nhiều dịch giả

Truyện ngắn Ernest Hemingway

Lượt đọc: 26597 | 7 Đánh giá: 9,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Lời giới thiệu Trên miệt Michigan Ông già tôi Tàn mùa Trại người da đỏ Bác sĩ và vợ bác sĩ Truyện rất ngắn Nhà cách mạng Trượt tuyết việt dã Kết thúc một vấn đề Cơn gió ba ngày Đấu sĩ Nhà của lính Chàng và nàng Elliot Con mèo trong mưa Sông lớn hai lòng - Phần I Phần II Người bất khả bại Nơi xứ lạ Rặng đồi tựa đàn voi trắng Những kẻ giết người Tổ quốc nói gì với mày? Năm mươi ngàn dollar Cuộc thẩm vấn đơn giản Mười người da đỏ Chim bạch yến cho ai Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước Hôm nay thứ Sáu Chuyện phiếm Bây giờ tôi nằm nghỉ Trên cảng Smyrna Đổi thay lớn Sau cơn bão Lịch sử tự nhiên của cái chết Một nơi sạch sẽ và sáng sủa Ánh sáng của thế giới Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn Con đường bạn sẽ chẳng hề theo Mẹ của gã pê đê Một bạn đọc viết Thụy Sĩ tôn kính Một ngày chờ đợi Con bạc, bà xơ và radio Cha và con Thủ đô của thế giới Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber Ông lão bên chiếc cầu Tố giác Con bướm và cỗ xe tăng Dưới mỏm đất Chẳng có ai chết Con sư tử tốt bụng Chú bò thủy chung Con người của thế giới Là con chó dẫn đường Người mùa hạ Câu chuyện Phi châu Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó
Tiến »
Con bướm và cỗ xe tăng

❊ ❊ ❊

Tối hôm ấy, lúc đang đi từ văn phòng kiểm duyệt về khách sạn Florida, tôi gặp mưa. Cuốc bộ được khoảng nửa độ đường, phát ngấy với cơn mưa thế là tôi bèn tạt vào Chicote để làm một ly. Đấy là mùa đông thứ hai của Madrid bị phong tỏa trong làn đạn pháo, mọi thứ đều thiếu thốn, kể cả thuốc lá lẫn sự bình tĩnh của con người, lúc nào người ta cũng cảm thấy hơi đói và rất dễ cáu một cách vô lý, bất chợt trước cả những việc họ chẳng thể làm gì được như thời tiết. Lẽ ra tôi đã về đến nhà. Khoảng đường chỉ còn có năm dãy nhà nữa thôi, nhưng khi thấy cửa quán Chicote, tôi nghĩ mình nên tạt vào uống nhanh một ly rồi đi liền một hơi qua những vũng bùn và gạch ngói đổ nát bởi bom đạn ngổn ngang trên phố, vượt qua sáu dãy nhà để về khu Gran Via.

Quán đông nghịt. Bạn chẳng thể nào đến gần quầy rượu, tất cả các bàn đều ngồi kín. Không gian tràn ngập khói thuốc lá, tiếng hát, những người vận đồng phục, mùi áo khoác da bị ướt, người ta đang chuyền những ly rượu qua đám đông đứng đến ba lớp quanh quầy.

Một anh bồi tôi quen tìm được cái ghế từ bàn kia rồi tôi ngồi xuống bên cạnh gã người Đức có khuôn mặt trắng, mỏng, yết hầu lộ ra; đang làm việc tại cục kiểm duyệt và hai người khác mà tôi không biết. Bàn tôi ngồi ở giữa phòng, hơi lệch về bên phải nếu nhìn từ cửa vào.

Bạn không thể nào nghe được giọng nói của mình bởi tiếng hát, tôi gọi một ly gin pha Angostura rồi ngồi nhâm nhi đợi mưa tạnh. Quả thực quán đông lắm, mọi người rất vui; có lẽ hơi quả hưng phấn bởi thứ rượu Catalan vừa mới cất mà họ đang uống. Hai người cùng bàn mà tôi không biết vỗ vào lưng tôi rồi một cô gái ở bàn chúng tôi nói điều gì đấy, tôi không nghe rõ nhưng vẫn đáp, “là cái chắc”.

Trông cô ta khá tợn, bây giờ tôi không nhìn quanh nữa mà nhìn vào bàn chúng tôi: thật khá dữ. Nhưng hóa ra là, khi anh bồi đến, tôi mới biết cô ta đề nghị tôi mời cô một ly rượu. Gã đi cùng cô trông không có ấn tượng lắm. Nhưng cô ta thì lại có đủ ấn tượng cho cả đôi. Cô ta có một khuôn mặt rắn rỏi, khá cổ điển; vóc dáng thì trông như thể một huấn luyện viên sư tử, còn gã đi cùng cô thì bộ dạng trông cứ như là một cậu học sinh bị buộc phải đeo chiếc cà vạt cũ. Dĩ nhiên gã đâu có đeo. Gã vận áo khoác da như tất cả bọn tôi. Chỉ có điều là nó không ướt bởi lẽ gã đã vào quán trước lúc trời mưa. Cô ta cũng vận áo khoác da, chiếc áo hợp với khuôn mặt của cô.

Đến lúc này, tôi thầm ước giá mình đừng tạt vào đây mà cứ đi thẳng một mạch về nhà để có thể thay đồ, lau khô người, nằm gác chân thoải mái lên giường và uống một ly gì đó; tôi thấy mệt mỏi khi mải nhìn hai người trẻ tuổi này. Cuộc đời thì ngắn ngủi nhưng đàn bà xấu thì lại sống lâu và cử ngồi ì ra đó, phía bên kia bàn; tôi quyết định: mặc dù là một nhà văn và được xem là lúc nào cũng tò mò vô độ về đủ hạng người thì tôi thực sự chả cần biết hai người đã cưới nhau chưa, đã tìm thấy cái gì ở nhau, quan điểm chính trị của họ là gì, gã ta có xu nào, cô ta có xu nào không hay bất cứ điều gì có liên quan đến họ. Tôi nghĩ chắc họ ở đài phát thanh. Hễ khi nào bạn thấy một gương mặt thường dân lạ lẫm ở Madrid thì cứ như rằng người ấy là nhân viên của đài phát thanh. Rồi để nói cho có chuyện, tôi hét lớn hỏi qua mớ âm thanh lùng nhùng, “Các bạn làm ở đài phát thanh hả?”

“Chúng tôi làm ở đấy”, cô gái đáp. Vậy là đúng đấy, họ làm ở đài phát thanh.

“Còn đồng chí thì thế nào?” tôi hỏi tay người Đức.

“Khỏe. Còn anh?”

“Ướt sũng”, tôi đáp và hắn phá lên cười, đầu ngoẹo cả sang một bên.

“Anh còn điếu thuốc nào đấy không?” hắn hỏi. Tôi đưa hắn một trong hai gói thuốc cuối cùng của tôi, hắn rút hai điếu. Cô gái rắn rỏi rút hai điếu còn người đàn ông trẻ với vẻ mặt đeo cà vạt ở trường thuở bé, lấy một điếu.

“Lấy nữa đi”, tôi gào lớn.

“Đủ rồi, cám ơn ông”, gã đáp và tay người Đức rút điếu thuốc.

“Không phiền anh chứ?” gã mỉm cười.

“Dĩ nhiên là không”, tôi đáp. Rõ ràng tôi có hơi bực, gã thấy điều đó. Nhưng cơn thèm thuốc của gã lớn đến nỗi gã bất chấp. Tiếng hát đã ngưng đi một lát hoặc giả có một khoảng dừng trong bài hát tựa điều thường thấy xảy ra trong một cơn bão, chúng tôi có thể nghe rõ giọng của nhau.

“Ông ở đây lâu chưa?” cô gái rắn rỏi hỏi tôi. Cô ta phát âm chữ “ở” nghe như chữ “ờ”.

“Thỉnh thoảng”, tôi đáp.

“Chúng ta phải có một cuộc nói chuyện nghiêm túc”, tay người Đức nói. “Tôi muốn nói chuyện với anh. Khi nào chúng ta có thể nào?”

“Tôi sẽ gọi cho anh sau”, tôi nói. Tay người Đúc này thực là kẻ rất kỳ lạ, chẳng có người Đức tử tế nào lại thích hắn. Hắn sống với ảo tưởng rằng mình có thể chơi được piano, nhưng nếu bạn kéo hắn ra khỏi cái piano ấy thì hắn chẳng sao nếu không chúi mũi vào rượu hoặc tìm cơ hội tán gẫu và đến nay, chưa ai có thể kéo hắn ra khỏi hai ngón ấy.

Nói chuyện tầm phào là món hắn thạo nhất, hắn luôn nắm được những thông tin mới nhất, bất ngờ nhất về bất kỳ ai mà bạn muốn quan tâm ở Madrid, Valencia, Barcelona và những trung tâm chính trị khác.

Nhưng ngay khi ấy, tiếng hát lại rộ lên, bạn chẳng thể cứ hét lên mãi để tán gẫu, thế là buổi chiều ở Chicote đã nhuốm vẻ buồn tẻ, tôi quyết định sẽ ra về ngay sau khi đãi xong những người quanh bàn một chầu.

Chỉ khi ấy, sự việc bắt đầu. Một thường dân vận comlê màu nâu, sơ-mi trắng, cà vạt đen, tóc chải hất ra sau để lộ vầng trán rộng, nãy giờ đã trêu chọc từ bàn này sang bàn khác, đang dùng khẩu súng nhỏ xịt nước vào một số các bồi bàn. Mọi người cười ầm lên, trừ anh bồi lúc ấy đang bưng một khay rượu đầy. Anh ta tỏ ý bực bội.

“No hay derecho”, anh bồi nói. Câu ấy có nghĩa, “Anh không được phép làm như thế”, đấy là câu phản đối đơn giản nhất nhưng mạnh mẽ nhất trong ngôn ngữ Tây Can Nha.

Người đàn ông cầm súng phun nước, hài lòng với thắng lợi của mình và dường như chẳng màng đến thực tế là cuộc chiến đã bước sang năm thứ hai, anh ta đang sống trong một thành phố bị phong tỏa, nơi mọi người đã quá căng thẳng và kể cả anh ta, trong quán chỉ có bốn người mặc thường phục, bây giờ lại xịt nước vào người bồi khác.

Tôi nhìn quanh tìm nơi để lẩn tránh. Anh bồi này cũng bực bội, còn người cầm súng thì cứ hồn nhiên xịt vào anh ta hai lần. Vẫn còn vài người nghĩ trò đùa ấy thật thú vị, kể cả cô gái rắn rỏi. Nhưng anh bồi thì đứng lại, lắc đầu. Môi anh ta giần giật. Anh bồi này lớn tuổi, tôi biết anh ta đã phục vụ ở Chicote này suốt mươi năm nay.

“No hay derecho” anh ta nghiêm mặt nói.

Dĩ nhiên mọi người cười vang, còn người đàn ông mang súng phun nước, không để ý tiếng hát đã tắt, lại cứ xịt nước vào gáy của anh bồi. Anh ta quay lại, tay vẫn giữ cái khay.

“No hay derecho”, anh ta nghiêm mặt nói. Lần này, câu nói không còn là lời phản đối. Đấy là lời tuyên án, tôi thấy ba người vận quân phục rời bàn đứng dậy tiến về phía người mang súng phun nước, sau đó cả bốn người bước nhanh ra khỏi cánh cửa quay tròn rồi người ta có thể nghe tiếng đạp mạnh khi ai đó đấm vào miệng người mang súng. Một người khác nhặt cây súng phun nước quẳng ra cửa cho theo cùng chủ nó.

Ba người kia bước vào với vẻ mặt nóng nảy, giận dữ nhưng rất nghiêm nghị. Rồi cánh cửa xoay tiếp, người mang súng phun nước lại bước vào. Tóc anh ta rũ xuống tận mắt, mặt vấy đầy máu, cà vạt bị kéo xệch sang một bên, áo sơ-mi bị xé rách. Tay cầm cây súng phun nước, đôi mắt trợn trừng, khuôn mặt trắng bệch, anh ta bước vào phòng xịt bừa bộn một phát, không nhằm vào ai nhưng đầy vẻ thách thức rồi rê mũi súng vào những người trong quán.

Tôi thấy một trong số ba người đàn ông lúc nãy bước về phía anh ta, tôi thấy rõ mặt người đàn ông này. Có thêm nhiều người nữa tiến tới, họ ép người mang súng lùi lại giữa hai cái bàn phía bên trái căn phòng, tính từ cửa vào, bây giờ người mang súng chống trả kịch liệt, rồi khi tiếng súng vang lên, tôi chộp lấy cánh tay của cô gái rắn rỏi chạy ra phía vai nhưng nó không nhúc nhích.

“Cúi xuống sau góc quầy rượu này”, tôi bảo, cô ta quỳ gối xuống.

“Nằm sát xuống”, tôi bảo rồi đẩy mạnh. Cô ta nổi cáu.

Tất cả những người trong quán, trừ gã người Đức đang chui dưới cái bàn và anh chàng trông như cậu học sinh nọ đang lùi vào góc, nép sát vào tường, đều rút súng cầm tay. Trên cái ghế dài dọc theo tường, ba cô gái tóc vàng chóe - nhưng chân tóc lại đen - đang nhón chân đứng nhìn rồi gào lên thật khủng khiếp.

“Tôi không sợ”, cô gái rắn rỏi nói. “Chuyện này thật ngớ ngẩn”.

“Tôi chắc là cô không muốn ăn một phát đạn trong vụ chạm súng”, tôi nói. “Nếu cái tay cầm súng phun nước ấy có nhiều bè bạn trong quán này thì sự thể chắc sẽ nghiêm trọng lắm”.

Nhưng rõ ràng anh ta không có bạn đi cùng bởi lẽ mọi người bắt đầu lại đút súng vào bao, ai đó nhấc cô gái tóc vàng đang la hét xuống, còn những người đang tiến về phía người bị bắn vội bước lùi lại, người mang súng phun nước nằm ngửa lặng lẽ trên sàn nhà.

“Không ai được phép rời khỏi nơi này cho đến khi cảnh sát đến”, từ trên cửa, ai đó hét lên.

Hai tên cảnh sát mang súng trường đang tuần tra trên phố, rẽ vào đứng trấn ở cửa, nhưng ngay lúc lời tuyên bố ấy được phát ra, tôi thấy sáu người xếp thành hàng như một đội bóng đá, lách khỏi đám đông bước ra cửa. Ba trong số đó là những người đầu tiên quẳng người mang súng nước ra cửa. Một số họ là người đã bắn anh ta. Họ đi xuyên qua hai người cảnh sát mang súng như một hàng rào chắn khi chơi bóng bầu đục nhưng lại thiếu mất phần sân và một hộ vệ. Ngay lúc đó họ ra khỏi, một viên cảnh sát chĩa súng ngang cửa và hét, “Không ai được bước ra. Tuyệt đối không một ai”.

“Tại sao mấy tay ấy lại được? Sao lại giữ bọn tôi trong lúc có người được phép đi?”

“Họ là thợ máy, họ phải trở lại phi trường”, ai đó nói.

“Nhưng nếu có người đã đi thì thật là ngố mới giữ những người khác lại”

“Mọi người phải đợi Cục An ninh đến. Mọi việc phải được giải quyết hợp pháp và trật tự”.

“Nhưng các anh không hiểu là nếu có người đã đi thì thật là ngốc mới đi giữ những người khác lại sao?”

“Không ai được phép rời khỏi, mọi người phải chờ”.

“Thật khôi hài”, tôi nói với cô gái rắn rỏi.

“Không, chẳng khôi hài tí nào. Thật khủng khiếp”.

Bây giờ chúng tôi đang đứng, còn cô ta thì đang phẫn nộ nhìn về phía người mang súng phun nước nằm. Tay anh ta dang rộng, một chân co lên.

“Tôi sẽ đến giúp anh chàng bị thương khốn khổ ấy. Tại sao chẳng có ai giúp đỡ hay làm cái gì đấy cho anh ta?”

“Tôi thì cứ để anh ta nằm một mình”, tôi nói. “Cô đâu muốn dây dưa tới chuyện này”.

“Nhưng làm thể thì chẳng nhân đạo tí nào. Tôi đã từng theo học lớp y tá. Tôi sẽ sơ cứu cho anh ta”.

“Còn tôi thì sẽ không”, tôi nói. “Đừng lại gần anh ta”.

“Tại sao đừng?” Cô ta rất bực bội và gần như là căm phẫn.

“Bởi vì anh ta đã chết”, tôi nói.

Khi cảnh sát đến, họ giữ mọi người ở lại đó suốt ba tiếng đồng hồ. Họ điều tra bằng cách ngửi tất cả các khẩu súng. Bằng cách này, họ sẽ nhận ra khẩu nào vừa mới được bắn. Sau khi ngửi chừng bốn mươi khẩu, họ dường như chán phương pháp điều tra này, vả lại những gì họ có thể ngửi được chỉ là mùi áo khoác da bị ướt. Rồi họ ngồi xuống cái bàn đặt ngay sau xác của anh chàng phun súng nước, lúc này trông như thể một hình nhân biếm họa bằng sáp tái ngoét của chính anh ta đang nằm trên sàn với hai bàn tay sáp và khuôn mặt sáp xám ngắt, và bắt đầu kiểm tra giấy tờ của mọi người.

Nhìn qua chiếc sơ-mi bị xé toạc, người ta có thể thấy người phun nước không mặc may ô, còn đế giày của anh ta cũng mòn vẹt. Lúc nằm đó, trên sàn nhà, trông anh ta bé nhỏ và thật đáng thương. Mọi người phải bước qua xác anh ta để đến cái bàn nơi hai cảnh sát viên mặc thường phục ngồi kiểm tra chứng minh thư của từng người. Anh chồng, do căng thẳng đã mấy lần đánh mất rồi lại tìm được giấy tờ của mình. Anh ta có giấy tờ thông hành an toàn để ra vào đâu đó nhưng lại đút nhầm vào một cái túi nào đấy rồi tiếp tục tìm, vã cả mồ hôi cho đến khi thấy nó. Rồi anh ta lại để vào một cái túi khác và phải lục lọi tìm kiếm lần nữa. Anh ta đổ mồ hôi đầm đìa khi tìm kiếm, đầu tóc rối tung, mặt đỏ bừng. Bây giờ trông anh ta không chỉ có dáng điệu của một cậu học sinh bị bắt đeo cà vạt cũ mà còn như thể mấy chú nhóc ở những lớp thấp hơn đội mũ lưỡi trai bé xíu. Hẳn bạn đã từng nghe cách các sự kiện quan trọng tác động đến tuổi tác của con người. Thế đấy, vụ bắn giết này đã làm anh ta trông trẻ hơn cả mười tuổi.

Trong lúc đứng đợi đến phiên mình, tôi bảo cô gái rắn rỏi rằng tôi nghĩ toàn bộ những sự kiện này sẽ kết nên một câu chuyện rất hay, và ngày nào đó tôi sẽ viết nó. Cái cách sáu người xếp hàng băng ra cửa gây ấn tượng mạnh. Cô ta sửng sốt rồi bảo tôi đừng nên viết truyện ấy bởi vì nó sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp của nền Cộng hòa Tây Ban Nha. Tôi đáp rằng tôi đã ở Tây Ban Nha lâu lắm rồi, từ những ngày xưa, dưới thời quân chủ, người ta đã thường bắn giết nhau; và rằng hàng mấy trăm năm trước nền Cộng hòa người ta cũng luôn chặt đầu nhau bằng những con dao to bản có tên gọi là Navajas ở Andalicia; và rằng nếu tôi chứng kiến một vụ bắn người dớ dẩn tại quán Chicote trong thời gian chiến tranh thì tôi cũng có thể viết lại như thế các vụ nổ súng xảy ra ở New York, Chicago, Key West hoặc Marseilles. Nó chẳng liên quan tí nào đến chính trị cả. Cô ta bảo tôi không nên. Có lẽ rất nhiều người nữa cũng bảo tôi đừng nên. Tuy nhiên, gã người Đức nghĩ đấy có vẻ là câu chuyện hay và tôi đưa cho gã điếu Camel cuối cùng. Rốt cuộc thì, dẫu sao sau chừng ba tiếng đồng hồ, cảnh sát bảo bọn tôi có thể đi.

Ở khách sạn Florida, mọi người đang lo về tôi, bởi lẽ vào những ngày bom đạn ấy, nếu bạn thả bộ khỏi nhà mà chưa về sau khi những quán rượu đóng cửa vào lúc bảy giờ ba mươi, thì mọi người lo sợ. Tôi rất mừng vì đã về nhà, tôi kể lại câu chuyện trong lúc bọn tôi nấu bữa khuya trên cái bếp điện, món thịt thật ngon.

Rồi suốt đêm trời không mưa nữa, sáng hôm sau, thời tiết đã chuyển sang ngày đầu đông se lạnh, quang đãng, dễ chịu, vào lúc mười hai giờ bốn mươi lăm phút, tôi đẩy cánh cửa quay của quán Chicote để uống một ly gin pha nước khoáng trước bữa trưa. Vào giờ ấy, quán vắng khách, hai anh bồi và viên quản lý, bước lại bàn tôi. Cả ba đang mỉm cười.

“Họ đã bắt được kẻ giết người chưa?” tôi hỏi.

“Đừng có đùa sớm thế?” viên quản lý nói. “Anh có thấy anh ta bị bắn không?”

“Có”, tôi đáp.

“Tôi cũng thấy”, ông ta nói. “Tôi đến ngay đấy khi sự việc xảy ra”. Ông ta chỉ vào góc bàn. “Hắn chĩa súng sát ngực anh ta rồi bóp cò”.

“Họ đến lấy fiambre”, anh bồi dùng tiếng lóng Tây Ban Nha để chỉ cái xác, từ này còn được dùng để chỉ món thịt đông lạnh trên thực đơn, “vào hồi mười một giờ sáng nay”.

“Nhưng anh chưa biết hết chuyện này”, viên quản lý nói.

“Đúng đấy. Ông ấy chưa biết đâu”, một anh bồi nói.

“Chuyện này thật hiếm thấy”, anh bồi khác nói. “Thật hiếm thấy”.

“Và cũng đáng buồn nữa”, viên quản lý nói. Ông ta lắc đầu.

“Đúng đấy, đáng buồn nhưng cũng rất lạ kỳ”, anh bồi nói. “Thật đáng buồn”.

“Kể cho tôi nghe đi”.

“Một chuyện thật hiếm có”, viên quản lý nói.

“Kể cho tôi nghe đi. Kể đi, kể cho tôi đi”.

Viên quản lý cúi người lên bàn, ra vẻ rất bí mật.

“Trong khẩu súng phun nước mà anh biết rồi đấy”, ông ta nói. “Anh ta đổ đầy nước hoa. Anh chàng đáng thương”.

“Như thế thì chẳng phải là trò đùa tai hại, ông đồng ý chứ?” anh bồi nói.

“Tình thực, trò ấy chỉ làm không khí vui lên. Lẽ ra mọi người đừng nên tức giận”, viên quản lý nói. “Anh chàng thật đáng thương”.

“Tôi hiểu” tôi nói. “Anh ta chỉ muốn làm cho mọi người vui”.

“Đúng đấy”, viên quản lý nói. “Tình thực, vụ này chỉ là một sự hiểu lầm tai hại”.

“Thế còn cây súng phun nước?”

“Cảnh sát đã thu nó. Họ gởi về lại cho gia đình anh ta”.

“Tôi nghĩ họ sẽ rất mừng khi nhận lại được khẩu súng”, tôi nói.

“Đúng đấy”, viên quản lý nói. “Chắc thế. Một khẩu súng phun nước thì luôn hữu dụng”.

“Anh ta là ai vậy?”

“Thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật”.

“Đã lấy vợ chưa?”

“Rồi, sáng nay cô vợ đến đây với cảnh sát”.

“Cô ta lăn xuống cạnh anh ta và thổn thức, ‘Pedro, chúng đã làm gì anh, Pedro? Ai đã nhẫn tâm làm cho anh ra nông nỗi này? Ôi Pedro!’.”

“Sau đó cảnh sát phải dìu cô ta lui bởi vì lúc ấy cô ta không còn tự chủ được nữa”, một anh bồi nói.

“Dường như phổi anh ta bị yếu”, viên quản lý nói. “Nhưng những ngày đầu của phong trào, anh ta đã tham chiến. Người ta bảo anh ta đã chiến đấu ở Sierra nhưng phổi quá yếu để có thể tiếp tục chiến đấu”.

“Rồi chiều hôm qua anh ta chỉ lang thang trong thành phố với mục đích trêu đùa để mọi người vui”, tôi tiếp lời.

“Không phải đâu”, viên quản lý nói. “Anh thấy đấy, vụ này thật hi hữu. Mọi việc rất khó ngờ. Chuyện này tôi nghe từ mấy tay cảnh sát, bọn họ cừ thật nếu có đủ thời gian. Họ đã điều tra những người cùng làm việc trong xưởng với anh ta. Sở dĩ họ biết được điều này là nhờ đã tìm ra tấm thẻ nghiệp đoàn trong túi nạn nhân. Hôm qua, anh ta mua một khẩu súng phun nước và một lọ nước hoa định dùng để đùa vui ở một đám cưới. Anh ta đã tuyên bố dự định này. Anh ta mua mấy thứ ấy ở bên kia đường. Cái nhãn đính trên lọ nước hoa có ghi địa chỉ. Cái lọ ấy được tìm thấy trong buồng vệ sinh. Anh ta vào đấy để trút nước hoa vào súng. Sau khi mua xong, chắc anh ta tạt vào đây vì trời mưa”.

“Tôi nhớ lúc anh ta bước vào”, một anh bồi nói.

“Trong bầu không khí vui vẻ, ngập tràn tiếng hát, anh ta cứ chạy hết chỗ này đến chỗ khác”.

Viên quản lý tiếp tục suy luận theo lô gíc cố hữu của người Tây Ban Nha.

“Là do niềm phấn kích bởi men rượu cộng với cái phổi yếu” ông ta nói.

“Tôi không thích câu chuyện này lắm”, tôi nói.

“Này”, viên quản lý nói. “Thât là hi hữu. Cơn bốc đồng của anh ta tiếp xúc với sự căng thẳng của chiến tranh giống như con bướm”.

“Ồ, rất giống một con bươm bướm” - Tôi nói. “Thật quá giống con bươm bướm”.

“Tôi không đùa đâu”, viên quản lý nói. “Anh có hiểu điều ấy không? Giống như một con bướm và cỗ xe tăng”.

Ý tưởng ấy khiến ông ta cực kỳ hài lòng. Ông ta đang chìm vào mê cung của siêu hình học Tây Ban Nha.

“Ta hãy uống vì sự liên tưởng ấy”, ông ta nói. “Anh phải viết một câu chuyện về việc này”.

Tôi nhớ người đàn ông cầm cây súng phun nước với hai bàn tay và khuôn mặt như tạc bằng sáp, xám ngắt, cánh tay dang rộng, chân co lên, trông anh ta hơi giống con bươm bướm; không giống nhiều đâu, chắc bạn đã hình dung ra rồi. Nhưng trông anh ta cũng chẳng giống con người. Anh ta gợi tôi nhớ về xác của một con én.

“Cho tôi một ly gin pha nước khoáng kí ninh Schweppers”, tôi gọi.

“Anh ta phải viết một câu chuyện về sự kiện này”, viên quản lý nói. “Ở đây. Ở đây may lắm”.

“May ư?” tôi nói. “Này, tối qua một cô gái người Anh bảo tôi đừng nên viết. Bởi lẽ nó sẽ mang lại điều không tốt cho phe Cộng hòa”.

“Thật ngớ ngẩn”, viên quản lý nói. “Câu chuyện này rất hấp dẫn và thực sự quan trọng. Niềm vui bị hiểu lầm va chạm với sự căng thẳng chết người thường xảy ra ở đây. Đối với tôi sự kiện này cực kỳ hi hữu và hấp dẫn nhất mà tôi từng chứng kiến trong đời. Anh phải viết về nó”.

“Thôi được”, tôi nói. “Tôi sẽ viết. Anh ta có con cái gì không?”

“Không”, viên quản lý đáp. “Tôi đã hỏi cảnh sát. Nhưng mà anh phải viết chuyện ấy và đặt nhan đề là Con bướm và cỗ xe tăng”.

“Thôi được”, tôi nói. “Tôi hứa. Nhưng tôi không thích nhan đề này lắm”.

“Nhan đề này rất nhã” viên quản lý nói. “Nghe thuần túy văn chương”.

“Thôi được”, tôi nói, “Tôi đồng ý. Ta đặt nhan đề cho câu chuyện là Con bướm và cỗ xe tăng”.

Rồi tôi ngồi đó, trong buổi sáng quang đãng và dễ chịu, quán rượu tỏa mùi sạch sẽ do mới được quét dọn, bên cạnh là viên quản lý và cũng là bạn cũ, người bây giờ đang tỏ ra rất hài lòng trước thỏa thuận văn chương mà hai đứa vừa bàn bạc; tôi uống một ngụm gin pha nước khoáng rồi nhìn ra cửa sổ chất đầy bao cát và hình dung ra người vợ đang quỳ gối ở đấy thổn thức, “Pedro. Pedro. Ai đã làm anh ra nông nỗi này, hỡi Pedio”. Rồi tôi nghĩ cảnh sát cũng chẳng thể nào tìm cho cô được câu trả lời dẫu họ có sẵn trong tay tên của người đàn ông, kẻ siết cò.

Lê Huy Bắc dịch

Đánh máy: casau
Nguồn: casau - VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2017

« Lùi
Lời giới thiệu Trên miệt Michigan Ông già tôi Tàn mùa Trại người da đỏ Bác sĩ và vợ bác sĩ Truyện rất ngắn Nhà cách mạng Trượt tuyết việt dã Kết thúc một vấn đề Cơn gió ba ngày Đấu sĩ Nhà của lính Chàng và nàng Elliot Con mèo trong mưa Sông lớn hai lòng - Phần I Phần II Người bất khả bại Nơi xứ lạ Rặng đồi tựa đàn voi trắng Những kẻ giết người Tổ quốc nói gì với mày? Năm mươi ngàn dollar Cuộc thẩm vấn đơn giản Mười người da đỏ Chim bạch yến cho ai Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước Hôm nay thứ Sáu Chuyện phiếm Bây giờ tôi nằm nghỉ Trên cảng Smyrna Đổi thay lớn Sau cơn bão Lịch sử tự nhiên của cái chết Một nơi sạch sẽ và sáng sủa Ánh sáng của thế giới Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn Con đường bạn sẽ chẳng hề theo Mẹ của gã pê đê Một bạn đọc viết Thụy Sĩ tôn kính Một ngày chờ đợi Con bạc, bà xơ và radio Cha và con Thủ đô của thế giới Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber Ông lão bên chiếc cầu Tố giác Con bướm và cỗ xe tăng Dưới mỏm đất Chẳng có ai chết Con sư tử tốt bụng Chú bò thủy chung Con người của thế giới Là con chó dẫn đường Người mùa hạ Câu chuyện Phi châu Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó
Tiến »