Bên trong quán cà phê trên sân ga, không khí ấm áp và sáng sủa. Những chiếc bàn gỗ sáng bóng vì lau chùi; trên bàn, những bao bánh bích quy mặn bọc giấy bóng được bày ở rá. Những chiếc ghế được chạm trổ, mặt ghế tuy đã mòn vẹt nhưng ngồi thì rất thoải mái. Một chiếc đồng hồ có vỏ bằng gỗ được chạm trổ, treo trên tường và một quầy rượu ở cuối phòng. Bên ngoài cửa sổ tuyết đang rơi.
Hai người phu khuân vác của ga đang ngồi uống rượu vang mới cất ở chiếc bàn bên dưới đồng hồ. Một người phu khác đi vào và nói tàu tốc hành Simplon - Orient bị chậm một tiếng ở Saint Maurice. Anh ta ra ngoài. Một nữ tiếp viên đến bên bàn của ngài Wheeler.
“Tàu tốc hành bị chậm một tiếng, thưa ngài”, cô nói. “Tôi mang cà phê cho ngài nhé?”
“Nếu cô nghĩ nó sẽ không làm tôi chong mắt ra”.
“Thưa?”. Cô tiếp viên hỏi.
“Hãy mang cho tôi”, ngài Wheeler nói.
“Cảm ơn”
Cô mang cà phê từ bếp ra, ngài Wheeler nhìn ra ngoài cửa sổ nơi tuyết đang rơi trong ánh sáng hắt ra từ phía sân ga.
“Cô có nói được ngoại ngữ nào khác ngoài tiếng Anh không?” ông ta hỏi cô tiếp viên.
“Ồ, có thưa ngài. Tôi nói được tiếng Đức, tiếng Pháp và mấy thổ ngữ”.
“Cô có muốn uống một chút gì không?”
“Ồ, không thưa ngài. Không được phép uống ở trong quán với khách ạ”.
“Cô có hút xì gà không?”
“Ồ, không, thưa ngài. Tôi không hút thuốc”.
“Được đấy”, ngài Wheeler nói. Ông ta lại nhìn ra ngoài cửa sổ, uống cà phê rồi châm một điếu thuốc.
“Fraulein” [1] ông ta gọi. Cô tiếp viên đi đến.
“Thưa ngài, ngài cần gì ạ?”
“Cần cô”, ông ta nói.
“Ngài không nên đùa với tôi như vậy”.
“Tôi không đùa đâu”.
“Vậy thì ngài đừng nói thư thế nữa”.
“Tôi không có thời gian để tranh luận”, ngài Wheeler nói. “Tàu sẽ đến trong vòng bốn mươi phút nữa. Nếu cô chịu lên gác với tôi, tôi sẽ trả cô một trăm frăng”.
“Thưa ngài, ngài đừng nên nói như thế. Tôi sẽ gọi bảo vệ vào nói chuyện với ngài đấy”.
“Tôi không cần bảo vệ”, ngài Wheeler nói, “và cũng không phải một tay cảnh sát hay một gã bán thuốc lá nào cả. Tôi cần cô”.
“Nếu ngài còn nói những điều như vậy thì ngài phải ra khỏi đây. Ngài không được ở đây mà nói năng như thế”.
“Tại sao tôi lại phải đi cơ chứ? Nếu cô đi khỏi đây thì tôi đã không nói chuyện được với cô”.
Cô tiếp viên đi ra ngoài. Ngài Wheeler nhìn để xem cô nói gì với mấy người bảo vệ không. Cô đã không nói.
“Mademoiselle!” [2]. Ông ta gọi. Cô tiếp viên đi đến “Mang cho tôi một chai Sion”.
“Vâng, thưa ngài”.
Ngài Wheeler nhìn cô bước ra, lát sau đi vào với chai rượu rồi mang đến bàn ông ta. Ông ta nhìn lên đồng hồ.
“Tôi sẽ trả cô hai trăm frăng” ông ta nói.
“Xin đừng nói như thế nữa”.
“Hai trăm frăng là một khoản tiền lớn”.
“Ngài không được nói như vậy nữa!” Cô tiếp viên nói. Cô đã để lạc mất giọng tiếng Anh của mình. Ngài Wheeler chăm chú nhìn cô.
“Hai trăm frăng”
“Ông là kẻ đáng ghét”.
“Tại sao cô không đi đi? Tôi không thể nói với cô nếu như cô không ở đây”. Cô tiếp viên rời bàn, đi về phía quầy. Ngài Wheeler uống rượu và thỉnh thoảng mỉm cười một mình.
“Mademoisslle” ông ta gọi. Cô tiếp viên giả vờ không nghe thấy. “Mademoiselle” ông ta lại gọi. Cô tiếp viên đi đến.
“Ông muốn gì?”
“Rất nhiều. Tôi sẽ trả cô ba trăm frăng”.
“Ông là kẻ đáng nguyền rủa”.
“Ba trăm frăng Thụy Sĩ”.
Cô bỏ đi, ngài Wheeler nhìn theo cô. Một người phu khuân vác mở cửa. Anh ta là người trông hành lý cho ngài Wheeler.
“Tàu sắp đến, thưa ngài”. Anh ta nói bằng tiếng Pháp. Ngài Wheeler đứng lên.
“Mademoiselle” ông ta gọi. Cô tiếp viên đi về phía bàn. “Chỗ rượu này bao nhiêu đây?”
“Bảy frăng”.
Ngài Wheeler lấy tám frăng để lên bàn. Ông ta mặc áo khoác vào và theo sau người phu khuân vác ra sân ga, nơi tuyết đang rơi.
“Aurevoir Mademoiselle”, [3] ông ta nói. Cô tiếp viên nhìn ông ta đi. Ông ta quả là xấu xí, cô nghĩ, thật xấu xa và đáng ghét. Ba trăm frăng cho một việc như vậy là không đáng để làm. Đã bao nhiêu lần mình làm điều đó mà chẳng vì gì cả. Vả lại ở đây không có chỗ để làm việc đó. Nếu ông ta thông minh hơn một tí thì đã biết ở đây không có chỗ nào. Không có thời gian và không có chỗ để làm chuyện ấy. Người Mỹ là thế đấy.
Đứng trên sân ga đúc bằng xi-măng, bên cạnh những chiếc túi của mình, nhìn xuống đường ray theo hướng ánh đèn pha tàu hỏa quét xuyên qua tuyết, ngài Wheeler nghĩ rằng quả là quá rẻ khi giải trí như thế. Thật ra, ông ta chỉ tiêu phí, trừ tiền ăn tối, bảy frăng cho chai rượu và một frăng tiền buốc-boa. Bảy mươi lăm xu thì hẳn là tốt hơn. Bây giờ ông ta sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nếu như khoảng tiền buốc-boa chỉ hết bảy lăm xu. Một frăng Thụy Sĩ bằng năm frăng Pháp. Ngài Wheeler phải về Paris, ông ta là người rất cẩn thận về chuyện tiền nong và không quan tâm đến đàn bà.
Trước đấy, ông ta đã từng đến ga ấy và đã biết là không có cái gác nào để lên cả. Ngài Wheeler không bao giờ làm gì ngẫu nhiên.
Phần II
Ngài Johnson nói về điều đó ở Vevey
Bên trong quán cà phê trên sân ga, không khí ấm áp và sáng sủa; những chiếc bàn sáng bóng vì lau chùi; vài chiếc được trải khăn có sọc đỏ và trắng; những chiếc còn lại được trải khăn sọc xanh và trắng; bàn nào cũng có một cái rá đựng những bao bánh bích quy mặn bọc giấy bóng. Những chiếc ghế được chạm trổ, mặt ghế tuy cũ nhưng ngồi thì rất thoải mái. Một chiếc đồng hồ treo trên tường, một quầy rượu viền kẽm ở cuối phòng; bên ngoài cửa sổ, tuyết đang rơi. Hai người phu khuân vác của ga đang ngồi uống rượu vang mới cất ở chiếc bàn bên dưới đồng hồ.
Một người phu khác đi vào và nói rằng tàu tốc hành Simplon - Orient bị chậm một tiếng ở Saint Maurice. Một nữ tiếp viên đi đến bên bàn của ngài Johnson.
“Tàu tốc hành bị chậm một tiếng thưa ngài”, cô tiếp viên nói. “Tôi mang cà phê cho ngài nhé?”.
“Nếu điều đó không quá rắc rối”.
“Thưa?” cô tiếp viên hỏi.
“Tôi sẽ dùng một chút”.
“Cảm ơn”.
Cô mang cà phê từ trong bếp ra, ngài Johnson nhìn ra ngoải cửa sổ nơi tuyết đang rơi trong ánh sáng hắt ra từ phía sân ga.
“Cô nói được ngoại ngữ nào khác ngoài tiếng Anh không?”
“Ồ, có, tôi nói được tiếng Đức, tiếng Pháp, và vài thổ ngữ’.
“Tôi muốn mời cô uống một chút gì, được chứ?”
“Ồ, không, thưa ngài. Không được phép uống trong quán với khách ạ”.
“Thì một điếu xì gà vậy?”
“Ôi, không, thưa ngài”, cô cười to. “Tôi không hút thuốc, thưa ngài”.
“Tôi cũng không”, Johnson nói. “Đó là một thói quen xấu”.
Cô tiếp viên đi khỏi, Johnson châm một điếu thuốc và uống cà phê. Đồng hồ trên tường chỉ mười giờ kém mười lăm phút. Đồng hồ của ông ta hơi nhanh. Lẽ ra, tàu đã đến vào lúc mười giờ ba mươi - chậm một tiếng, nghĩa là mười một giờ ba mươi phút. Johnson gọi cô tiếp viên.
“Signorina” [4]
“Thưa, ngài cần gì ạ?”
“Cô không thích chơi với tôi à?” Johnson hỏi. Cô tiếp viên đỏ mặt.
“Không phải đâu, thưa ngài”.
“Tôi không liên quan đến những chuyện bạo lực đâu. Cô không thích đi dự một bữa tiệc và tìm hiểu cuộc sống ban đêm ở Vevey sao? Hãy mang một cô bạn gái đi cùng nếu cô muốn”.
“Tôi phải làm việc”, cô tiếp viên trả lời. “Tôi phải làm bổn phận của mình ở đấy”.
“Tôi biết”, Johnson nói. “Nhưng cô không thể đổi cho ai à? Người ta đã làm như thế trong thời Nội Chiến đấy”.
“Ồ, không, thưa ngài. Tôi phải làm công việc của mình ở đây”.
“Cô học tiếng Anh ở đâu vậy?”
“Ở trường Berlitz, thưa ngài”.
“Kể cho tôi nghe về ngôi trường đó đi”, Johnson nói. “Sinh viên Berlitz ngông cuồng lắm phải không? Thế còn những cái bá cổ và ôm hôn? Ở đó có nhiều người dịu dàng không. Đã bao giờ cô gặp Scott Fitzgerald chưa?”
“Gì cơ ạ?”.
“Ý tôi là thuở học ở trường Cao đẳng có phải là những ngày hạnh phúc nhất của đời cô? Mùa thu năm ngoái Berlitz đã lập được đội thể thao nào?”
“Ngài đang đùa đấy chứ, thưa ngài?”
“Chỉ một chút thôi”, Johnson nói. “Cô là một cô gái tốt lạ lùng. Nhưng cô không muốn chơi với tôi phải không?”
“Ồ, không phải thế đâu, thưa ngài”, cô tiếp viên trả lời. “Ngài có muốn tôi mang thêm một chút gì nữa không?”
“Phải đấy”, Johnson trả lời. “Cô có thể mang cho tôi cái ‘list’ rượu được không?”
“Vâng thưa ngài”.
Cầm cái “list” rượu, Johnson đi đến bên bàn nơi ba người phu đang ngồi. Họ ngẩng lên nhìn ông ta. Họ là những người đàn ông đứng tuổi.
“WollenSie Trinken?” [5] ông ta hỏi. Một trong ba người gật đầu
và mỉm cười.
“Oui monsieur” [6].
“Các ông nói được tiếng Pháp chứ?”
“Oui monsierur”.
“Chúng ta uống gì nhé? Connais vous des champagnes?” [7].
“Non monsieur” [8]
“Faultles connaître” [9] Johnson nói. “Fraulein”, ông ta gọi cô tiếp viên. “Chúng tôi cần rượu sâm banh”.
“Ngài thích loại sâm banh nào, thưa ngài?”
“Loại tốt nhất ấy”, Johnson đáp. “Laquélle est le best?” [10] ông ta hỏi mấy người phu khuân vác.
“Le meillieur?” [11] người phu - nói đầu tiên - hỏi.
“Tất nhiên”.
Người phu lấy từ trong túi áo khoác của anh ta ra cái kính, gọng mạ vàng đọc “list” rượu. Anh ta di ngón tay xuống bốn cái tên và giá rượu được đánh máy.
“Sportman” anh ta nói. “Loại Sportman là tốt nhất đấy”.
“Các ông đồng ý cả chứ, thưa quý ông?” Johnson hỏi mấy người phu khác. Một người gật đầu. Người kia nói bằng tiếng Pháp, “tôi không biết chất lượng của chúng nhưng tôi hay nghe nói về Sportman. Nó ngon đấy”.
“Cho một chai Sportman”, Johnson nói với cô tiếp viên. Ông ta nhìn vào bảng giá trên “list” rượu: mười một frăng Thụy Sĩ. “Thôi, cho cả ba chai sportman. Ông có phiền gì không nếu tôi ngồi vào đây với ông?” Ông ta hỏi người phu, người đã gợi ý chai sportman.
“Mời ngồi. Xin cứ tự nhiên”. Người phu mỉm cười với ông ta. Anh ta gập cái kính lại và để vào trong hộp của nó. “Có phải đây là dịp sinh nhật ông không?”
“Không”, Johnson trả lời. “Không phải lễ lạt gì đâu. Vợ tôi quyết định ly dị tôi”.
“Ra thế”, người phu nói. “Tôi hy vọng sẽ không”. Người phu khác lắc đầu. Người thứ ba dường như hơi bị điếc.
“Chuyện ấy thì phổ biến”, Johnson nói. “Như đi khám ở bác sĩ nha khoa ấy hay lần đầu tiên một cô gái có kinh nguyệt, nhưng tôi đã bối rối”.
“Điều đó cũng dễ hiểu thôi”, người phu già nhất nói. “Tôi hiểu chuyện ấy”.
“Không quý ông nào trong số các ngài bị ly dị, phải không?” Johnson hỏi. Ông ta ngừng làm hề với ngôn ngữ và nãy giờ đang nói bằng tiếng Pháp rất lưu loát.
“Không”, người phu đã gọi chai Sportman nói. “Ở đây người ta không ly dị nhiều đâu. Cũng có người ly dị nhưng không nhiều”.
“Với chúng ta”, Johnson nói, “lại là chuyện khác. Trong thực tế, tất cả mọi người đều ly dị”.
“Chắc thế”, người phu khẳng định. “Tôi đã đọc được điều đó ở trên báo”.
“Bản thân tôi thì có lẽ cũng hơi đần”, Johnson tiếp tục. “Đây là lần đầu tiên tôi ly dị. Tôi ba lăm tuổi”.
“Mais vous ête sencore jeune” [12], người phu nói. Anh ta giải thích cho hai người kia. “Monsieur n’a que trente-cing ans” [13]. Hai người phu kia gật đầu.
“Ông ta còn rất trẻ”, một người nói.
“Và thật sự đây là lần đầu tiên ông ly dị chứ?” người phu hỏi.
“Thật sự”, Johnson trả lời. “Hãy mở rượu đi, mademoiselle”.
“Và nó rất đắt?”
“Mười ngàn frăng”
‘Tiền Thụy Sĩ?”
“Không tiền Pháp”.
“Ôi, vâng. Hai ngàn frăng Thụy Sĩ. Tất cả trị giá ngang nhau, chỗ đó không phải là rẻ”.
“Phải”.
“Nhưng tại sao người ta lại làm thế?”
“Một người đề nghị”.
“Nhưng tại sao người ta lại đề nghị như vậy?”
“Để cưới một người khác”.
“Nhưng như vậy là ngu ngốc”.
“Tôi đồng ý với ông”, Johnson nói. Cô tiếp viên rót đầy rượu vào bốn chiếc ly. Tất cả cùng nâng cốc.
“Chúc sức khỏe”, Johnson nói.
“A votre santé monsieur”, [14] người phu nói. Hai người phu kia nói “Salut” [15]. Rượu sâm banh có vị như loại rượu táo ngọt, màu hồng.
“Có phải người Thụy Sĩ có thói quen phản xạ bằng một ngôn ngữ khác khi giao tiếp không?” Johnson hỏi.
“Không”, người phu nói. “Tiếng Pháp được xem là có văn hóa hơn. Ngoài ra, còn có thêm một lý do nữa là Suisse Romande” [16].
“Nhưng ông nói được cả tiếng Đức nữa cơ mà?
“Vâng. Tôi đến đây từ vùng nói tiếng Đức”.
“Tôi hiểu”, Johnson nói. “Và ông nói là ông chưa bao giờ ly dị?”
“Chưa. Nó quá đắt. Hơn nữa, tôi cũng chưa hề lấy vợ”.
“À!” Johnson nói. “Thế còn những quý ông khác?”.
“Họ đã lập gia đình”.
“Ông có thích hôn nhân không?” Johnson hỏi một trong những người phu.
“Cái gì?”
“Ông có thích cuộc sống gia đình không?”
“Oui. Cest normale” [17].
“Chính xác”, Johnson nói. “Et vous, monsieur?” [18].
“Cava” [19] một người phu khác trả lời.
“Pour moi” [20] Johnson nói. “Ca ne va pas” [21].
“Ông ấy sắp ly dị”, người phu đầu tiên giải thích.
“Ồ”, người phu thứ hai nói.
“À ha!” người phu thứ ba nói.
“Này”, Johnson nói, “chủ đề này có vẻ hết hấp dẫn rồi. Ông không quan tâm tới việc rắc rối của tôi”, ông ta nói với người phu đầu tiên.
“Vâng, đúng đấy”, người phu nói.
“Vậy thì hãy nói về chuyện khác đi”.
“Nếu ông muốn”.
“Chúng ta có thể nói về cái gì nhỉ?”
“Ông chơi thể thao à?”
“Không”, Johnson nói. “Nhưng vợ tôi chơi”.
“Thế ông giải trí bằng cách nào?”
“Tôi là nhà văn”.
“Viết có được nhiều tiền không?”
“Không. Nhưng khi người ta nổi tiếng thì tiền sẽ đến”.
“Thú vị thật”.
“Không”, Johnson nói. “Không thú vị đâu. Tôi xin lỗi, thưa quý ngài, nhưng tôi phải đi đây. Xin các ông vui lòng uống nốt chai rượu kia đi nhé?”
“Nhưng tàu sẽ chưa đến trong vòng bốn lăm phút nữa cơ mà”.
“Tôi biết”, Johnson nói. Cô tiếp viên đi vào, ông ta trả tiền rượu và bữa tối của mình.
“Ngài đi sao, thưa ngài?” cô hỏi.
“Ừ”, Johnson trả lời. “Tôi đi dạo một chút. Tôi sẽ để lại túi xách ở đây”. Ông ta quàng khăn, mặc áo khoác và đội mũ vào. Bên ngoài, tuyết rơi nhanh nhiều hơn. Ông nhìn qua cửa sổ vào nơi ba người phu đang ngồi bên bàn. Cô tiếp viên đang rót chai rượu cuối cùng được mở nắp vào đầy mấy chiếc ly của họ. Cô mang cái chai chưa mở nắp quay lại quầy. Như vậy có nghĩa là mỗi người sẽ kiếm được ba frăng từ chỗ rượu đó, Johnson nghĩ. Ông ta quay lại và đi xuống sân ga. Lúc ở trong quán cà phê ông đã nghĩ rằng nói chuyện đó ra thì nó sẽ làm ông nguôi ngoai; nhưng thay vì nguôi ngoai, nó chỉ làm ông buồn nôn.
Phần III
Con trai của đồng chí hội viên ở Territet
Bên trong quán cà phê trên sân ga ở Territet, không khí thật ấm áp; ánh điện sáng, mặt bàn ánh lên vì được đánh bóng. Trên bàn, người ta bày những rá bánh bích quy mặn được bọc trong giấy bóng và những tấm đệm bằng các tông dùng lót dưới những cốc bia để những chiếc cốc ướt đó sẽ không in dấu lên mặt bàn gỗ. Mấy chiếc ghế được chạm trổ, mặt ghế tuy đã mòn vẹt nhưng ngồi thì thoải mái. Một chiếc đồng hồ treo tường, một quầy rượu ở cuối phòng và bên ngoài cửa sổ tuyết đang rơi. Một ông già đang uống cà phê ở chiếc bàn bên dưới đồng hồ và đọc báo buổi tối. Một người phu khuân vác đi vào và nói rằng tàu tốc hành Simplon-Orient bị chậm một tiếng ở Saint Maurice. Cô tiếp viên đến bên bàn ngài Harris. Ngài Harris vừa ăn xong bữa tối.
“Tàu tốc hành bị chậm một tiếng, thưa ngài. Tôi mang cho ngài một chút cà phê nhé?”
“Nếu cô muốn”.
“Thưa?” cô tiếp viên hỏi.
“Được”, ngài Harris nói.
“Cảm ơn ngài”, cô tiếp viên nói.
Cô mang cà phê từ trong bếp ra, ngài Harris bỏ đường vào, nghiền mấy miếng đường bằng thìa và nhìn tuyết rơi ngoài cửa sổ trong ánh sáng hắt ra từ phía sân ga.
“Cô có nói được thứ ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Anh không?” Ông ta hỏi cô tiếp viên.
“Ồ, có, thưa ngài. Tôi nói được tiếng Đức, tiếng Pháp và vài thổ ngữ”.
“Cô thích nói thứ tiếng nào nhất?”
“Tôi thích tất cả nhiều như nhau, thưa ngài. Tôi không thể nói tôi thích ngôn ngữ này hơn ngôn ngữ kia”.
“Cô muốn uống một chút gì hoặc cà phê không?”
“Ồ, không, thưa ngài. Không được phép uống trong quán cà phê với khách ạ”.
“Cô không hút xì gà à?”
“Thưa ngài, không”, cô cười to. “Tôi không hút thuốc”.
“Tôi cũng không”, Harris nói. “Tôi không đồng ý với David Belasco”.
“Thưa?”
“Belasco. David Balesco. Cô có thể dễ dàng bắt chuyện với anh ta bởi vì anh ta là kiểu người luôn dỏng tai lên hóng chuyện. Nhưng tôi không đồng ý với anh ta. Sau đó cũng vậy, nhưng bây giờ thì anh ta đã chết”.
“Ngài sẽ bỏ qua cho tôi chứ, thưa ngài?”
“Chắc chắn rồi”, Harris nói. Ông ta ngồi cúi về phía trước ghế và nhìn ra ngoài cửa sổ. Phía bên kia căn phòng. Ông lão gấp tờ báo lại. Lão nhìn ngài Harris rồi cầm đĩa và tách cà phê của mình, đi đến bên bàn ngài Harris.
“Xin anh thứ lỗi nếu như tôi có gì không phải”, lão nói bằng tiến Anh. “Nhưng tôi chợt nảy ra ý nghĩ hẳn anh là thành viên của Hội Địa Lý Quốc Gia”.
“Mời ông ngồi”, Harris nói. Ông lão ngồi xuống.
“Ông dùng một ly cà phê khác hay rượu mùi nhé?”
“Cám ơn”, lão nói.
“Ông có vui lòng uống một chút rượu anh đào với tôi không?”
“Có thể. Nhưng anh phải uống với tôi”.
“Không. Tôi uống đủ rồi”. Harris gọi cô tiếp viên, ông lão móc trong túi áo khoác của mình ra một chiếc sổ bỏ túi bìa da. Lão tháo sợi dây cao su, lấy ra vài tờ giấy, chọn một tờ đưa cho Harris.
“Đây là giấy chứng nhận hội viên của tôi”, lão nói. “Anh có biết Frederic J. Roussel ở Mỹ không?”
“Tôi e là mình không biết”.
“Tôi biết ông ấy là người rất nổi tiếng”.
“Ông ấy ở đâu vậy? Ông có biết cái phần đất ấy của nước Mỹ không?”
“Ở Washington, tất nhiên. Trụ sở của Hội không phải đóng ở đấy à”.
“Tôi nghĩ là ở đó”.
“Anh nghĩ như vậy. Anh có chắc không?”
“Tôi đã đi xa khá lâu”, Harris nói.
“Vậy thì anh không phải là thành viên của Hội à?”
“Không. Nhưng cha tôi là thành viên. Ông ấy đã từng là thành viên lâu năm”.
“Vậy thì ông nhà chắc biết Frederick J. Roussel. Ông ta là một trong những quan chức của hội. Ông sẽ nhận thấy điều đó bởi vì nhờ ngài Roussel mà tôi được bầu làm hội viên”.
“Tôi hết sức vui mừng”.
“Tôi thấy làm tiếc vì anh không là hội viên. Nhưng anh có thể giành được sự bổ nhiệm thông qua cha anh?”
“Tôi cũng nghĩ như thế”, Harris nói. “Tôi phải vào hội khi quay trở lại”.
“Tôi khuyên anh nên làm thế”, ông lão nói. “Chắc anh thường xem tạp chí chứ?”
“Chắc chắn rồi”.
“Anh đã thấy số liệu với những bảng màu của hệ động vật Bắc Mỹ chưa?”
“Có. Tôi đã thấy ở Paris”.
“Và cả số liệu toàn cảnh núi lửa ở Alaska”.
“Đó là một kỳ quan đấy”.
“Tôi rất thích, ngoài ra, còn những bức ảnh động vật hoang dã của George Shiras III”.
“Chúng đẹp tuyệt”.
“Xin anh vui lòng nói lại?”
“Chúng thật xuất sắc. Cái gã Shiras đó...”
“Anh gọi anh ta là gã à?”
“Chúng tôi đã từng chơi với nhau”, Harris nói.
“Tôi hiểu. Anh biết George Shiras III. Anh ta hẳn là rất thú vị”.
“Anh ta thú vị lắm. Anh ta gần như là người đàn ông thú vị nhất mà tôi biết”.
“Chắc anh biết cả George Shiras II. Anh ta cũng thú vị phải không?”
“Ồ, anh ta không thú vị lắm đâu”.
“Tôi hình dung anh ta hay lắm đấy”.
“Tôi biết, điều đó thật buồn cười. Anh ta không hay lắm đâu. Tôi thường xuyên lấy làm lạ là tại sao...?”
“Hừm”, ông lão nói. “Tôi nghĩ bất kỳ người nào trong gia đình ấy cũng thú vị”.
“Ông có nhớ bức toàn cảnh của sa mạc Sahara không?” Harris hỏi.
“Sa mạc Sahara à? Đã gần mười lăm năm rồi”.
“Đúng đấy. Đó là một trong những bức tranh ưa thích của cha tôi”.
“Ông nhà không thích những bức mới hơn phải không?”
“Có lẽ cha tôi không thích. Nhưng ông ấy rất thích bức toàn cảnh Sahara”.
“Nó thật tuyệt vời. Nhưng đối với tôi giá trị nghệ thuật của nó còn lâu mới sánh kịp lợi ích của khoa học mà nó mang lại”.
“Tôi không biết”, Harris nói. “Gió cuốn tung tất cả cát và người Arab với chú lạc đà của ông ta đang khuỵu gối hướng về Mecca”.
“Nếu tôi nhớ không nhầm thì người Arab ấy đang đứng giữa chú lạc đà”.
“Ông hoàn toàn đúng”, Harris nói. “Tôi đang nghĩ về quyển sách của đại tá Lawrence”.
“Sách của Lawrence thì có liên quan đến dân Arab, tôi chắc thế”.
“Đúng vậy”, Harris nói. “Cái người Arab ấy đã khiến tôi nhớ nhầm bức tranh. Tay ấy hẳn là một anh chàng rất thú vị”.
“Tôi nghĩ hắn là vậy đấy”.
“Anh có biết bây giờ hắn làm gì không?”
“Bây giờ hắn ở Không Lực Hoàng Gia”.
“Tại sao hắn lại làm ở đấy!”
“Hắn thích”.
“Anh có biết hắn có phải là thành viên của Hội Địa Lý Quốc Gia hay không?”
“Tôi đang phân vân không biết hắn có phải là thành viên hay không?”
“Hắn chắc sẽ trở thành một hội viên rất tốt. Hắn là kiểu người mà họ muốn kết nạp làm hội viên. Tôi sẽ rất vui mừng được giới thiệu hắn nếu anh nghĩ họ sẽ thích hắn”.
“Tôi nghĩ họ sẽ thích đấy”.
“Tôi đã giới thiệu một nhà khoa học từ Vevey và một đồng nghiệp của tôi ở Lauzanne và cả hai đều đã được bầu. Tôi tin rằng họ sẽ hài lòng nếu tôi giới thiệu đại tá Lawrence”.
“Đó là một ý kiến tuyệt vời”, Harris nói. “Ông thường xuyên đến quán cà phê này phải không?”
“Tôi đến đây để uống cà phê sau khi ăn tối”.
“Ông công tác ở trường đại học à?”
“Tôi đã về hưu”.
“Tôi thì đợi tàu”, Harris nói. “Tôi sẽ lên Paris rồi đi thuyền từ Havre về Mỹ”.
“Tôi chưa bao giờ đến Mỹ cả. Nhưng tôi rất thích đi đến đó. Có lẽ tôi sẽ tham dự một buổi họp của hội vào lúc nào đó. Tôi sẽ rất vui mừng nếu được gặp cha anh”.
“Tôi chắc cha tôi cũng sẽ thích gặp ông đấy nhưng cha tôi đã mất vào năm ngoái. Tự sát, lạ thật”.
“Tôi thật sự xin lỗi. Tôi chắc rằng ông nhà mất đi là cả một sự mất mát lớn cho khoa học cũng như cho gia đình”.
“Khoa học thì bị mất nhiều hơn”.
“Đây là danh thiếp của tôi”, Harris nói. “Tên viết tắt của cha tôi là E. J chứ không phải là E. D. Tôi biết ông ấy hẳn sẽ vui mừng khi gặp ông đấy”.
“Cuộc tương kiến ấy hẳn sẽ vô cùng thú vị”. Người đàn ông lấy một tấm danh thiếp từ quyển sổ bỏ túi ra đưa cho Harris. Đọc là:
DR. Sigismond Wyer,
Ph. D Thành viên của Hội Địa lý Quốc gia Washington,
D C, U.S.A.
“Tôi sẽ giữ nó cẩn thận”, Harris nói.
Đào Thu Hằng dịch
Chú thích:
[1] Tiếng Đức: Cô.
[2] Tiếng Pháp: Cô.
[3] Tiếng Pháp: “tạm biệt cô”
[4] Tiếng Tây Ban Nha: Cô.
[5] Tiếng Đức: Các ông có muốn uống rượu không?
[6] Tiếng Pháp: Vâng thưa ngài.
[7] Các ông có thạo sâm banh không?
[8] Không, thưa ngài.
[9] Tôi không sành lắm.
[10] Loại nào là tốt nhất?
[11] Loại tốt nhất ư?
[12] Nhưng ông vẫn còn trẻ.
[13] Ông ta chỉ ba mươi lăm tuổi.
[14] Tiếng Pháp: Chúc sức khỏe ngài.
[15] Xin mời.
[16] Miền Thụy Sĩ nói tiếng Pháp.
[17] Vâng, chuyện thường tình ấy mà.
[18] Còn ngài thì sao?
[19] Cũng vậy.
[20] Với tôi.
[21] Điều ấy không xảy ra.