Bức tường vôi hồng của ngôi nhà bong ra, phai màu vì ẩm thấp: từ hiên nhà, bạn có thể nhìn thấy biển, rất xanh phía cuối đường. Những cây nguyệt quế mọc cao bên lề đường, tỏa bóng lên ban công thượng, trong bóng lá, không khí mát mẻ. Lồng chú chim mốc-kinh treo trong góc hành lang, lúc này nó ngừng hót, thậm chí cũng không còn chim chíp nữa, bởi lẽ chàng trai chừng hai tám tuổi gầy, đen, mặt quầng thâm, râu bù xù vừa cởi áo pun đang mặc che lên lồng. Bây giờ anh đứng miệng hé mở, lắng nghe. Ai đó đang cố mở khóa cánh cửa phía trước.
Lúc lắng nghe, anh nhận ra tiếng gió đang luồn qua hàng nguyệt quế bên cạnh lan can, tiếng còi tắc xi chạy trên đường và tiếng trẻ con đang chơi đùa trên vạt đất trống. Rồi anh lại nghe tiếng chìa khóa xoay trong ổ ấy, anh nghe tiếng gậy bóng chày vụt trúng quả bóng và tiếng reo lanh lảnh bằng tiếng Tây Ban Nha vang lên từ vạt đất trống. Anh đứng im, liếm ướt môi và lắng nghe ai đó đang cố mở cảnh cửa phía sau.
Người đàn ông trẻ ấy, tên là Enrique, tháo giày, cẩn thận đặt xuống, nhẹ nhàng di chuyển trên lớp gạch lát hiên cho đến lúc anh có thể cúi nhìn xuống cánh cửa phía sau. Không có ai ở đó. Anh khẽ bước về lại phía trước ngôi nhà, giấu kín mình, nhìn xuống đường.
Một người da đen đội mũ rơm hẹp vành, chóp bẹt, vận chiếc áo choàng len màu xám và quần dài màu đen đang bước trên lề đường, dưới tán nguyệt quế. Enrique dõi nhìn nhưng chẳng còn một ai nữa. Anh đứng yên một lúc quan sát và lắng nghe rồi nhấc chiếc áo khỏi lồng chim, mặc vào.
Mồ hôi tuôn đầm đìa trong lúc anh lắng nghe, bây giờ anh dịu đi trong bóng lá và làn gió Đông bắc mát mẻ. Chiếc áo che bao súng da đeo qua vai, sợi dây đeo uốn vòng, ngả màu trắng muối do mồ hôi và cứ trĩu xuống bởi khẩu colt cỡ đạn 45; khẩu súng làm nách anh hơi cộm lên. Anh nằm xuống chiếc giường vải bạt kê sát tường. Anh vẫn lắng nghe.
Con chim trong lồng lại khẽ kêu rồi cất tiếng hót, người đàn ông trẻ nhìn nó. Rồi anh đứng dậy, tháo chốt cửa, mở lồng ra. Con chim thò đầu qua ô cửa mở, rụt vào rồi lại thò ra, đưa mỏ mổ vào góc cửa.
“Bay đi”, chàng trai khẽ nói. “Không có cạm bẫy nào đâu”.
Anh đút tay vào lồng, con chim bay lùi lại, đập cánh loạn xạ vào nan lồng.
“Mày thật ngốc”, chàng trai nói. Anh rút tay ra khỏi lồng. “Mình sẽ để cửa mở”.
Anh nằm úp mặt xuống giường, cằm tỳ lên cánh tay và vẫn lắng nghe. Anh nghe tiếng con chim bay khỏi lồng rồi anh nghe nó hót trên cây nguyệt quế.
“Nếu ngôi nhà này được xem là hoang vắng thì thật là ngốc mới giữ con chim ấy lại”, anh nghĩ “cứ ngốc như thế rồi sẽ gặp vô khối rắc rối. Mình làm sao có thể khiển trách được người khác trong khi lại dại dột đến thế?”.
Trên vạt đất trống, bọn trẻ vẫn mải mê chơi bóng, bây giờ trời hơi mát. Chàng trai tháo dây đeo, đặt khẩu súng lục cạnh đùi. Lát sau anh chìm vào giấc ngủ.
Khi anh thức giấc, trời đã tối, ánh đèn đường trên góc phố chiếu xuyên qua đám lá nguyệt quế. Anh đứng dậy, đi ra phía trước ngôi nhà, ẩn mình trong bóng tối và chỗ khuất của bức tường, nhìn xuống đường. Một người đội mũ rơm bẹp vành, chóp bẹt đang đứng dưới cái cây trong góc phố. Enrique không nhìn rõ màu áo quần của hắn, nhưng hắn là người da đen.
Enrique bước nhanh ra hành lang sau nhưng không có ánh sáng phía ấy ngoại trừ luồng sáng từ phía cửa sổ sau của hai ngôi nhà bên cạnh hắt ra đồng cỏ. Sau ấy chắc có nhiều người. Anh biết điều đó, nhưng anh không thể nghe rõ như hồi chiều bởi radio ở ngôi nhà thứ hai đang mở.
Thình lình, một tiếng còi lanh lảnh vang đến, người trẻ tuổi nổi da gà. Cơn sợ ập đến nhanh như khi người ta đỏ bừng mặt, như thể luồng nhiệt quất mạnh và tan nhanh như khi nó đến. Tiếng còi phát ra từ radio; đấy là phần chương trình quảng cáo và giọng của phát thanh viên nối theo, “Kem đánh răng Gavis. Không thay thế được, hảo hạng, số một”.
Enrique mỉm cười trong bóng tối. Giờ là lúc ai đó chắc đang đến ngôi nhà.
Sau tiếng còi là tiếng trẻ khóc qua băng ghi âm và lời phát ngôn của phát ngôn viên bảo nó sẽ nín với Malta - Malta, tiếp đó là tiếng còi xe máy và tiếng khách hàng yêu cầu xăng xanh. “Chớ có dông dài gì nữa. Tôi cần xăng xanh. Tiết kiệm hơn, tiện dụng hơn, hảo hạng nhất”.
Enrique thuộc lòng tất cả các quảng cáo đó. Chúng đã không thay đổi suốt mười lăm tháng kể từ ngày anh ra trận; hẳn người ta sử dụng cùng đĩa ghi âm ở đài phát thanh, cùng tiếng còi đã đánh lừa anh, gây cho anh cảm giác ớn lạnh hệt như phản ứng của con chó săn chim cứng người lại khi bắt rõ mùi cun cút.
Khi mới bắt đầu, anh không có cảm giác như bị kim châm đó. Mối nguy hiểm và nỗi sợ hãi chiến trận đã một lần khiến anh cảm thấy ruột gan trống rỗng. Chúng ta làm anh cảm thấy yếu ớt như khi người ta yếu vì sốt rét và anh biết mình không còn khả năng cử động như khi người ta phải buộc đôi chân lê tới trong lúc đôi chân ấy cứng đơ như thể chúng ta đã mất cảm giác. Giờ đây tất cả đã qua và anh chẳng còn gặp khó khăn trước bất cứ việc gì anh định làm. Cảm giác như bị kim châm ấy là tất cả những gì còn sót lại của nỗi kinh hoàng vô độ mà vài người dũng cảm thường gặp phải. Đấy là phản ứng duy nhất của anh trước mối hiểm nguy, ngoại trừ việc đổ mồ hôi mà anh biết anh luôn mắc phải, nhưng giờ thì nó chỉ mang lại cảm giác ấm áp và chẳng còn gì nữa.
Khi anh đứng nhìn ra cái cây nơi người đàn ông đội mũ rơm bây giờ đang ngồi bên lề đường thì một hòn đá rơi trên ban công lát gạch hoa. Enrique tìm nó cạnh bức tường nhưng không thấy. Anh quờ tay xuống dưới giường nhưng vẫn không tìm thấy. Khi anh quỳ xuống một viên cuội nữa rơi trên nền gạch, này lên rồi lăn vào góc nhà cạnh đường. Enrique nhặt lên, xuống cầu thang, đi về phía cánh cửa đằng sau.
Anh đứng một bên cánh cửa, rút khẩu colt ra khỏi bao, khẩu súng nặng trĩu trong tay phải.
“Chiến thắng”, anh nói rất khẽ bằng tiếng Tây Ban Nha, miệng anh cảm giác buông ra từ ấy trong lúc đôi chân trần nhẹ nhàng di chuyển qua phía bên kia cánh cửa.
“Cho những ai tìm kiếm”, ai đó nói bên ngoài cánh cửa. Đấy là giọng phụ nữ, nói nốt nửa kia của mật khẩu, giọng ấy nhanh và hồi hộp.
Enrique kéo cái chốt đôi trên cánh cửa, tay trái mở cửa, tay phải vẫn cầm khẩu colt.
Một cô gái mang cái rổ đứng trong bóng tối. Đầu cô trùm chiếc khăn tay.
“Chào em”, anh nói rồi đóng cửa, chốt lại. Anh có thể nghe tiếng cô thở trong bóng tối. Anh bưng cái rổ và vỗ vào vai cô.
“Anh Enrique”, cô nói, anh không thể nhìn thấy ánh mắt lấp lánh và nét mặt của cô.
“Lên gác đi”, anh nói. “Có kẻ nào đó đang theo dõi phía trước ngôi nhà. Em có thấy hắn không?”
“Không”, cô đáp. “Em đi tắt qua vạt đất trống”.
“Anh sẽ chỉ hắn cho em xem. Lên ban công đi”.
Họ lên cầu thang, Enrique mang cái rổ. Anh đặt nó xuống cạnh giường, rồi bước ra mé ban công nhìn xuống. Gã da đen đội mũ rơm lẹp vành, chóp bẹt đã đi.
“Rồi”, Enrique lặng lẽ nói.
“Rồi cái gì?” cô gái hỏi, lúc này cô đang vịn tay anh nhìn xuống.
“Hắn đi rồi. Có gì ăn đấy?”
“Em xin lỗi là để anh ở đây một mình suốt một ngày”, cô nói. “Em rõ quá là ngốc khi phải đợi trời tối mới đến đây. Suốt ngày lúc nào em cũng muốn đến”.
“Cứ đến đây là ngu ngốc tất. Đang đêm, họ đưa anh đến đây bằng thuyền rồi để anh lại với mật khẩu mà chẳng có gì để ăn trong ngôi nhà đang bị theo dõi. Người ta không thể ăn mật khẩu. Lẽ ra họ đừng ấn anh vào cái nơi đang bị theo dõi vì một lý do khác. Nhưng dẫu sao thì ta cũng hãy ăn đi đã. Em thế nào hả Maria?”
Trong bóng tối, cô hôn lên miệng anh, thật lâu. Anh cảm nhận được đôi môi mọng mím chặt của cô và cơ thể run run của cô khi nép sát vào anh rồi cơn đau nhói từ lưng dưới anh dội đến.
“Á! Cẩn thận”.
“Cái gì vậy?”
“Lưng”.
“Lưng làm sao? Bị thương à?”
“Em thử nhìn xem”, anh nói.
“Em có thể xem bây giờ chứ?”
“Để lát nữa. Chúng ta ăn rồi phải đi khỏi nơi này. Họ giấu thử gì ở đây?”
“Rất nhiều thứ. Những thứ còn lại sau cuộc thất bại tháng Tư. Những thứ để chuẩn bị cho tuơng lai”.
“Tương lai dài dằng dặc”, anh nói. “Họ có biết ngôi nhà bị theo dõi không?”
“Em không rõ”.
“Cái gì kia?”
“Mấy khẩu súng trường còn trong hộp. Có nhiều đạn lắm”.
“Mọi thứ nên chuyển đi ngay tối nay”, miệng anh đầy thức ăn. “Phải mất hàng năm nữa chúng ta mới cần lại những thứ này”.
“Anh có thích món escabecche không?”
“Rất ngon, ngồi gần lại đây”.
“Enrique”, cô nói và ngồi nép sát vào anh. Một tay cô đặt lên đùi anh còn tay kia thì vuốt ve cổ anh. “Enrique yêu thương”.
“Cẩn thận khi sờ vào người anh đấy”, anh nói lúc đang ăn. “Lưng đau lắm”.
“Anh có hạnh phúc khi được quay về từ chiến trận không?”
“Anh không nghĩ về điều đó”, anh nói.
“Enrique, Chucho thế nào rồi?”
“Chết ở Lérida”
“Felipe?”
“Chết. Cũng ở Lérida”
“Còn Arturo?”
“Chết ở Teruel”
“Còn Vicente?” cô hỏi bằng giọng đều đều, bây giờ hai tay cô đã đặt lên đùi anh.
“Chết. Trong đợt tấn công vượt đường ở Celadas”.
“Vicente là em trai em”. Lúc này cô ngồi im, côi cút, tay cô đã rời khỏi đùi anh.
“Anh biết”, Enrique nói. Anh tiếp tục ăn.
“Nó là đứa em duy nhất của em”.
“Anh nghĩ là em đã biết tin”, Enrique nói.
“Em không biết và nó là em trai em”.
“Anh xin lỗi, Maria. Lẽ ra anh không nên nói theo cách ấy”.
“Nó đã chết rồi ư? Anh biết nó chết à? Có thật không?”
“Em này. Rogelio, Barilio, Esteban, Felo và anh là còn sống. Những người khác đã chết hết cả rồi”.
“Tất cả ư?”
“Tất cả”, Enrique đáp.
“Em không thể nào chịu đựng nổi điều đó”, Maria nói. “Trời ơi, em chẳng thể nào chịu đựng nổi nữa”.
“Đừng đề cập đến việc này thì tốt hơn. Họ đều đã chết”.
“Nhưng đấy đâu chỉ là cái chết của em trai em, Vicente. Em có thể chịu đựng được mất mát đó. Những người đã khuất là những thành viên ưu tú của đảng chúng ta”.
“Đúng, những thành viên ưu tú của đảng”.
“Chiến tranh tệ hại quá. Nó hủy diệt những người tài ba nhất”.
“Đúng. Nó cần phải thế”.
“Sao anh có thể nói như vậy. Nói như thế là tội lỗi đấy”.
“Không. Chiến tranh phải như thế”.
Bây giờ cô đang khóc còn Enrique tiếp tục ăn. “Đừng khóc”, anh nói. “Điều cần làm bây giờ là phải nghĩ cách lật đổ bọn chúng”.
“Nhưng nó là em trai em. Anh không hiểu sao? Em trai em”.
“Tất cả chúng ta là anh em. Một số đã hy sinh và vài người còn sống. Bây giờ cấp trên cử bọn anh về địa phương, vậy thì sẽ còn có hy sinh. Nhưng nếu không thì sẽ chẳng còn ai. Bây giờ chúng ta phải tiến hành công việc”.
“Nhưng tại sao tất cả bọn họ đều bị giết?”
“Bọn anh thuộc sư đoàn tiên phong. Mọi người hoặc là bị giết hoặc là bị thương. Những ai còn sống cũng đều bị thương cả”.
“Vicente bị giết như thế nào?”
“Nó đang băng qua đường thì bị dính phải làn đạn súng máy từ ngôi nhà trong trang trại bắn ra. Con đường bị phong tỏa bởi ngôi nhà ấy”.
“Anh cũng ở đó chứ?”
“Ừ. Anh ở đại đội một. Bọn anh ở bên phải cậu ấy. Bọn anh đã tấn công ngôi nhà nhưng phải mất nhiều thời gian. Ở đó bọn chúng có ba khẩu súng máy. Hai khẩu đặt trong nhà, một khẩu đặt ở chuồng ngựa. Việc tiếp cận mục tiêu thật là khó. Bọn anh phải dùng tăng nã đạn vào cửa sổ, trước lúc xông lên bịt miệng khẩu cuối cùng. Anh đã bị mất tám người. Chừng ấy là quá nhiều”.
“Trận ấy xảy ra ở đâu?”
“Ở Celadas”.
“Em chẳng hề nghe nói”.
“Đúng”, Enrique nói. “Cuộc tấn công ấy không thành công. Chẳng một ai nghe nói về nó cả. Đấy là trận mà Vicente và Ignacio hy sinh”.
“Anh nói điều ấy là để biện hộ ư? Những con người như thế đáng chết trong cuộc tấn công thất bại tại một đất nước khác sao?”
“Chẳng có xứ sở nào khác cả, Maria, ở đó người ta nói tiếng Tây Ban Nha. Chết ở đâu thì cũng chẳng có vấn đề gì nếu người ta chết vì tự do. Dẫu sao thì điều cần làm là sống chứ không phải chết”.
“Nhưng thử nghĩ về những người đã khuất - cách xa đây - trong thất bại”.
“Họ không phải đi để mà chết. Họ đi chiến đấu. Cái chết chỉ là tình cờ”.
“Nhưng còn thất bại. Em trai của em chết trong thất bại. Chucho trong thất bại, Ignacio cũng trong thất bại”.
“Họ chỉ là một phần mà thôi. Điều bọn anh phải làm là không có thể. Bọn anh đã làm nhiều việc mà khả năng chưa cho phép. Đôi lúc, những người bên cạnh không chịu tấn công. Đôi lúc, bọn anh đâu có đủ pháo. Đôi lúc, bọn anh được lệnh xông lên nhưng đâu có đủ lực lượng - chẳng hạn như ở Celadas. Những điều đó dẫn đến thất bại. Nhưng kết cục, đấy không phải là thất bại”.
Cô không trả lời, anh đã ăn xong.
Bây giờ gió mát rượi thổi qua tán cây: trên ban công, trời lạnh. Anh xếp mấy cái đĩa vào lại trong rổ rồi chùi lại miệng bằng khăn ăn, anh lau tay cẩn thận rồi quàng tay qua người cô gái. Cô đang khóc.
“Đừng khóc, Maria”, anh nói. “Chuyện xảy ra thì đã xảy ra rồi. Chúng ta phải nghĩ về công việc sắp tới. Còn nhiều việc phải làm”.
Cô không nói gì và anh có thể nhìn thấy mặt cô, trong ánh sáng của ngọn đèn đường, đang nhìn thẳng về phía trước.
“Ta phải kiểm điểm lại tất cả những gì thuộc về sự lãng mạn. Nơi này là một ví dụ của chủ nghĩa lãng mạn ấy. Ta phải dừng khủng bố. Chúng ta phải tính toán cẩn thận để không bao giờ rơi lại vào cuộc phiêu lưu cách mạng nữa”.
Cô gái vẫn không nói gì, anh ngắm nhìn khuôn mặt cô, khuôn mặt mà lúc nào anh cũng nghĩ về khi đầu óc rảnh rang, không vướng bận công việc.
“Anh nói như một cuốn sách”, cô nói. “Không phải như một con người”.
“Anh xin lỗi”, anh nói. “Đấy là một bài học duy nhất mà anh được học. Đấy là những việc anh biết mình phải làm. Với anh, điều ấy thực tế hơn bất kỳ thứ gì khác”.
“Với em điều thực tế nhất chính là những cái chết ấy”, cô nói.
“Điều đó làm ta kinh hãi. Nhưng nó không quan trọng”.
“Anh lại sách vở rồi”, cô giận dữ nói. “Tâm hồn anh là một cuốn sách”.
“Anh xin lỗi, Maria. Anh nghĩ là em sẽ hiểu”.
“Tất cả những gì tôi hiểu là cái chết”, cô nói.
Anh biết điều đó không đúng bởi vì cô không nhìn thấy họ chết như anh đã nhìn thấy trong khu rừng ôliu ở Jarama, trong cái nóng tại ngôi nhà đổ nát ở Quijorna và trong lớp tuyết ở Teruel. Nhưng anh biết cô trách anh vì đã còn sống trong khi Vicente lại chết và bỗng nhiên - chút tình cảm nhỏ nhoi, thẳng thắn còn lại trong anh mà anh không ý thức nó vẫn còn đó đã khiến anh cảm thấy bị tổn thương sâu sắc.
“Có một con chim”, anh nói. “Con mốc-king ở trong lồng”.
“Vâng”.
“Anh đã thả nó ra”.
“Anh tử tế nhỉ!” Cô nói với vẻ châm biếm. Lính tráng đều đa cảm tất như vậy sao?”
“Anh là một quân nhân tốt”.
“Em tin điều ấy. Anh nói như một người hùng. Em trai em thuộc lính hạng gì?”
“Rất cừ. Cừ hơn cả anh. Anh không cừ. Đấy là khiếm khuyết”.
“Nhưng anh biết tự phê bình và ăn nói rất sách vở”.
“Nếu anh cừ thì đã tốt hơn rồi”, anh nói. “Anh không học được điều đó”.
“Và những người dũng cảm thì đều đã chết”.
“Không”, anh nói. “Basilio là người dũng cảm”.
“Vậy thì anh ấy sẽ chết”, cô nói.
“Maria! Đừng nói như thế. Em nói nghe ảm đạm quá”.
“Còn anh thì nói cứ như là một cuốn sách”, cô đáp lời anh. “Xin đừng đụng vào tôi. Trái tim anh khô cằn, tôi căm ghét anh”.
Bây giờ anh lại bị tổn thương, anh nghĩ về việc trái tim mình khô cằn và nghĩ về việc chẳng điều gì có thể làm anh tổn thương trở lại ngoại trừ vết thương, rồi đang ngồi trên giường anh cúi người tới trước.
“Kéo áo anh lên”, anh nói.
“Tôi không muốn”.
Anh kéo áo và nghiêng người qua. “Maria nhìn này”, anh nói. “Cái này thì chẳng có trong sách vở đâu”.
“Tôi không thể thấy”. Cô nói. “Và tôi không muốn nhìn”.
“Sờ tay em vào chỗ thắt lưng ấy”.
Anh cảm thấy mấy ngón tay cô chạm lên chỗ da căng phồng nơi một quả bóng chày có thể chui lọt; cái sẹo kỳ quặc ấy là do vết thương mà viên bác sĩ phẫu thuật đã đút nắm tay đeo găng cao su của mình vào để làm vệ sinh, vết sẹo chạy từ hông bên này sang hông bên kia. Anh cảm nhận sự tiếp xúc của cô và rùng mình. Rồi cô ôm chặt lấy anh và hôn; môi cô là hòn đảo trong biển đau đột ngột, trắng xóa với những con sóng mù câm, dâng lên, quá mức chịu đựng, lấp lánh quét sạch người anh. Đôi môi ở đó, vẫn đứng yên rồi trào dâng, và nỗi đau tan đi khi anh ngồi đỏ, một mình, mồ hôi ướt đẫm, Maria đang thổn thức và nói. “Ôi! Enrique. Hãy thứ lỗi cho em. Xin hãy tha lỗi cho em”.
“Không sao đâu”, Enrique nói. “Chẳng có lỗi lầm gì cả. Chỉ có điều đấy không phải là sách vở”.
“Nhưng nó thường nhức nhối phải không anh?”
“Chỉ khi anh bị chạm hay va phải cái gì đó”.
“Thế còn dây sống lưng?”
“Nó cũng bị chạm phải. Thận cũng thế, nhưng chúng đã ổn rồi. Mảnh đạn xuyên từ bên này sang bên kia. Còn nhiều vết thương ở dưới thấp và cả ở chân nữa”.
“Enrique, hãy tha lỗi cho em”.
“Chẳng có gì để tha thứ cả. Nhưng có điều bất tiện là anh không thể làm tình được nữa và anh lấy làm tiếc rằng anh không phải là người dũng cảm”.
“Chúng mình có thể làm tình sau khi vết thương bình phục”.
“Ừ”.
“Rồi em sẽ chăm sóc anh”.
“Không. Anh sẽ chăm sóc em. Anh chẳng bận tâm đến việc này tí nào cả. Duy chỉ có nỗi đau khi bị chạm phải hay vấp phải, vết thương chẳng làm phiền anh. Bây giờ ta phải làm việc. Ta phải rời ngay chỗ này. Tối nay mọi thứ ở đây phải được rời đi. Chúng phải được giấu ở một nơi mới, không bị tình nghi; một nơi nào được bảo quản tốt. Phải mất một thời gian dài nữa chúng ta mới cần đến chúng. Còn nhiều việc phải làm trước khi chúng ta có thể trở lại giai đoạn ấy. Phải giác ngộ nhiều người. Chỗ lựu đạn này đến lúc ấy có thể không còn sử dụng được nữa. Khí hậu này sẽ làm hỏng kíp nổ. Nhưng bây giờ chúng ta phải đi. Anh thật là ngốc khi ở lại đây lâu đến thế và cái thằng ngốc đưa anh đến đây sẽ phải giải trình trước ủy ban”.
“Tối nay em sẽ đưa anh đến đó. Họ nghĩ ngôi nhà này an toàn để anh ở lại hôm nay”.
“Ngôi nhà này không ổn”.
“Ta sẽ đi ngay bây giờ”.
“Lẽ ra ta nên đi lúc này”.
“Hôn em đi, Enrique”.
“Chúng ta sẽ làm việc ấy rất thận trọng”, anh nói.
Rồi, trong bóng tối trên giường, giữ tư thể thận trọng, mắt anh nhắm lại, môi họ chạm nhau, hạnh phúc hiện hữu không còn nỗi đau, bỗng chốc cảm giác gia đình hiện về đẩy lùi cơn đau, sự sống lại quay về và không còn đau đớn, xúc cảm thoải mái của tâm trạng được yêu không kèm theo nỗi đau, đã từng thiếu vắng tình yêu, giờ đây được đắp đầy, môi chạm môi trong bóng tối, ép chật để họ cảm nhận hạnh phúc, tình yêu, bóng tối và hơi ấm gia đình mà chẳng có chút đau đớn nào trong bóng tối bỗng nhiên tiếng còi vọng đến, cắt ngang, vang rền như thể đã gom hết cả nỗi đau trên thế gian này lại. Đấy là tiếng còi thật, không cần còi phát ra từ radio. Không phải một cái còi mà là hai. Chúng đang đến từ hai ngả đường.
Anh quay đầu rồi đứng dậy. Ý nghĩ đang ở nhà trong anh không còn nữa.
“Ra khỏi cửa và băng qua vạt đất”, anh nói. “Đi đi. Anh có thể bắn từ trên này để đánh lạc hướng”.
“Không, anh đi đi”, cô nói. “Đi đi, em ở lại trong nảy bắn ra và chúng sẽ nghĩ anh còn ả trong nhà”.
“Đi nào”, anh nói. “Cả hai chúng ta cùng đi. Ở đây chẳng có chỗ cố thủ. Số vũ khí này thật vô dụng. Tốt hơn là trốn đi”.
“Em muốn ở lại”, cô nói. “Em muốn bảo vệ anh”.
Cô đưa tay lấy khẩu súng trong bao dưới cánh tay anh, anh khẽ tát vào má cô. “Đi nào. Đừng có ngốc, cô bé đi nào!”
Bây giờ họ xuống cầu thang, anh cảm nhận sự gần gũi của cô kề bên anh. Anh đẩy mạnh cửa, hai người cùng bước ra, họ ra khỏi ngôi nhà. Anh đóng và khóa cửa lại. “Chạy đi, Maria”, anh nói. “Băng qua vạt đất theo hướng ấy. Chạy đi!”
“Em muốn đi cùng anh”.
Anh lại vỗ nhanh vào người cô. “Chạy đi”. Rồi nhào xuống cỏ mà bò. Tha lỗi cho anh Maria. Nhưng hãy chạy đi. Anh chạy theo hướng khác. “Chạy đi”, anh giục. “Quỷ à, chạy đi”.
Họ cùng chạy ra đồng cỏ. Anh chạy hai mươi bước và khi mấy chiếc xe của cảnh sát dừng lại phía trước ngôi nhà, tiếng còi tắt, anh dán người xuống đất và bắt đầu trườn.
Phấn hoa cỏ bám đầy mặt anh và khi anh vặn người trườn mạnh tới, cát nhọn đâm vào người anh và đầu gối anh đau buốt; lát sau anh nghe tiếng chúng vòng quanh ngôi nhà. Ngôi nhà đã bị bao vây.
Anh bò điềm tĩnh, mải suy nghĩ, không để ý đến cơn đau. “Tiếng còi hú sao thế nhỉ?” anh nghĩ. “Tại sao không có chiếc xe thứ ba bọc hậu? Tại sao không có đèn pha hay đèn quét trên cánh đồng nhỉ? Mấy gã Cuba này”, anh nghĩ. “Chúng ngốc và sơ hở đến vậy sao? Chắc chúng nghĩ không có ai ở trong nhà. Chắc chúng đến chỉ để lấy vũ khí. Nhưng tại sao lại hú còi?”
Ở phía sau, anh nghe tiếng chúng phá cửa, chúng đã bao vây chặt ngôi nhà. Anh nghe hai tiếng còi phát ra từ chỗ gần ngôi nhà và anh tiếp tục trườn đi.
“Đồ bị thịt”, anh nghĩ. “Nhưng bây giờ chắc chúng thấy cái rổ và mấy chiếc đĩa. Đồ ngốc! Cứ đi mà tập kích ngôi nhà như thế!”
Lúc này anh gần chạm mép vạt đất trống, anh biết mình phải đứng dậy, chạy băng qua đường đến cụm nhà phía xa kia. Anh nhận thấy cứ lê người như thế vết thương hơi nhức. Anh có thể điều khiển từng động tác di chuyển. Chỉ tại những cử động mạnh gây ra nhức nhối, anh ngại phải nhổm người đứng dậy.
Anh quỳ một chân lên đồng cỏ, cảm thấy nhức nhối, nghiến răng chịu đựng rồi lại cố chịu đựng một lần nữa khi kéo chân kia tới, quỳ gối đứng dậy.
Anh dợm chân chạy về phía ngôi nhà bên kia đường, sau vạt đất trống bên cạnh; khi ánh đèn pha chiếu đến, anh ở trong luồng sáng, đối mặt với nó, hai bên luồng sáng là những vùng tối đen.
Đèn pha chiếu từ chiếc xe cảnh sát, không hú còi, lặng lẽ đến án ngự ở góc phía sau vạt đất.
Khi Enrique đứng dậy, gầy gò, hốc hác, hiện rõ mồn một trong ánh đèn và đang rút khẩu súng lục lớn trong túi da đeo dưới nách thì từ chiếc xe đỗ trong bóng tối, khẩu tiểu liên nã đạn vào anh.
Anh chỉ cảm nhận được loạt đầu tiên và có cảm giác như bị dùi cui quật ngang ngực. Những phát tiếp theo anh chỉ nghe tiếng vang.
Anh ngã úp mặt xuống cỏ; khi đang ngã hay có lẽ là giữa khoảng thời gian đèn pha bật sáng và khi viên đạn thứ nhất găm vào người, anh đã kịp nghĩ. “Chúng chẳng ngốc thế đâu. Có lẽ chúng đã chuẩn bị trước”.
Nếu anh còn đủ thời gian để nghĩ tiếp thì đấy chắc là hy vọng sẽ không có xe cảnh sát ở góc bên kia. Nhưng góc ấy cũng có xe và đèn pha của nó đang quét trên cánh đồng. Luồng sáng rộng đang nhấp nhô trên vạt cỏ nơi cô gái Maria náu mình. Trong chiếc xe tối, mấy tay xạ thủ, lăm lăm hướng đầu ruồi mũi súng Thompson đáng sợ theo luồng đèn pha.
Trong bóng cây, đằng sau chiếc xe sẫm đen, nơi đặt ngọn đèn pha, có một người da đen đang đứng. Hắn đội chiếc mũ rơm hẹp vành, chóp bẹt và chiếc áo khoác len. Bên trong sơ-mi, hắn đeo chuỗi hạt bùa màu xanh. Hắn đứng lặng im quan sát ngọn đèn quét đi quét lại.
Ánh đèn chiếu trên vùng cỏ nơi cô gái nằm dán chặt xuống, cằm vùi trong đất. Cô không nhúc nhích từ khi nghe tiếng súng. Cô có thể nhìn thấy nhịp tim mình đang dội vào đất.
“Mầy trông thấy nó chưa?” một người trong xe hỏi.
“Bảo chúng lùng đồng cỏ phía bên kia”, viên trung úy ngồi trước nói. “Này”, hắn gọi tay da đen đang đứng dưới bóng cây. “Đi đến ngôi nhà, truyền lệnh cho chúng lùng qua đồng cỏ về phía chúng ta. Chỉ có hai đứa thôi, sao?”
“Chỉ hai đứa”, tên da đen nói bằng giọng khe khẽ. “Ta sẽ tóm được đứa kia”.
“Đi đi”.
“Vâng thưa ngài trung úy”, tên da đen nói.
Cầm chiếc mũ rơm bằng cả hai tay, hắn chạy dọc theo rìa cánh đồng về phía ngôi nhà, nơi bây giờ đèn tỏa sáng từ mọi cửa sổ.
Cô gái nằm trên cánh đồng, hai tay ôm chặt lấy đầu. “Hãy giúp ta chịu đựng lần này”, cô nói với đám cỏ chứ không phải với một ai khác bởi ở đó chẳng còn ai nữa. Rồi, bỗng nhiên, một mình, nức nở, “Giúp chị với, Vicente. Giúp tôi với, Felipe. Hãy cứu tôi, Chucho. Cứu tôi, Arturio. Hãy cứu em ngay Enrique. Cứu em”.
Có lúc cô cầu nguyện nhưng rồi cô quên bẵng, bây giờ cô cần điều gì đó. “Hãy giúp ta đừng khai nếu chúng bắt được ta”, cô nói, miệng kề sát cỏ. “Giúp em đừng khai, Enrique. Giúp chị đừng khai báo gì cả Vicente”,
Đằng sau qua lớp cỏ, cô có thể nghe tiếng chúng lùng sục như thể những kẻ đi xua thú đang dồn một con thỏ. Chúng dàn rộng, tiến lên như thể một toán lính sắp xung trận, tay vung những chiếc đèn điện trên cỏ.
“Ôi, Enrique” cô nói, “hãy cứu em”.
Cô buông tay khỏi đầu và ép chặt hai bên sườn. “Như thế thì tốt hơn”, cô nghĩ. “Nếu ta chạy, chúng sẽ bắn. Như thế sẽ đơn giản hơn”.
Cô từ từ đứng dậy chạy về phía chiếc xe. Ánh đèn chiếu thẳng vào cô, đôi mắt mù câm, trắng xóa, cô chạy trong luồng sáng ấy. Cô nghĩ đấy là giải pháp tốt nhất cho mình.
Phía sau, bọn chúng hét toáng lên. Nhưng không có tiếng súng. Có ai đó quật cô rất mạnh và cô ngã xuống. Cô nghe hơi thở của hắn khi hắn giữ chặt cô.
Một đứa khác xốc nách nâng cô dậy. Giữ chặt hai cánh tay cô, chúng đưa cô về phía chiếc xe. Chúng không thô bạo mà cứ từ từ kéo cô về phía xe.
“Không”, cô nói. “Không. Không”.
“Nó là chị gái Vicente Irtube”, trung úy nói. “Con bé có ích đấy”.
“Nó đã được thẩm vấn trước đây rồi”, kẻ khác nói.
“Chưa đủ nghiêm túc đâu”.
Không”, cô nói. “Không không”, cô gào lớn, “Giúp chị, Vicente! Giúp em, giúp em, Enrique”.
“Chúng chết ráo cả rồi”, một kẻ nói. “Chúng chẳng giúp được gì cho mày đâu. Đừng có ngốc”.
“Đúng”, cô nói. “Họ sẽ giúp tao. Chính những người chết ấy sẽ giúp tao. Ô, đúng, đúng, đúng! Những người đã hy sinh của chúng tao sẽ giúp tao”.
“Vậy thì cứ thử nhìn Enrique đi”, viên trung úy nói. “Xem thử hắn có giúp gì được cho mày không. Hắn ở trên thùng chiếc xe kia kìa”.
“Bây giờ anh ấy đang giúp tao”, cô Maria nói. “Bọn mày không hiểu anh ấy đang giúp tao sao? Cám ơn anh, Enrique. Ôi, cảm ơn anh”.
“Đi thôi”, viên trung úy nói. “Nó bị điên rồi. Để lại bốn người canh số vũ khí ấy, chúng ta sẽ điều một chiếc xe tải đến chở. Chúng ta đưa cái con điên này về trụ sở. Đến đó nó có thể khai ra”.
“Không”, Maria nói lúc đang giữ chặt tay áo hắn. “Mày không thể nhìn thấy lúc này mọi người đang giúp đỡ tao sao?”
“Không”, viên trung úy nói. “Mày điên rồi”.
“Chẳng có ai chết mà không vì mục đích gì đó”, Maria nói. “Lúc này mọi người đang giúp đỡ tao”.
“Độ một tiếng nữa, cứ để chúng giúp mày”, viên trung úy nói.
“Họ sẽ giúp”, Maria nói. “Đừng lo. Bây giờ đang có rất nhiều người giúp tao”.
Cô ngồi yên, giữ người bất động, tựa vào lưng ghế. Lúc này, dường như có một sự tự tin kỳ lạ. Lòng tự tin ấy tương tự như ở một cô gái khác, khá nổi tiếng ở thời cô ta cách đây hơn năm trăm năm tại khu chợ của thành phố có tên là Rouen.
Maria không nghĩ về điều này. Bất cứ một ai khác trên xe cũng không nghĩ về điều đó. Hai cô gái tên là Jeanne và Maria chẳng có điểm gì chung ngoại trừ lòng tự tin bộc phát trào dâng khi họ cần nó. Nhưng tất cả nhóm cảnh sát trên xe lúc này cảm thấy khó chịu về Maria khi cô ngồi ngay ngắn, khuôn mặt bừng sáng trong ánh đèn cao áp.
Mấy chiếc xe khởi hành, trên hàng ghế sau của chiếc xe phía trước, bọn lính đang xếp mấy khẩu súng máy vào trong hộp vải bạt dày, báng súng được tháo ra xếp vào túi vải, nòng súng và tay nắm để trong túi có nắp, ổ đạn để trong những chiếc túi vải hẹp.
Tay da đen đội mũ rơm bước ra khỏi bóng ngôi nhà, chận chiếc xe đi trước lại. Hắn leo lên ngồi ở nghế phía trước cùng với một người đang ngồi bên cạnh tài xế, bốn chiếc xe leo lên đường chính dẫn đến con đường men biển đổ về La Havana.
Ngồi chật chội trên ghế trước của chiếc xe, tay da đen thọc tay vào túi áo sơ-mi và lần mấy ngón tay trên chuỗi hạt bùa màu xanh. Hắn ngồi chẳng nói câu nào, mấy ngón tay bíu chặt chuỗi hạt. Hắn từng làm công nhân ở cảng trước khi đi làm mật thám cho cảnh sát Havana, hắn sẽ được trả năm mươi đô-la cho phi vụ tối nay. Năm mươi đô-la lúc đó là khoản tiền lớn ở La Havana, nhưng tay da đen chẳng còn nghĩ đến chuyện tiền nong gì nữa. Hắn khẽ quay đầu, rất chậm khi chúng đi vào con đường cao tốc sáng rực ở Malecon, nhìn lại và thấy khuôn mặt cô gái rạng rỡ, kiêu hãnh, đầu vẫn ngẩng cao.
Tay da đen hoảng sợ, hắn lần mấy ngón tay khắp một vòng chuỗi hạt bùa màu xanh rồi giữ chặt. Nhưng chúng không thể giúp hắn xua đi nỗi sợ bởi lẽ lúc này hắn đang gặp một ma lực cao hơn.
Lê Huy Bắc dịch