến ba kilômét nhưng người ta đã không hề tìm thấy bất kỳ một xác chết động vật nào giữa các nạn nhân là con người.

- Thế bác giải thích thế nào khi con người bị mắc kẹt không chạy kịp, nếu như ta cũng được kết nối với trường hình thái như bác đang nói đó?

Bác Margie thở dài.

- Dẫu những đóng góp của chúng ta đôi khi rất tuyệt, nhưng sự xuất hiện của công nghệ trong đời sống con người đã khiến chúng ta bị mất đi một số khả năng. Tất cả chúng ta đều thừa nhận rằng trí nhớ của chúng ta giảm hẳn kể từ khi cuốn agenda điện tử được đưa vào sử dụng để nhắc nhở chúng ta lịch làm việc.

- Điều đó thì rõ rồi…

- Hoặc nữa là ta đang mất dần giác quan định hướng kể từ khi để cho máy định vị trí GPS điều khiển.

- Có thể, nhưng cháu thích vậy hơn là phải đi loanh quanh tìm đường.

- Ta nói về đợt sóng thần năm 2004 nhé. Hồi đó, một số bộ lạc được gọi là nguyên thủy thì chính họ cũng đã cảm nhận thấy có nguy hiểm sắp xảy đến và cũng đã di cư lên các khu vực cao trước khi sóng thần ập đến, trong khi những con người được cho là phát triển đã chết mà chẳng hề đoán biết sắp có chuyện gì xảy ra.

- Cháu không biết.

- Đó là trường hợp các tộc người bản xứ sống trên các hòn đảo Andaman và Nicobar, nằm ngay gần sát tâm chấn, nơi mà người ta tìm thấy gần bảy ngàn nạn nhân: các bộ lạc Sentinele, Onge, Andaman To, Shompen đều thoát nạn một cách kỳ diệu. Trên đảo Jirkatang, hai trăm năm mươi thành viên của bộ lạc cổ Jarawa đã lùi sâu vào đất liền từ rất lâu trước khi những đợt sóng giết người ập tới và suốt mười ngày liền họ đã sống bằng quả dừa. Ở phía Nam đảo Surin, hai trăm thành viên của bộ tộc Moken, tất cả trừ một cậu bé bị tật nguyền, cũng đã về nơi trú an toàn từ rất lâu, trước thời khắc định mệnh ấy. Khi người ta hỏi họ đã làm thế nào để biết trước một thảm kịch như vậy sẽ xảy ra, thì họ hình như đã rất ngạc nhiên trước câu hỏi đó, như thể câu trả lời là hết sức hiển nhiên. “Chúng tôi đã chỉ nghe thiên nhiên thôi”, - họ đã nói như vậy.

Jonathan tủm tỉm cười.

- Victor Hugo đã nói: “Thiên nhiên nói với chúng ta, nhưng chúng ta lại không biết nghe chúng”.

Bác Margie gật đầu đồng tình.

- Vả lại các tộc người nguyên thủy này có những khả năng tuyệt vời. Rõ ràng họ có thể tiếp cận được một nguồn thông tin huyền bí còn chúng ta thì không hề biết gì.

- Bác nghĩ đến điều gì?

- Những người thổ dân Anh-điêng ở vùng Amazôn có khả năng tìm ra các loài cây hoặc thảo dược chữa khỏi bệnh cho người ốm. Nhưng chỉ một hec-ta rừng ở vùng Amazôn thì đã có vô vàn loài cây khác nhau, và số loài cây ấy còn nhiều hơn số loài cây trên toàn bộ châu Âu gộp lại. Đấy là chỉ nói về cây thôi. Các loài thảo mộc đa dạng thì có đến hơn tám mươi ngàn loài khác nhau mọc xung quanh họ. Và khi ta hỏi họ làm thế nào để xác định được loài thảo mộc nào sẽ chữa khỏi cho người bệnh kia, thì họ trả lời rằng chính các loài cây đó nói cho họ biết.

Jonathan cố nén cười.

- Các thầy pháp sư của họ nhập đồng và chính trong trạng thái thay đổi ý thức ấy mà họ nói rằng đã giao tiếp được với tâm thức của cây. Như thể trạng thái nhập đồng ấy cho phép họ kết nối dễ dàng hơn với…

- … một trường hình thái.

- Chính xác. Đây nhé, có ví dụ này khó hiểu hơn: từ nhiều thế hệ trước, họ đã phát triển và điều chỉnh các công thức tinh chế độc dược khác nhau từ nhựa cây, chất độc này phục vụ họ đi săn bắn, bởi ngay lập tức chất độc kia sẽ khiến toàn bộ tứ chi của nạn nhân bị tê liệt. Các nhà nghiên cứu phương Tây đã nghiên cứu các độc dược ấy và đã thấy rằng một số công thức được chế rất tinh vi, đưa vào sử dụng những yếu tố có nguồn gốc từ các loài thảo mộc rất khác nhau, mỗi yếu tố đóng một vai trò chủ yếu cho quá trình chế tạo. Nếu thiếu một trong các thành phần này, hoặc liều lượng của một trong số chúng thay đổi, chất độc sẽ không còn tác dụng nữa. Họ đã làm thế nào để tìm ra công thức chứ? Họ không có sách vở, không có phòng thí nghiệm, cũng chẳng có các dụng cụ. Họ bị mù chữ.

- Có thể họ đã tiến hành theo cách thử-sai-sửa.

- Không. Điều đó có thể vận hành nếu cháu tìm kiếm sự kết hợp giữa hai hoặc ba thành phần trong số vài chục hoặc vài trăm, nhưng kết cấu của bảy hoặc tám yếu tố trong số tám mươi ngàn sẽ đem lại hàng triệu khả năng. Chẳng ai có thể tiến hành hàng triệu thử nghiệm cả.

Jonathan đưa mắt ngắm khắp khu vườn và hàng trăm các cây to, các bụi cây nhỏ, búi cây thấp, thảo mộc, cỏ. Thật thú vị khi hình dung có cái gì đó kết nối chúng với chúng ta.

- Bác có biết rằng, - anh nói, - đôi chân của bác đang xéo nát một cách không thương tiếc hàng trăm nhánh cỏ không?

Bác Margie cười thoải mái hết cỡ.

- Đúng là viễn cảnh mối liên hệ dẫn ta đến xem lại các mối quan hệ giữa chúng ta với cuộc sống xung quanh, - bác vừa nói vừa đưa ánh mắt ngưỡng mộ nhìn khắp thảm thực vật trong khu vườn của bác. - Điều chắc chắn, đó là ta được sinh ra để sống cùng với nhau. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những chuyện khá rõ ràng.

- Bác cho ví dụ đi?

- Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng chỉ cần đi bộ trong rừng là đã tăng cường được hệ thống miễn dịch của chúng ta.

Jonathan nghĩ tới những chuyến cuốc bộ dài của anh giữa thiên nhiên hoang dã trong vùng Big Sur. Những lúc đó, anh đã cảm thấy vô cùng thoải mái…

- Có những nghiên cứu khác, - bác nói, - chứng tỏ rằng sự có mặt của cây cối trong phòng làm việc làm giảm 30% những cơn đau đầu, 20% sự mệt mỏi, còn đau họng là giảm được 20%. Họ cũng tìm ra kết quả tương tự liên quan đến sự có mặt của động vật xung quanh chúng ta. Nhờ vậy ta biết rằng một người bị trải qua một cơn nhồi máu sẽ có 23% cơ may sống thêm một năm nữa nếu họ nuôi một con chó trong nhà.

- Bác sẽ khiến cháu cảm thấy có lỗi: Chloé đã luôn luôn đòi có một con vật nuôi. Angela đã đồng ý nhưng cháu thì luôn luôn phản đối.

Bác Margie mỉm cười.

- Con người là một bản thể của các mối quan hệ. Quan hệ với những người khác, với động vật, với cây cối. Đó là những mối quan hệ khiến ta sống được. Hơn nữa, ta có thể khẳng định điều đó từ thí nghiệm do Frédéric II thời Saint Empire ở thế kỷ 13 đã tiến hành.

- Cháu chưa bao giờ nghe nói đến.

- Người đàn ông này nói thông thạo sáu bảy thứ tiếng và tự hỏi đâu là “tiếng của Chúa Trời”, đó hẳn sẽ là thứ tiếng mà ta nói một cách tự nhiên nếu như ta không được dạy bất cứ thứ tiếng nào cả. Thế là ông ta đã làm một thí nghiệm và may mắn là hiện giờ những thí nghiệm dạng này đã bị cấm.

- Ông ấy đã làm gì?

- Ông ấy đã cho cô lập những đứa trẻ sơ sinh rồi ủy thác cho các vú nuôi đảm nhiệm nhiệm vụ đặc biệt. Các cô này nhận lệnh nuôi chúng ăn, cho chúng uống và thay tã lót sao cho chúng luôn sạch sẽ, tóm lại là đáp ứng nhu cầu sinh lý của chúng. Nhưng các cô ấy không có quyền bế nựng chúng, chơi với chúng, nhất là không được nói chuyện với chúng.

- Thế rồi sao, chúng đã phát triển trong thứ ngôn ngữ nào ạ?

- Họ đã chẳng bao giờ biết được.

- Sao thế?

- Chúng đều bị chết. Dù mọi nhu cầu sinh lý của chúng đều được đáp ứng và thỏa mãn đầy đủ. Chúng chỉ bị tước hết các mối quan hệ thôi.

- Khủng khiếp quá.

- Các mối quan hệ là cốt lõi của cuộc sống của chúng ta, Jonathan ạ.

Những từ trong câu nói sau cùng của bác Margie hình như cứ lơ lửng trong không gian. Mặt trời lúc này đã lên cao, nắng rất gắt và Jonathan biết rằng bác gái anh sẽ không chậm trễ quay về nhà. Trên biển, một cơn gió nhẹ xuất hiện và những con thuyền buồm nhỏ đã lại lên đường, sát bên nhau.

Các mối quan hệ là cốt lõi của cuộc sống của chúng ta. Các mối quan hệ chủ yếu của Jonathan hiện thời là với các khách hàng của anh. Nhưng liệu ta có thể thực sự nói là các mối quan hệ khi đó là những người mà ta chờ đợi nơi họ điều gì đó? Những người mà ta không nói cho họ biết toàn bộ sự thật để đạt được một chữ ký của họ? Tồi. Chẳng hay ho lắm…

- Một số người tin rằng, họ có thể sống mà không cần phụ thuộc vào người khác. Họ nghĩ rằng hạnh phúc của họ chỉ phụ thuộc vào chính họ. Đó là một ảo tưởng quá lớn.

Bác Margie cúi về phía Jonathan và nở nụ cười ranh mãnh vốn có của mình.

- Trong cơ thể cháu, có năm trăm loại vi sinh vật sinh sống đấy.

- Cháu hả, cháu cảm thấy mình có một mình thôi mà.

- Một trăm ngàn tỉ vi khuẩn sống trong ruột của cháu.

- Thôi đi bác, nghe ghê lắm.

- Những con vi khuẩn sống trong cháu đông gấp một trăm lần những tế bào của cơ thể cháu.

- Đừng nói nữa bác ơi, bác khiến cháu có ý định đi làm một kỳ điều trị bệnh bằng kháng sinh đấy.

Bác Margie mỉm cười.

- Chúng ta đôi khi cần những thứ mà cứ ngỡ chúng là kẻ thù của ta.

- Bác còn chuyện gì muốn nói với cháu nữa, hả?

- Những con vi khuẩn này bảo vệ cháu chống lại các vi sinh vật mang độc tính có thể khiến cháu bị ốm nặng. Diệt chúng bằng thuốc kháng sinh sẽ biến cháu trở nên dễ bị tổn thương. Hơn nữa…

- Gì ạ?

- Có chuyện khác nữa, - bác nói bằng chất giọng hơi huyền bí.

Jonathan nhíu mày.

- Những con vi khuẩn sống trong ruột cháu chịu trách nhiệm về liều lượng thích hợp cho chất serotonin của cháu. Không có chúng, cháu sẽ bị thiếu chất này.

- Cái chất serotonin ấy, là gì hả bác?

Bác Margie ngó anh vài khắc để kéo dài thêm sự hồi hộp.

- Chất hooc-môn khiến cháu cảm thấy được hạnh phúc.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của laurent gounelle