Cuộc tấn công đã tràn qua cánh đồng, bị chặn bởi làn đạn súng máy từ con đường trũng và mấy ngôi nhà trên cánh đồng, không gặp sự kháng cự trong thị trấn rồi vươn đến bờ sông. Đạp xe đi dọc con đường, thỉnh thoảng phải xuống đẩy bởi nhiều đoạn bị hỏng nặng, Nicholas Adams hiểu chuyện gì đã xảy ra qua vị trí của những người chết.
Họ nằm một mình hoặc chụm lại trong vạt cỏ dại hay dọc theo con đường, túi bị lộn ra ngoài, ruồi bâu dày đặc và; xung quanh mỗi cái xác hoặc đống xác, là cả mớ giấy tờ vương vãi.
Trong vạt cỏ và trên cánh đồng, bên cạnh đường và nhiều nơi trên đường, ngổn ngang các vật dụng: một nhà bếp dã chiến hẳn được đưa đến đây lúc tình hình còn đang yên ổn, rất nhiều túi dết tết bằng da; bom nổ chậm, mũ sắt, súng trường, thỉnh thoảng một cái báng súng nhô lên, lưỡi lê cắm trong lớp đất bụi, rốt cuộc thì chúng đã chui vào lòng đất, bom nổ chậm, mũ sắt, súng trường, xẻng đào hầm, thùng đạn, súng lục star-shell - vỏ đạn vương vãi xung quanh - dụng cụ cứu thương mặt nạ, phòng hơi độc, thùng đựng mặt nạ trống rỗng, một khẩu súng máy chồm chỗm ba chân trên đống vỏ đạn, những thắt lưng đầy đạn thòi ra trong đống thùng, can chứa nước mát hết nhẵn, lăn lông lốc, cả đống khóa nòng vứt lung tung, xác người chết trong tư thế kỳ quặc và quanh họ, trên cỏ, có nhiều loại giấy má đặc biệt hơn.
Có vô khối sách kinh, đám bưu ảnh chụp một đơn vị súng máy, đứng trong hàng vui vẻ như tấm hình đội bóng của một ấn phẩm báo ở trường cao đang, mà giờ chúng đang trương phình lên trong cỏ, những tấm bưu ảnh tuyên truyền in hình một quân nhân trong bộ quân phục Áo đang chồm lên người đàn bà bị đè ngửa ra trên giường; cảnh ấy được vẽ đầy ấn tượng, được miêu tả cực kỳ hấp dẫn với tư thế chẳng gì khác hơn là một vụ cưỡng hiếp trong đó váy người đàn bà bị kéo ngược trùm lên đầu, thỉnh thoảng là cảnh một gã ngồi lên đầu ấy. Rõ ràng, rất nhiều bưu ảnh kích dục này được phát ra chỉ ngay trước cuộc tấn công. Bây giờ chúng đang trộn lẫn giữa những bức ảnh con heo, tấm bưu thiếp tục tĩu với những bức ảnh nhỏ nhắn của các cô gái quê được chụp bởi các phó nháy miệt vườn, vài tấm hình trẻ con và những bức thư, thư, thư. Sẽ luôn có nhiều giấy tờ quanh các xác chết và những đống gạch ngói đổ nát, cuộc tấn công này không ngoại lệ.
Đấy là những cái xác mới và người ta chẳng quan tâm tới bất kỳ thứ gì ngoài túi của chúng. Xác của quân ta, hoặc giả anh nghĩ khác đi thì vẫn cứ là xác quân ta, Nick chú ý, là rất ít. Áo khoác của họ cũng bị lột ra, túi họ cũng bị lộn ra và tư thế nằm chết của họ cho thấy cách thức và kỹ xảo của cuộc tấn công. Thời tiết nóng đã làm tất thảy bọn họ trương phình lên bất chấp cả quốc tịch.
Rốt cuộc thì vài bằng chứng cho thấy thị trấn đã phòng thủ suốt tuyến dọc theo con đường trũng nhưng rất hiếm hay không có người Áo nào chết trong tư thế nằm ngửa trên con đường. Chỉ có ba xác chết trên đường và chúng bị bắn hạ lúc đang chạy. Nhà cửa của thị trấn bị bom đạn tàn phá, đường phố ngổn ngang các đống vôi vữa, gạch vụn, nhiều cây xà nhà gãy, mái ngói vỡ, và cơ man nào là hố, vài chiếc quanh miệng hãy còn vàng quạch bởi hơi thuốc súng. Có nhiều mảnh đạn, bom trộn lẫn trong đống hoang tàn.
Dẫu sao thì Nick Adams cũng chẳng thấy bóng người kể từ lúc anh rời Fornaci đạp xe trên con đường xuyên qua miền quê rợp bóng lá, nhờ những đợt sóng nhiệt tỏa ra trong không gian bên trên tán lá lúc mặt trời rọi vào khối kim loại, anh phát hiện ra mấy khẩu súng dưới tán dâu tây phía bên trái đường. Bây giờ, anh đi xuyên qua thị trấn, lòng ngạc nhiên vì thấy nó hoang vắng rồi rời xa trên con đường thấp dưới bờ sông. Bên ngoài thị trấn, không gian mở ra trụi trần nơi con đường đổ dốc, anh có thể thấy dòng sông êm đềm chảy, thấy đoạn lượn thấp của bờ bên kia và cả dải bùn được mặt trời hong khô, trắng xóa nơi người Áo đào công sự. Cả vùng ấy trù phú, xanh tươi lúc anh nhìn thấy nó lần cuối và; trải qua bao thăng trầm lịch sử, cái vùng đất thấp phía bờ sông ấy vẫn chưa hề bị thay đổi.
Tiểu đoàn án ngự dọc bờ bên trái. Có cả dãy hầm trú ẩn trên đỉnh bờ sông với vài quân nhân phòng thủ. Nick quan sát vị trí đặt súng máy và dàn pháo hiệu trên bệ phóng. Binh sĩ trong những hầm trú ẩn trên bờ sông đang ngủ. Chẳng anh nào muốn gây hấn. Anh tiếp tục đi và lúc vừa vòng qua khúc cua trên bờ sông đầy bùn thì một thiếu úy trẻ có bộ râu bù xù và đôi mắt đỏ ngầu, thâm quầng, chĩa súng lục vào anh.
“Mày là ai?”
Nick bảo anh ta:
“Tôi biết trả lời sao nhỉ?”
Nick đưa anh ta xem giấy giới thiệu dán ảnh có con dấu của quân đoàn ba và chứng minh thư. Anh ta cầm lấy.
“Tôi sẽ giữ cái này”.
“Anh không được giữ”, Nick nói. “Hãy đưa trả tôi chứng minh thư và cất súng di. Nào. Hãy đút nó vào bao”.
“Làm sao tôi biết được anh là ai?”
“Anh đã xem giấy giới thiệu”.
“Ngộ nhỡ giấy giả thì sao? Đưa tôi chứng minh thư ấy”.
“Đừng có ngốc”, Nick vui vẻ nói. “Đưa tôi đến gặp chỉ huy đại đội của anh đi”.
“Tôi sẽ đưa anh đến sở chỉ huy tiểu đoàn”.
“Cũng được”, Nick nói. “Xin hỏi, anh có biết đại úy Paravicini không? Người ấy cao, có bộ ria mảnh, trước đây là kiến trúc sư và nói tiếng Anh?”
“Anh quen ông ấy hả?”
“Sơ sơ”.
“Ông ấy chỉ huy đại đội mấy?”
“Đại đội hai”.
“Ông ấy đang chỉ huy tiểu đoàn”.
“Tốt”, Nick nói. Anh mừng khi biết Para vẫn bình yên. “Chúng ta đến tiểu đoàn đi”.
Ngay khi Nick vừa ra khỏi thị trấn, ba quả đạn bắn lên cao, rồi vòng qua bên phải của một trong những ngôi nhà đổ; từ lúc đó không còn tiếng súng nào nữa. Nhưng vẻ mặt của tay sĩ quan này trông như thể mặt của kẻ đang hứng chịu trận mưa bom. Do có cùng độ căng thẳng nên giọng nói nghe mất tự nhiên. Khẩu súng của anh ta khiến Nick đâm ngại.
“Cất nó đi”, anh nói. “Còn có cả con sông giữa bọn nó và anh kìa mà”.
“Nếu anh là gián điệp thì tôi sẽ bắn chết anh ngay bây giờ”, viên thiếu úy nói.
“Bình tĩnh nào”, Nick nói, “Chúng ta hãy lên tiểu đoàn”. Tay sĩ quan ấy làm anh quá đỗi lo ngại.
Đại úy Paravicini đã được phong thiếu tá, gầy và cao trông ra đáng người Anh hơn bao giờ hết, đứng bật dậy từ sau bàn làm việc trong hầm trú ẩn của sở chỉ huy tiểu đoàn lúc Nick chào.
“Xin chào”, ông nói. “Mình không nhận ra cậu. Cậu đang làm gì trong bộ quân phục này vậy?”
“Họ đút mình vào nó”.
“Mình rất mừng khi gặp lại cậu, Nicolo”.
“Hẳn rồi. Trông cậu khỏe đấy. Chiến sự thế nào?”
“Tụi mình đã đánh một trận ra hồn. Thật đấy. Một cuộc tấn công tuyệt vời. Mình sẽ cho cậu xem. Nhìn này”.
Ông ta chỉ lên bản đồ cuộc tấn công đã diễn ra như thế nào.
“Mình đi từ Fomaci”, Nick nói. “Mình có thể hiểu diễn biến của trận đánh. Một cuộc tấn công rất hoàn hảo”.
“Nó thật ngoạn mục. Cực kỳ ngoạn mục. Cậu đang đi tới trung đoàn đó à?”
“Không. Mình được lệnh đi lòng vòng để cho mọi người thấy bộ quân phục này”.
“Kỳ nhỉ”.
“Nếu họ thấy một bộ quân phục Mỹ thì điều ấy có nghĩa họ sẽ tin rằng nhiều người Mỹ khác đang đến”.
“Nhưng làm sao họ biết được đấy là quân phục Mỹ?”
“Cậu sẽ bảo họ”.
“Ồ. Được, mình hiểu. Mình sẽ phái một hạ sĩ dẫn đường để cậu đi một vòng lên tuyến trước”.
“Như thể một chính khách chánh hiệu”, Nick nói.
“Trông cậu quá lạ trong bộ đồ dân sự. Nó làm cho con người thực sự đổi khác”.
“Thêm một cái mũ phớt”.
“Hoặc một cái mũ phớt lông thú thứ thiệt”.
“Mình có nhiệm vụ đút thuốc lá, bưu thiếp và những thứ đại loại như thế đầy túi”, Nick nói. “Mình nên mang theo một túi đầy chocolate. Những thứ ấy khi phân phát sẽ được kèm theo mớ từ ngữ ngọt ngào và một cái vỗ nhẹ vào lưng. Nhưng chẳng có một điếu thuốc, một tấm bưu thiếp hay một thỏi chocolate nào cả. Thế là họ bảo dẫu sao thì cũng cứ lăng xăng vài vòng”.
“Mình tin chắc sự xuất hiện của cậu sẽ làm cả đoàn quân tăng thêm lòng dũng cảm”.
“Giá mà cậu đừng tin”, Nick nói. “Mình cảm thấy chuyện này đã quá đủ tồi tệ. Về nguyên tắc, hẳn mình phải mang cho cậu một chai rượu mạnh”.
“Về nguyên tắc”, Para nói và mỉm cười, lần đầu tiên ông để lộ hàm răng màu vàng. “Lối diễn đạt hay thật. Cậu có thích dùng một ít Grappa không?”
“Không, cám ơn cậu”, Nick đáp.
“Nó chẳng có một tí ête”.
“Mình vẫn có thể cảm nhận được vị ấy”, đột nhiên Nick nhớ rõ mồn một.
“Cậu biết mình không hề biết cậu say cho đến lúc tự cậu kể ra trên chuyến xe quay về ấy”.
“Mỗi đợt tấn công đều làm mình kinh hãi”, Nick nói.
“Mình không thể chịu đựng nổi nó”, Para nói. “Ngay dấu hiệu đầu tiên của trận đánh mình cảm nhận được nỗi sợ hãi, đúng ngay dấu hiệu đầu tiên, và nó đã khiến mình thấy hoang mang rồi sau đó thì mình thèm uống dữ dội”.
“Cậu không cần rượu”.
“Lúc lâm trận cậu can đảm hơn mình nhiều”.
“Không đâu”, Nick nói. “Mình hiểu bản thân mình nên thích biểu lộ nỗi kinh hoàng. Mình không xấu hổ về chuyện đó”.
“Mình chẳng bao giờ thấy cậu say cả”.
“Không say ư?” Nick nói. “Chẳng bao giờ à? Thì đã chẳng phải là tối hôm ấy lúc hai đứa đạp xe từ Mestre đến Portogrande, mình buồn ngủ bèn lấy chiếc xe đạp thế cho cái mền kéo lên đắp tận cằm đó sao?”
“Lần ấy không phải ở chiến tuyến”.
“Chúng ta hãy đừng nói về lòng can đảm của mình nữa”, Nick nói. “Đấy là vấn đề mà mình đã quá hiểu để chẳng cần phải suy nghĩ thêm”.
“Cậu nên ở lại đây thêm lát nữa”, Paravicini nói. “Cậu có thể chợp mắt một lát nếu buồn ngủ. Bọn chúng, trong trận oanh tạc vừa rồi, cũng chẳng làm căn hầm này suy suyển bao nhiêu. Vả lại bây giờ hãy còn quá nóng để ra ngoài”.
“Mình nghĩ chẳng cần vội làm gì”.
“Thực ra sức khỏe cậu thế nào?”
“Mình khỏe. Mình hoàn toàn khỏe mạnh”.
“Không. Ý mình muốn nói thực tế cơ”.
“Mình bình thường. Chỉ có điều mình chẳng thể ngủ được nếu không có bất kỳ loại ánh sáng nào. Đấy, bây giờ mình ra nông nỗi vậy đấy”.
“Mình nghĩ triệu chứng ấy hắn là do ám ảnh. Mình không phải là bác sĩ nhưng mình hiểu điều ấy”.
“Ừ các bác sĩ bảo tốt hơn hết là cứ để nó giảm dần. Tình trạng sức khỏe của mình là vậy. Chuyện gì nhỉ? Mình không lẩn thẩn chứ, có phải không?”
“Dường như cậu đang tràn trề sinh lực”.
“Sẽ là cả địa ngục ưu phiền nếu một lần người ta trao cho bạn tờ xác nhận bạn là kẻ tâm thần”, Nick nói, “thì chẳng một ai dám đặt chút niềm tin nào vào bạn nữa đâu”.
“Mình xin phép nghỉ một tí đây, Nicolo”, Paravicini nói. “Như bọn mình đã biết, đây đâu phải là sở chỉ huy tiểu đoàn. Bọn mình chỉ đang đợi để bị lôi ra ngoài. Cậu đừng nên ra ngoài trong cái nóng này. Thật là ngốc đấy. Nằm lên giường kia kìa”.
“Mình có thể nằm một lát”, Nick nói.
Nick nằm lên giường. Anh rất thất vọng bởi những điều mình cảm nhận được, thậm chí rõ ràng càng thất vọng rõ hơn với đại úy Parvicini. Căn hầm này không lớn bằng căn hầm nơi trung đội của nhóm tốt nghiệp 1899, do mới ra trận lần đầu nên đã bị khủng hoảng tinh thần bởi đợt oanh tạc trước cuộc tấn công và Para bảo anh đưa hai đứa ra ngoài để cho chúng thấy sẽ chẳng có điều gì xảy ra, anh buộc chặt sợi dây vải qua miệng để giữ đôi môi im lặng. Biết chúng sẽ không giữ được khi nghe tiếng bom. Biết việc ấy cực kỳ tàn nhẫn.
- Nếu hắn vẫn cứ gào, hãy đánh dập mũi hắn để hắn có chuyện mà suy nghĩ. Mình suýt bắn một đứa song bây giờ đã quá muộn. Tất cả bọn chúng quá tệ. Hãy đánh dập mũi hắn. Bọn chúng đang oanh tạc trở lại đến năm giờ hai mươi. Chúng ta chỉ còn bốn phút nữa. Hãy đánh dập mũi cái đồ chó chết đần độn kia và tống cái thân lừa ngu ngốc đó ra khỏi đây. Cậu có nghĩ là chúng sẽ vượt qua được chứ? Nếu chúng không thể thì cứ bắn chết cả hai và bằng cách nào đó hãy tống khứ hết những thằng khác đi. Trung sĩ, hãy đi sau chúng. Đi trước chẳng có lợi gì bởi sẽ chẳng hay chuyện xảy ra sau lưng mình đâu.
Khi đi, buộc chúng đưa tay lên trời. Thực ác độc. Thôi đuợc. Thôi được rồi. Này, nhìn đồng hồ kìa, nghe âm thanh lặng lẽ ấy, âm thanh lặng lẽ có giá trị ấy “Savoia”. Làm nó dịu đi, chẳng còn thời gian để làm chuyện đó, anh không thể tìm thấy đồng hồ của mình sau khi hầm sập, một dạo toàn bộ chấm dứt trong vụ sập hầm; hóa ra là nó làm họ sợ, và làm dịu nỗi hoang mang trên con dốc mà lần duy nhất anh không mượn hơi men. Rồi sau đó họ quay lại căn nhà truyền tin bị cháy trụi, hình như sau đó bốn ngày có mấy thương binh đi xuống rồi không xuống nữa nhưng bọn mình đi lên rồi bọn mình đi xuống và bọn mình đi xuống - bọn mày luôn luôn đi xuống. Rồi còn có cả chú nhóc Gaby Delys, thực ngộ nghĩnh khi đội mũ lông; anh gọi em là nhóc búp bê một năm trước tadada, anh báo em khá xinh khi đội mũ tadada và cả khi bỏ mũ, Gaby cao to và Harry Pilcer cũng chính là tên em, bọn mày thường ra khỏi taxi bằng cửa sau khi nó trườn lên sườn dồi dốc rồi mỗi tối mày có thể thấy ngọn đồi ấy khi mày mơ về Sacré Coeur, bị nổ tung trắng xóa, tựa bong bóng xà phòng. Thỉnh thoảng bạn gái anh ở đó và thỉnh thoảng nàng đến với người khác mà anh chẳng thể cắt nghĩa được, nhưng ấy là đêm tối dòng sông chảy tràn bờ và lặng lẽ hơn bao giờ và bên ngoài Fossalta có một ngôi nhà thấp sơn vàng có rặng liễu bao uanh có cái chuồng ngựa thấp và cả một con kênh, anh đến đó cả ngàn lần nhưng chẳng hề thấy nó, nhưng ở đó những buổi tối mênh mông như ngọn đồi, chỉ làm anh hoảng sợ. Ngôi nhà ấy có ý nghĩa hơn bất kỳ thứ gì và hằng đêm anh có nó. Đấy là điều anh cần nhưng nó làm anh sợ đặc biệt khi con thuyền nằm đấy lặng im trong đám liễu trên bờ kênh và đôi bờ không giống dòng sông này. Mọi thứ ở nơi này thấp hơn khi so với mọi thứ ở Portogrande, nơi họ gặp chúng đang lội trong bùn băng qua vùng đất ngập lụt nâng cao súng cho đến khi chìm nghỉm cùng chúng trong nước. Ai đã ra lệnh ấy nhỉ? Nếu nó đừng chồng chéo nhau một cách thảm hại như thế thì anh hẳn đã thực hiện tốt rồi. Điều đó là lý do anh chú ý đến mọi việc đến từng chi tiết để nhớ chúng rành rành đến thế anh có thể biết ngay mình đang ở đâu, nhưng bất thình lình mọi chuyện lẫn lộn lung tung mà chẳng có lý do nào như bây giờ, anh đang nằm trên giường tại sở chỉ huy tiểu đoàn, cùng Para đang chỉ huy tiểu đoàn và anh trong bộ quân phục sặc mùi Mỹ. Anh ngồi dậy nhìn quanh; mọi người nhìn anh. Para đã ra ngoài. Anh lại nằm xuống.
Một góc Paris đến sớm hơn cả và anh chẳng sợ gì nó ngoại trừ lúc nàng đi với một gã khác và sợ rằng họ lại gọi tay tài xế lần nữa. Đấy là những gì để lo sợ về nơi ấy. Chẳng hề về chiến tuyến. Bây giờ anh không mơ về chiến tuyến tí nào nữa nhưng hình ảnh làm anh kinh hãi đến độ mà anh chẳng thể nào giũ bỏ được là ngôi nhà dài màu vàng và bề rộng khác thường của dòng sông. Giờ thì anh trở lại ngay đó bên cạnh dòng sông, anh cũng đã đi qua cùng thị trấn ấy, nhưng không có một ngôi nhà nào. Cũng chẳng có dòng sông mang dáng hình ấy. Rồi thì mỗi tối anh lạc đến đâu, mối hiểm nguy là gì và tại sao anh chợt thức, sũng nước, kinh hoàng hơn cả lúc ở trong đợt oanh kích, bởi lẽ một ngôi nhà, một chuồng ngựa dài và một con kênh sao?
Anh ngồi dậy, cẩn thận đặt chân xuống, chúng tê cứng bất cứ lúc nào phải đi suốt cả khoảng đường dài; đáp lại cái nhìn của sĩ quan phụ tá, nhóm truyền tin và hai liên lạc viên cạnh cửa, anh đội cái mũ sắt đi trận bọc vải của mình lên đầu.
“Tôi tiếc là không có chocolate, bưu thiếp và thuốc lá”, anh nói. “Nhưng tôi đang mặc đồng phục”.
“Thiếu tá sắp về ngay đó”, tay sĩ quan phụ tá nói. Trong quân đoàn ấy, sĩ quan phụ tá không phải là sĩ quan được ủy quyền.
“Bộ quân phục này chưa chuẩn lắm đâu”, Nick bảo họ. “Nhưng nó tạo cho người ta ý tưởng: Sẽ có hàng triệu người Mỹ đến đây ngay lập tức”.
“Ông cho rằng họ sẽ phái quân Mỹ đến đây chứ?” tay sĩ quan phụ tá hỏi.
“Ồ, là cái chắc. Người Mỹ to gấp hai tôi, khỏe mạnh, lương tâm trong sạch, ngủ vào buổi tối, chẳng hề bị thương, chẳng hề bị nổ tung, không bao giờ có trong đầu một căn hầm sập, không hề sợ hãi, không uống, chung thủy với bạn gái họ để lại đằng sau, hầu hết bọn họ chẳng biết xúc xắc là gì, những thằng người tuyệt diệu. Anh sẽ thấy”.
“Ông có phải là người Italy không?” tay sĩ quan phụ tá hỏi.
“Không, người Mỹ. Hãy nhìn bộ quân phục này. spagnolini cắt may song nó chưa thật chuẩn lắm đâu”.
“Người miền bắc hay miền nam Mỹ”.
“Miền Bắc”, Nick đáp. Bây giờ anh cảm thấy hình ảnh ấy đang đến. Anh trầm xuống.
“Nhưng ông nói tiếng Italy”.
“Tại sao không? Anh có phiền khi tôi nói tiếng Italy không? Tôi chẳng có quyền nói tiếng Italy ư?”
“Ông được tặng huy chương của Italy”.
“Chỉ mấy dài ruy băng và giấy tờ. Huy chương sẽ đến sau. Hoặc là người ta tặng chúng cho binh sĩ để họ giữ lại rồi họ ra đi; hoặc là chúng bị thất lạc cùng với hành lý của anh, thì anh có thể mua lại vài chiếc khác ở Milan. Chỉ giấy tờ là quan trọng. Các anh chớ có tỵ. Nếu ở tuyến trước đủ lâu thì bản thân anh sẽ được nhận vài chiếc”.
“Tôi là cựu chiến binh trong chiến dịch Iritrea”, tay sĩ quan phụ tá tự hào nói. “Tôi tham chiến ở Tripoli”.
“Có lý do để tôi gặp anh”. Nick đưa tay ra. “Những thứ ấy hẳn phải được cố trong thời gian dài. Tôi thấy mấy dải băng của anh. Hẳn anh đã từng ở Carso chứ?”
“Tôi chỉ vừa mới được gọi lại bởi cuộc chiến này. Lớp chúng tôi đã quá già”.
“Có hồi tôi chưa đủ tuổi”, Nick nói. “Nhưng bây giờ tôi đã bị thải khỏi cuộc chiến”.
“Thế tại sao bây giờ anh tại ở đây?”
“Tôi đang trình diện bộ quân phục Mỹ”, Nick đáp. “Anh không nghĩ nó rất có ý nghĩa sao? Tuy cổ áo này hơi chật nhưng chẳng mấy nữa anh sẽ thấy hàng triệu người không đếm xuể mặc kiểu quân phục này nhung nhúc cả đàn tựa lũ cào cào. Châu chấu đỏ, hẳn anh biết, loài chúng ta gọi châu chấu, thật ra ở Mỹ là cào cào. Con châu chấu thật thì có màu xanh nhỏ và khá yếu ớt. Nhưng anh không được nhầm lẫn một con cào cào bảy năm tuổi với một chú ve sầu có thể phát ra âm thanh kéo dài rất đặc trưng mà giờ đây tôi chẳng thể nào mường tượng nổi. Tôi cố hình dung lại nhưng không được. Tôi gần như bắt được âm thanh ấy nhưng rồi nó cứ mờ nhạt đi. Anh sẽ thứ lỗi nếu tôi dừng cuộc đối thoại ở đây chứ?”
“Đi tìm xem thiếu tá ở đâu”, sĩ quan trợ lý sai một trong hai người liên lạc. “Tôi có thể nhận ra là anh đã bị thương đấy”, ông ta nói với Nick.
“Rất nhiều nơi”, Nick nói “Nếu anh quan tâm đến những vết sẹo, tôi có thể cho anh xem những cái thật đặc biệt nhưng tôi vẫn cứ muốn nói về lũ châu chấu. Loài côn trung chúng ta gọi châu chấu như đã nói thực sự là cào cào. Một dạo nó từng giữ vai trò quan trọng trong đời tôi. Câu chuyện hẳn sẽ cuốn hút nên anh có thể nhìn vào bộ quân phục lúc tôi kể”.
Tay sĩ quan phụ tá đưa tay ra hiệu cho gã liên lạc thứ hai ra khỏi hầm.
“Hãy nhìn kỹ bộ đồng phục. Anh biết đó, Spagnolini đã cắt may. Anh cũng có thể nhìn đấy”, Nick nói với người truyền tin. “Thực ra tôi không có cấp bậc. Tôi làm việc tại lãnh sự quán Mỹ. Các anh cứ tự nhiên quan sát. Thậm chí có thể nhìn kỹ nếu các anh thích. Tôi sẽ kể các anh nghe về cào cào Mỹ.
Chúng tôi luôn luôn ưa một loài có tên gọi là loài nâu-trung bình. Chúng có thể lặn giỏi trong nước và cá rất thích chúng. Những con lớn - lúc bay phát ra âm thanh như thể tiếng con rắn chuông dùng để dọa đối thủ của nó, kiểu âm thanh lạnh lùng - có đôi cánh rực rỡ, vài con màu đỏ rực, số khác màu vàng điểm sọc đen, nhưng cánh của chúng tan thành nhiều mảnh khi chạm nước và trở thành kiểu mồi nhếch nhác, nhưng loài nâu-trung bình là chủng loại cào cào mập tròn, chắc nịch và ngon bổ mà tôi đã giới thiệu nãy giờ bằng những lời đầy nhiệt thành hẳn là điều các quý ông có lẽ chưa bao giờ được nghe nói đến. Và tôi phải lưu ý thêm rằng bạn sẽ chẳng bao giờ bắt đủ lượng châu chấu để dùng trong một ngày câu nếu cứ đuổi theo chộp chúng bằng tay hay quật bằng vợt. Làm thế nào thì thật ngớ ngẩn và lãng phí thời gian. Tôi nhắc lại, thưa quý ngài, các ngài sẽ chẳng tóm được bao nhiêu nếu làm theo cách ấy. Thao tác đúng và kỹ thuật nên được dạy cho các sĩ quan trẻ ở mỗi khóa huấn luyện nếu tôi biết ít nhiều để giảng về nó, và một ai đó đã biết ngoài những điều tôi sẽ nói, là dùng một tấm lưới hoặc làm một tấm lưới bằng vải màn bình thường. Hai sĩ quan giữ hai đầu lưới kéo căng ra hoặc diễn đạt theo cách khác là mỗi người đứng mỗi đầu, một tay cầm đằng dưới một tay nắm đằng trên lưới rồi chạy theo chiều gió. Lũ châu chấu bay theo gió sẽ chạm và mắc vào lưới. Thực ra thì chẳng có tí mẹo gì khi bắt một số lượng lớn châu chấu và theo ý tôi thì chẳng một sĩ quan nào mà lại chẳng có đủ chiều cao để nắm một chiếc màn muỗi thích hợp cho khả năng ứng biến để làm một trong những kiểu lưới bắt châu chấu ấy. Thưa quý ngài, tôi hy vọng mình đã trình bày mạch lạc. Có còn thắc mắc gì nữa không? Cả lớp, nếu còn điều gì chưa hiểu thì cứ mạnh dạn hỏi. Nói đi. Không có ai hả? Vậy thì tôi sẽ kết thúc bằng lưu ý này. Bằng từ ngữ của chàng quân nhân vĩ đại ấy và của quý ông, ngài Henry Wilson: Thưa quý ngài, hoặc bạn phải thống trị hoặc các bạn phải bị trị. Tất cả chỉ có thế, thưa quý ngài, tạm biệt!”.
Anh giở cái mũ sắt bọc vải rồi đội nó trở lại rồi khom người bước qua cánh cửa thấp của căn hầm ra ngoài. Para, cùng đi với hai liên lạc viên, đang bước xuống giao thông hào trên con đường trũng. Trong ánh nắng, trời rất nóng và Nick tháo mũ.
“Nên có một hệ thống để tưới ướt mấy thứ này”, anh nói. “Mình sẽ nhúng cái này xuống sông”. Anh bước lên bờ.
“Nicolo”, Paravicini gọi. “Nicolo. Cậu đi đâu đấy?”
“Thực ra mình không phải đi”. Nick cầm cái mũ trong tay bước xuống bờ dốc. “Đúng là phiền toái thật, ướt hoặc khô. Cậu thường xuyên đội mũ sao?”
“Bất cứ lúc nào”, Para đáp. “Nó đang làm mình hói. Vào trong đi”.
Vào hầm, Para bảo anh ngồi xuống.
“Cậu biết chúng hoàn toàn chẳng tốt lành tí nào”, Nick nói. “Mình nhớ lần đầu tiên bọn mình đội, nó thật thoải mái, nhưng rồi hằng bao nhiêu lần mình thấy nó dính đầy não”.
“Nicolo”, Para nói. “Mình nghĩ cậu nên quay lại. Mình cho rằng sẽ tốt hơn nếu cậu đừng đến chiến hào cho đến lúc cậu có được những tiếp phẩm ấy. Chẳng còn gì để cậu làm ở đây đâu. Nếu cậu đi quanh, thậm chí chỉ phân phát vài thứ có giá trị, thì binh sĩ sẽ tập trung lại rồi sẽ dẫn đến bắn nhau. Mình không muốn điều ấy”.
“Mình biết việc này thật là ấu trĩ” Nick nói. “Nhưng nó không phải là ý kiến của mình. Mình nghe tin lữ đoàn ở đây thế là mình nghĩ mình sẽ gặp cậu hoặc một ai đó mình quen. Mình có thể chọn giữa Zenzon và San Dona. Và mình muốn đến San Dona để gặp lại lữ đoàn”.
“Mình sẽ không nghĩ cậu đến mà không có mục đích”, đại úy Paracivini nói.
‘Thôi được”, Nick đáp. Anh cảm thấy hình bóng đó lại đang đến.
“Cậu hiểu chứ?”
“Dĩ nhiên”, Nick nói. Anh đang cố giữ nó lại.
“Bất kỳ mục đích nào của việc ấy cũng nên được tiến hành vào ban đêm”.
“Tất nhiên”, Nick nói. Bây giờ anh biết mình không thể dừng nói được nữa rồi.
“Cậu thấy đó, mình đang chỉ huy tiểu đoàn”. Para nói.
“Thế cậu không xứng đáng hay sao?” Nick nói. Này nó đến. “Cậu có thể đọc và viết phải không?”
“Ừ”, Para dịu dàng đáp.
“Điều rắc rối là cậu đang chỉ huy một tiểu đoàn quá tơi tả. Nếu nó khôi phục lại đủ quân số thì họ sẽ điều cậu quay về đại đội. Mà sao họ không chôn người chết nhỉ? Giờ mình vẫn thấy chúng. Mình không sợ khi lại nhìn thấy xác chết lần nữa. Người ta có thể chôn bất kỳ lúc nào trong suốt khoảng thời gian mình đến đây và việc ấy hẳn tốt hơn nhiều đối với cậu. Cậu luôn là người sợ máu mà”.
“Cậu để xe đạp ở đâu?”
“Trong ngôi nhà cuối cùng”.
“Cậu nghĩ sẽ ổn chứ?”
“Đừng lo”, Nick nói “Lát nữa mình sẽ đi”.
“Nằm nghỉ tí nữa, Nicolo”.
“Ừ”.
Anh nhắm mắt và rồi nơi ấy thay vì một người đàn ông có bộ râu, ngắm anh qua đầu ruồi khẩu súng, hoàn toàn bình tĩnh trước lúc bóp cò, một tia chớp trắng rồi một cú nện tựa dùi cui vào gối anh. Cơn đau nóng dịu, phun bắn vào bờ đá trong lúc chúng vượt qua anh, anh thấy một ngôi nhà dài màu vàng với cái chuồng ngựa thấp và dòng sông rộng hơn, tĩnh lặng hơn nhiều so với hình ảnh trước đấy. “Lạy Chúa”, anh nói. “Mình phải đi ngay”.
Anh nhổm dậy.
“Mình sẽ đi Para à”, anh nói “ Mình sẽ đạp xe trở lại ngay trong chiều nay. Nếu đồ tiếp tế tới, thì tối nay mình sẽ chuyển đến. Nếu không thì mình sẽ đến vào buổi tối khi có món gì đó để mang theo”.
“Đạp xe bây giờ vẫn còn nóng lắm”, đại úy Paravicini nói.
“Cậu đừng lo”, Nick nói. “Giờ thì mình hãy còn bình thường một lúc nữa. Ban nãy mình có một cơn nhưng không quá khủng khiếp. Chúng dần dễ chịu hơn. Mình có thể biết lúc nào mình sắp có một cơn bởi lẽ khi ấy mình nói nhiều lắm”.
“Mình sẽ cử cậu liên lạc đi với cậu”.
“Mình muốn cậu đừng. Mình biết đường”.
“Cậu sẽ chóng quay lại chứ?”
“Đương nhiên”.
“Để mình cử”.
“Không cần”, Nick nói. “Chỉ cần mật hiệu”.
“Thôi được, vậy thì: Ciaou”.
“Ciaou” Nick nói. Anh bắt đầu quay lại trên con đường lỗ chỗ đến nơi để chiếc xe đạp. Vào buổi chiều, con đường sẽ có bóng mát khi anh vượt qua kênh. Đằng kìa, cây cối mọc hai bên bờ vẫn chưa bị đạn bom tàn phá mảy may. Trên đoạn đường ấy, một dạo lúc hành quân, họ đã vượt qua trung đoàn kỵ binh Terza Savoia đang cầm thương phóng đi trên tuyết. Hơi thở của đàn ngựa tuôn thành làn sương trắng trong bầu không khí lạnh. Không, chuyện ấy ở nơi nào khác kia. Nó ở đâu nhỉ?
“Tốt hơn là mình nên đi lấy chiếc xe đạp cà tàng ấy”, Nick tự nhủ. “Mình không muốn bị lạc trên đường đến Forinaci.
Lê Huy Bắc dịch