nhiều dịch giả

Truyện ngắn Ernest Hemingway

Lượt đọc: 26608 | 7 Đánh giá: 9,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Lời giới thiệu Trên miệt Michigan Ông già tôi Tàn mùa Trại người da đỏ Bác sĩ và vợ bác sĩ Truyện rất ngắn Nhà cách mạng Trượt tuyết việt dã Kết thúc một vấn đề Cơn gió ba ngày Đấu sĩ Nhà của lính Chàng và nàng Elliot Con mèo trong mưa Sông lớn hai lòng - Phần I Phần II Người bất khả bại Nơi xứ lạ Rặng đồi tựa đàn voi trắng Những kẻ giết người Tổ quốc nói gì với mày? Năm mươi ngàn dollar Cuộc thẩm vấn đơn giản Mười người da đỏ Chim bạch yến cho ai Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước Hôm nay thứ Sáu Chuyện phiếm Bây giờ tôi nằm nghỉ Trên cảng Smyrna Đổi thay lớn Sau cơn bão Lịch sử tự nhiên của cái chết Một nơi sạch sẽ và sáng sủa Ánh sáng của thế giới Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn Con đường bạn sẽ chẳng hề theo Mẹ của gã pê đê Một bạn đọc viết Thụy Sĩ tôn kính Một ngày chờ đợi Con bạc, bà xơ và radio Cha và con Thủ đô của thế giới Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber Ông lão bên chiếc cầu Tố giác Con bướm và cỗ xe tăng Dưới mỏm đất Chẳng có ai chết Con sư tử tốt bụng Chú bò thủy chung Con người của thế giới Là con chó dẫn đường Người mùa hạ Câu chuyện Phi châu Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó
Tiến »
Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước

❊ ❊ ❊

Ngay từ sáng sớm, cái nóng đã tràn xuống thung lũng. Mặt trời làm tuyết bám trên thanh trượt bọn tôi đang mang, tan đi và hong khô cánh rừng. Thung lũng hãy đang là mùa xuân nhưng thời tiết rất bức. Chúng tôi bước dọc con đường về Galtur, vai mang thanh trượt và ba lô. Khi chúng tôi đi qua sân nhà thờ, một đám tang vừa mới được cử hành xong. Tôi nói “Chào ngài” với vị linh mục lúc ông vượt qua chúng tôi, ra khỏi sân nhà thờ. Linh mục cúi đầu.

“Thực tức cười, linh mục chẳng buồn mở miệng đáp lại cậu”, John nói.

“Cậu nghĩ họ thích chào theo lối ‘Chào ngài’ ư?”

“Họ không bao giờ tỏ thái độ”, John nói.

Chúng tôi dừng bên đường, xem người trông nghĩa địa xúc đất. Gã nông dân có chòm râu đen, đi ủng da cao, đứng cạnh nấm mồ. Người trông nghĩa trang ngừng xúc, đứng thẳng lên. Gã nông dân đi ủng cao cổ, cầm xẻng, tiếp tục đắp. Gã rải đất đều như thể người ta bón phân trong vườn. Vào một buổi sáng tháng Năm rực rỡ, việc đắp mộ trông cứ như là trong mơ. Tôi chẳng thể hình dung nổi cảnh ai đó vừa qua đời.

“Thử tưởng tượng được mai táng vào một ngày giống hôm nay”, tôi bảo John.

“Tớ không thích”.

“Ừ”, tôi nói, “chính mình không nên nghĩ về điều đó”.

Chúng tôi tiếp tục bước trên đường, vượt qua nhiều ngôi nhà trong thị trấn, đến quán rượu. Suốt cả tháng, bọn tôi trượt tuyết ở Silvretta, và bây giờ, thời tiết đủ ấm để xuống thung lũng. Ở Silvretta, trượt tuyết rất tuyệt, nhưng đã sang xuân, tuyết chỉ rắn vào lúc sáng sớm và lúc gần tối. Thời gian còn lại trong ngày mặt trời làm hỏng lớp tuyết. Hai đứa đã chán ánh nắng. Bạn chẳng thể lẩn trốn được mặt trời. Mấy bóng râm duy nhất được tạo nên từ các rặng đá hoặc từ căn lều dựng dưới bóng của phiến đá cạnh dòng sông băng. Trong bóng mát, mồ hôi đông thành đá dưới đồ lót của bạn. Bạn không thể ngồi ngoài lều mà không đeo kính râm. Thực dễ chịu khi da dẻ sạm nắng, song mặt trời sẽ làm bạn mỏi mệt. Bạn không thể nghỉ ngơi dưới ánh nắng. Mình muốn về xuôi, tránh xa những ngọn đồi tuyết. Đã quá muộn vào mùa xuân để ở mãi Silvretta. Mình hơi mệt vì trượt tuyết. Bọn mình ở lại quá lâu. Mình đã nếm vị tuyết từ chiếc hộp đặt trên mái lều. Mùi vị ấy là một phần trong ký ức của mình cảm nhận về tuyết. Mình mừng vì có nhiều thú vui khác bên cạnh việc trượt tuyết, mình sung sướng vì đã rời xuống, đi xa những ngọn núi cao, trải rộng, không thực; để về thung lũng vào buổi sáng tháng Năm này.

Chủ quán ngồi trước cổng vòm, ghế ông ta tựa vào tường. Tay đầu bếp ngồi cạnh ông.

“Xin chào những vận động viên trượt tuyết”, chủ quán nói.

“Xin chào!” bọn tôi đáp rồi dựng thanh trượt vào tường và bỏ ba lô xuống.

“Trên ấy thế nào?” chủ quán hỏi.

“Rực rỡ, nắng hơi gắt”.

“Ừ, thời điểm này trong năm, trời rất nóng”.

Tay đầu bếp vẫn ngồi trên ghế. Chủ quán theo chúng tôi bước vào, mở khóa phòng ông, mang thư từ của chúng tôi ra. Có cả một bó thư và vài tờ báo.

“Bọn mình gọi bia đi”, John nói.

“Được đấy. Chúng ta sẽ uống trong này”.

Chủ quán đưa đến hai chai, bọn tôi uống trong lúc đọc thư.

“Bọn mình nên uống thêm mấy chai nữa”, John nói.

Lần này, cô phục vụ mang bia ra. Cô mỉm cười lúc mở bia.

“Nhiều thứ quá”, cô nói.

“Vâng, khá nhiều”.

“Xin mời”, cô nói rồi xách mấy chiếc vỏ đi.

“Tớ đã quên bẵng mùi bia”.

“Tớ thì không”, John nói. “Lúc nằm trong lều ở trên ấy, tớ luôn nghĩ về nó".

“Ồ”, tôi nói, “bây giờ chúng mình thưởng thức”.

“Cậu không nên bỏ một món gì đó quá lâu.”

“Đúng. Bọn mình ở trên ấy khá lâu.”

“Rõ quá là lâu”, John nói. “Chẳng tốt lành gì khi dốc hết thời gian để làm mỗi một việc”.

Mặt trời chiếu qua khung cửa sổ để ngỏ, rọi đến mấy chai bia trên bàn. Chúng chỉ còn một nửa. Trong chai, bia sùi lớp bọt mỏng bởi được ướp rất lạnh. Nó sủi bọt nhiều hơn khi bạn rót ra những chiếc ly cao. Tôi nhìn qua cửa sổ xuống con đường trắng toát. Cây cối bên lề đường phủ đầy bụi. Đằng sau là cánh đồng xanh rờn và dòng suối. Dọc theo suối, rừng cây mọc dày và có cả nhà máy cưa với cái guồng nước. Nhìn qua đầu hồi để trống của nhà máy, tôi thấy một cây gỗ lớn và lưỡi cưa đang xẻ. Dường như chẳng có ai ở đó. Trên cánh đồng xanh biếc, bốn con quạ đang bước đi. Một con đậu trên cây quan sát. Ngoài cổng, tay đầu bếp nhổm dậy khỏi ghế, đi dọc hành lang, vào bếp. Trong quán, ánh nắng chiếu xuyên qua mấy chiếc cốc trên bàn. Joln gục đầu gối lên cánh tay.

Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy hai người đàn ông bước lên bậc thềm phía trước. Họ đi vào gian giải khát. Một người là gã nông dân để râu, đi ủng cao cổ. Người kia là lão trông nghĩa địa. Họ ngồi vào bàn cạnh cửa sổ. Cô phục vụ bước đến, đứng cạnh bàn. Gã nông dân dường như không nhìn cô. Gã ngồi để tay lên bàn. Gã mặc bộ đồ lính đã cũ, khuỷu tay bị sờn.

“Gọi gì đây?” người trông nghĩa trang hỏi. Gã nông dân chẳng mảy may để ý. “Anh uống gì?”

“Schnapps” gã nông dân đáp.

“Và một phần tư lít vang đỏ”, người coi nghĩa trang bảo cô gái.

Cô gái mang thức uống ra, gã nông dân uống ly schnapps. Gã nhìn qua cửa sổ. Người coi mộ quan sát gã. John gục đầu xuống bàn. Cậu ngủ say.

Chủ quán đi lại và bước gần bàn. Ông nói bằng tiếng địa phương, người coi mồ trả lời. Gã nông dân nhìn ra cửa sổ. Chủ quán bỏ ra khỏi phòng. Gã nông dân đứng dậy, lấy tờ bạc mười ngàn kronen ra khỏi ví da, trải nó ra. Cô gái bước đến.

“Thanh toán hả?” cô hỏi.

“Thanh toán”, gã đáp.

“Để tôi trả tiền rượu vang”, người coi mồ nói.

“Thanh toán”, gã nông dân nhắc cô gái. Cô cho tay vào trong túi tạp dề, vốc ra một nắm tiền đồng, đếm trả số tiền thừa. Gã nông dân bước khỏi cửa. Ngay khi hắn đi, chủ quán lại vào phòng nói chuyện với người trông mộ. Ông ngồi cạnh bàn. Họ dùng tiếng địa phương. Người coi mồ có vẻ thích chí. Chủ quán thì ghê tởm. Người coi mồ đứng dậy - thân hình nhỏ bé, để ria mép, - chồm qua cửa sổ, cúi nhìn xuống đường.

“Đấy, hắn vào rồi”, lão nói.

“Vào Lowen?”

“Ừ”

Họ nói chuyện trở lại, rồi chủ quán đi về phía bàn chúng tôi. Chủ quán cao và già. Ông nhìn John đang ngủ.

“Cậu ấy hơi mệt”.

“Vâng, bọn cháu đi từ lúc sáng sớm”.

“Các cậu muốn ăn ngay chứ?”

“Lúc nào cũng được”, tôi đáp. “Bác có gì ăn?”

“Bất cứ món gì cậu thích. Cô phục vụ sẽ đưa thực đơn đến”.

Khi cô gái mang thực đơn tới, John thức giấc. Thực đơn được viết bằng mực trên giấy cứng, lồng trong khung gỗ.

“Có món speise - karte”, tôi bảo John. Cậu ta nhìn vào thực đơn nhưng hãy còn ngái ngủ.

“Bác có thể ngồi uống với bọn cháu chứ?” tôi mời chủ quán. Ông ngồi xuống.

“Đám nông dân ấy thật man rợ”, chủ quán nói.

“Chúng cháu thấy một người dự đám tang trong thị trấn”.

“Người quá cố là vợ gã”.

“Ồ”.

“Hắn là đồ súc vật. Cả lũ nông dân ấy cũng là đồ súc sinh”.

“Chuyện gì vậy hở bác?”

“Các cậu không thể tưởng tượng được đâu. Cậu chẳng thể nào tin câu chuyện đã xảy ra với con người xấu số ấy”.

“Kể bọn cháu nghe đi”.

“Cậu chẳng thể nào tin được”, Chủ quán nói với người coi mồ. “Franz đến đây”. Lão bước đến, tay xách theo chai vang nhỏ và cái ly.

“Quý khách đây vừa mới từ Wiesbadenerhutte xuống”, chủ quán nói. Chúng tôi bắt tay.

“Bác uống gì?” tôi hỏi.

“Không uống”, Franz xua xua tay.

“Một phần tư lít nữa nhé?”

“Thôi cũng được”.

“Cậu có hiểu phương ngữ không?” chủ quán hỏi.

“Dạ, không ạ”.

“Chuyện gì vậy?” John hỏi.

“Bác ấy sắp kể cho chúng ta nghe chuyện của người nông dân bọn mình thấy đào đất đắp mộ lúc vào thị trấn”.

“Nhưng, tớ không thể hiểu”, John nói. “Nhanh quá”.

“Gã nông dân đó”, chủ quán nói, “hôm nay làm lễ tang cho vợ. Cô ta chết từ tháng Mười một năm ngoái”.

“Tháng Mười hai”, người trông mộ sửa lại.

“Chẳng có gì khác cả. Vậy thì cô ta chết vào tháng Mười hai năm ngoái, và hắn đã báo cho xã”.

“Ngày 18 tháng 12”, người trông mộ nói.

“Dẫu sao thì hắn cũng không thể mai táng cô ấy cho đến khi tuyết tan”.

“Hắn sống ở khu bên kia Paznaun”, người coi mồ nói. “Nhưng vẫn thuộc xứ đạo này.”

“Anh ta chẳng thể nào xoay xở để an táng cô ấy ư?” tôi hỏi.

“Không thể. Hắn chỉ có thể đi lại từ nơi hắn ở đến đây bằng ván trượt cho đến lúc tuyết tan. Hôm nay, hắn đưa vợ đi chôn và linh mục, khi nhìn mặt cô ấy đã không muốn làm lễ mai táng. Chú kể tiếp đi”, ông bảo người trông mộ. “Nói tiếng Đức chứ không dùng phương ngữ”.

“Trông linh mục thực buồn cười”, người coi mồ nói. “Theo báo cáo của xã, cô ấy chết vì bệnh tim. Chúng tôi biết cô ta mắc bệnh tim. Đôi lúc trong buổi lễ, mặt cô ta tái mét. Từ lâu, cô không đến nhà thờ. Cô không đủ sức leo núi. Khi linh mục mở tấm chăn che mặt cô ta ra, cha hỏi Olz, “Vợ con có đau đớn lắm không?” “Không”, Olz đáp. “Lúc con về nhà cô ấy đã chết, nằm vắt qua giường”.

“Cha nhìn mặt cô ấy lần nữa. Cha không muốn nhìn”.

“Sao mặt vợ con lại ra nông nỗi này?”

“Con không biết”, Olz trả lời.

“Tốt hơn hết con phải thành thật nói ra”, cha khuyên rồi đắp tấm chăn trở lại. Olz im lặng. Cha nhìn hắn. Olz nhìn cha. “Cha thực muốn biết sao?”

“Cha phải biết”, linh mục nói.

“Đây là đoạn hay hớm nhất”, chủ quán nói, “Hãy lắng nghe. Kể tiếp đi Franz”.

“Được”, Olz nói. “Khi cô ấy mất con đã viết báo cáo gởi lên xã rồi con đặt cô ấy vào nhà kho, nằm vắt ngang trên đầu cây gỗ lớn. Lúc con bắt đầu dùng đến cây gỗ đó, cô ấy đã cứng, con dựng tựa vào tường. Miệng cô ấy há ra, rồi khi xuống kho vào buổi tối để cưa cây gỗ, con treo chiếc đèn lồng lên miệng cô ấy”.

“Tại sao con lại làm như thế?” Cha hỏi.

“Con làm việc ấy nhiều lần có phải không?”

“Mỗi lần con phải làm việc trong nhà kho vào buổi tối”.

“Việc làm đó thật tội lỗi”, cha nói. “Con có yêu vợ con không?”

“Vâng con yêu cô ấy”, Olz nói. “Con rất yêu cô ấy!”

“Các cậu nghe rõ cả chứ?” chủ quán hỏi. “Các cậu đã hiểu tất cả về vợ hắn chưa?”

“Cháu hiểu”.

“Ăn gì đây?” John hỏi.

“Tùy cậu”, tôi đáp. “Theo bác, chuyện ấy có thật không?” Tôi hỏi chủ quán.

“Chắc chắn thật”, ông đáp. “Lũ nông dân ấy là đồ súc sinh”.

“Bây giờ anh ta đi đâu?”

“Hắn đến uống ở Lowen - quán của đồng nghiêp bác”.

“Hắn không thích uống với tôi”, người coi mộ nói.

“Hắn không muốn uống với tôi, sau khi hắn hiểu chuyện đã xảy ra với vợ hắn”, chủ quán nói.

“Nào”, John nói. “Có ăn không đây?”

“Được rồi”, tôi đáp.

Lê Huy Bắc dịch

Đánh máy: casau
Nguồn: casau - VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2017

« Lùi
Lời giới thiệu Trên miệt Michigan Ông già tôi Tàn mùa Trại người da đỏ Bác sĩ và vợ bác sĩ Truyện rất ngắn Nhà cách mạng Trượt tuyết việt dã Kết thúc một vấn đề Cơn gió ba ngày Đấu sĩ Nhà của lính Chàng và nàng Elliot Con mèo trong mưa Sông lớn hai lòng - Phần I Phần II Người bất khả bại Nơi xứ lạ Rặng đồi tựa đàn voi trắng Những kẻ giết người Tổ quốc nói gì với mày? Năm mươi ngàn dollar Cuộc thẩm vấn đơn giản Mười người da đỏ Chim bạch yến cho ai Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước Hôm nay thứ Sáu Chuyện phiếm Bây giờ tôi nằm nghỉ Trên cảng Smyrna Đổi thay lớn Sau cơn bão Lịch sử tự nhiên của cái chết Một nơi sạch sẽ và sáng sủa Ánh sáng của thế giới Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn Con đường bạn sẽ chẳng hề theo Mẹ của gã pê đê Một bạn đọc viết Thụy Sĩ tôn kính Một ngày chờ đợi Con bạc, bà xơ và radio Cha và con Thủ đô của thế giới Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber Ông lão bên chiếc cầu Tố giác Con bướm và cỗ xe tăng Dưới mỏm đất Chẳng có ai chết Con sư tử tốt bụng Chú bò thủy chung Con người của thế giới Là con chó dẫn đường Người mùa hạ Câu chuyện Phi châu Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó
Tiến »