nhiều dịch giả

Truyện ngắn Ernest Hemingway

Lượt đọc: 26598 | 7 Đánh giá: 9,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Lời giới thiệu Trên miệt Michigan Ông già tôi Tàn mùa Trại người da đỏ Bác sĩ và vợ bác sĩ Truyện rất ngắn Nhà cách mạng Trượt tuyết việt dã Kết thúc một vấn đề Cơn gió ba ngày Đấu sĩ Nhà của lính Chàng và nàng Elliot Con mèo trong mưa Sông lớn hai lòng - Phần I Phần II Người bất khả bại Nơi xứ lạ Rặng đồi tựa đàn voi trắng Những kẻ giết người Tổ quốc nói gì với mày? Năm mươi ngàn dollar Cuộc thẩm vấn đơn giản Mười người da đỏ Chim bạch yến cho ai Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước Hôm nay thứ Sáu Chuyện phiếm Bây giờ tôi nằm nghỉ Trên cảng Smyrna Đổi thay lớn Sau cơn bão Lịch sử tự nhiên của cái chết Một nơi sạch sẽ và sáng sủa Ánh sáng của thế giới Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn Con đường bạn sẽ chẳng hề theo Mẹ của gã pê đê Một bạn đọc viết Thụy Sĩ tôn kính Một ngày chờ đợi Con bạc, bà xơ và radio Cha và con Thủ đô của thế giới Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber Ông lão bên chiếc cầu Tố giác Con bướm và cỗ xe tăng Dưới mỏm đất Chẳng có ai chết Con sư tử tốt bụng Chú bò thủy chung Con người của thế giới Là con chó dẫn đường Người mùa hạ Câu chuyện Phi châu Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó
Tiến »
Nơi xứ lạ

❊ ❊ ❊

Mùa thu, chiến tranh vẫn đang tiếp diễn nơi ấy, nhưng chúng tôi không tham dự. Ở Milan, trời lạnh vào mùa thu và tối rất sớm. Khi đèn được bật sáng, thật dễ chịu lúc đi dọc phố ngắm các tủ kính bày hàng. Có rất nhiều thú săn treo bên ngoài các cửa hàng, tuyết rắc trắng trên những bộ lông cáo và gió vờn đuôi của chúng. Xác hươu đông cứng, nặng nề và rỗng ruột. Những con chim nhỏ đung đưa theo làn gió và gió thổi xù lông chúng. Gió từ những ngọn núi cao tràn xuống trong mùa thu lạnh.

Buổi chiều, cả bọn đều ở bệnh viện. Vào lúc hoàng hôn, có nhiều lối khác nhau để đi từ thị trấn về bệnh viện. Hai trong những lối ấy là đi dọc theo những con kênh, song chúng khá xa. Dầu sao thì bạn cũng phải băng qua chiếc cầu bắc trên kênh để vào bệnh viện. Có ba chiếc để bạn chọn. Một chiếc có người đàn bà bán hạt dẻ rang. Bạn sẽ cảm nhận được hơi ấm khi đứng trước lò than hồng của bà. Còn hạt dẻ thì vẫn ấm rất lâu khi bạn đút vào túi. Bệnh viện đã cũ nhưng rất đẹp. Bạn đi vào cổng, băng qua sân và có thể ra ngoài bằng cửa khác. Nhiều người chết ở bệnh viện. Tang lễ thường được cử hành ở trong sân. Đằng kia bệnh viện cũ kỹ là khu nhà mới lợp ngói. Nơi đó, một buổi chiều, chúng tôi gặp nhau, mọi người rất lịch sự và hào hứng trước bất kỳ chuyện gì, cả bọn ngồi vào những cỗ máy được thiết kế để điều trị những vết thương khác nhau.

Bác sĩ đến cỗ máy nơi tôi đang ngồi và hỏi: “Trước chiến tranh, anh thích làm gì nhất? Anh có chơi thể thao không?”

Tôi đáp: “Có, bóng đá”.

“Tốt”, ông ta nói. “Anh có thể chơi bóng trở lại, tốt hơn xưa”.

Đầu gối của tôi không gập được. Chân tôi không có bắp. Nó cứ thẳng đơ từ gối cho đến mắt cá. Chiếc máy giúp tôi co duỗi. Động tác của nó y hệt như lúc tôi ngồi đạp xe ba bánh [1]. Nhưng tôi vẫn chưa co được dẫu cho chiếc máy lắc lư khi cố gập dần cái chân. Bác sĩ bảo: “Tất cả sẽ ổn. Anh là người may mắn. Anh có thể đá bóng trở lại như một nhà vô địch”.

Trên cỗ máy bên cạnh là thiếu tá, người có bàn tay nhỏ xíu giống như tay của một đứa trẻ. Gã nháy mắt với tôi khi bác sĩ khám tay. Bàn tay được đặt giữa hai sợi dây da mà có thể làm nó nảy lên nảy xuống và giúp những ngón tay cứng cử động. Gã hỏi: “Và tôi cũng có thể đá bóng chứ, thưa đại úy bác sĩ?" Gã là một tay kiếm cừ khôi, trước chiến tranh, gã là người đấu kiếm giỏi nhất Italy.

Bác sĩ quay vào văn phòng ở phía sau rồi mang ra bức ảnh chụp một bàn tay trước đây cũng quắt nhỏ như tay của thiếu tá, nhưng sau khi được điều trị bằng máy, bàn tay ấy có nhỉnh hơn chút xíu. Thiếu tá giữ nó trong bàn tay lành, quan sát kỹ lưỡng. “Vết thương hả?” gã hỏi.

“Tai nạn công nghiệp”, bác sĩ nói.

“Thật thú vị, thật thú vị”, thiếu tá nói, và trao nó lại cho bác sĩ.

“Anh tin chứ?”

“Không”, thiếu tá đáp.

Có ba gã trạc tuổi tôi, đều đến đây hàng ngày. Bọn họ gốc người Milan. Một trong ba sắp là luật sư. Người nữa sẽ là họa sĩ. Gã còn lại dự định sẽ trở thành quân nhân. Sau thời gian điều trị trong ngày bằng máy, thỉnh thoảng, bọn tôi cùng nhau đi đến tiệm cà phê Cova, sát bên cạnh Scala. Do cả bốn đứa cùng đi, nên chúng tôi rẽ tắt qua khu cộng sản. Mọi người ghét chúng tôi bởi vì chúng tôi là sĩ quan. Từ quán ruợu, ai đó hét với ra: “A basso gli ufficiali!” [2] khi chúng tôi đi qua. Cũng còn một gã nữa, đôi khi nhập hội với bọn tôi và nhờ buộc chiếc khăn mùi xoa lụa màu đen che ngang mặt bởi mũi của hắn chẳng còn. Mặt hắn đang được chỉnh hình. Từ học viện quân sự, vừa đến mặt trận thì hắn liền nhận ngay một cú vào mặt trong vòng một tiếng đồng hồ ngay lần đầu tiên đặt chân lên tuyến trước. Người ta đã tiến hành phẫu thuật thẩm mỹ cho hắn, nhưng do xuất thân từ một gia đình có quan niệm cổ hủ nên họ chẳng bao giờ chỉnh được cái mũi cho vừa ý hắn. Hắn đến Nam Phi, làm việc ở một nhà băng. Song đấy lại là thời trước cơ. Lúc ấy, chẳng một ai trong bọn tôi biết được điều gì sẽ xảy ra. Chúng tôi chỉ hay sẽ thường xuyên có chiến tranh nhưng chúng tôi sẽ chẳng bao giờ tham gia.

Bọn tôi đều được tặng huy chương, trừ gã mang chiếc băng lụa đen trên mặt vì gã chẳng ở tiền tuyến đủ lâu để được tặng huy chương. Gã cao lêu nghêu, có khuôn mặt tái nhợt, người trước đây suýt thành luật sư, là trung úy lục quân Arditi. Gã đã nhận ba huy chương các loại mà mỗi đứa chúng tôi chỉ có một. Gã đã sống một thời gian dài bên cạnh cái chết và là kẻ hơi cách biệt. Tất cả bọn tôi, cũng đều hơi giữ khoảng cách! Chẳng có gì ràng buộc bọn tôi với nhau ngoại trừ mỗi buổi chiều chúng tôi tập trung ở bệnh viện. Mặc dầu khi đi tắt qua khu vực “nóng nhất” của thị trấn trong bóng tối, nơi vài tia sáng và tiếng hát vọng ra từ các quầy rượu, để đến Cova; thỉnh thoảng bọn tôi phải bước xuống lòng đường vì có nhiều đàn ông, đàn bà đứng đông nghẹt trên lề đường đến nỗi chúng tôi sẽ phải len qua họ để đi qua, lúc ấy chúng tôi cảm nhận được sự đoàn kết của cả bọn bởi chúng tôi ý thức được điều gì đó xảy ra mà những người thù hận bọn tôi không hiểu.

Cả bọn thích Cova. Nơi đó trông dễ chịu, ấm áp và không quá sáng; khói và tiếng ồn chỉ xảy ra ở vào những thời điểm nhất định. Các cô phục vụ luôn có mặt ở cạnh bàn. Những tờ báo có hình minh họa được xếp vào giá treo trên tường. Các cô gái ở Cova rất yêu nước. Tôi nghĩ những người yêu nước nhất ở Italy là các cô gái bán cà phê và tôi tin họ mãi vẫn còn yêu nước.

Ban đầu, những gã ấy rất kính trọng các huy chương của tôi và hỏi tôi đã làm gì để được tặng thưởng. Tôi cho chúng xem những giấy tờ được viết bằng kiểu chữ rất đẹp, đầy rẫy những fratellanza và abnegazione [3]. Song nếu bỏ hết những tính từ hoa mỹ ấy, thực sự mà nói, người ta tặng tôi huân chương chỉ vì tôi là người Mỹ. Sau chuyện đó, cái nhìn của họ về tôi có hơi khác, mặc dù họ vẫn xem tôi là bạn để chống lại những người bên ngoài. Tôi là bạn nhưng sẽ chẳng bao giờ thực sự là thành viên trong nhóm, sau khi họ đọc được lời tuyên dương công trạng của tôi; bởi vì nó khác với họ, họ phải làm những điều khác hẳn để được tặng huy chương. Tôi bị thương, chuyện ấy có thực, nhưng bọn tôi biết rằng vết thương theo kiểu đó rõ ràng chỉ do sự tình cờ. Dầu sao tôi cũng chẳng bao giờ xấu hổ về những tấm huy chương ấy và đôi lúc, sau nhiều giờ uống cốc-tai, tôi tưởng bản thân mình cũng đã làm tất cả mọi thứ như họ để được nhận huy chương; nhưng buổi tối khi quay về nhà dọc theo các con phố vắng, qua những cơn gió lạnh và các quầy hàng đã đóng cửa, cố đi gần những ngọn đèn đường, tôi biết mình đã chẳng bao giờ làm được điều đó vì tôi rất sợ chết và thường xuyên mất ngủ bởi sợ chết và tự hỏi mình sẽ ra sao nếu phải trở lại chiến tuyến một lần nữa.

Ba gã được tặng huy chương trông rất hiếu chiến. Tôi không phải là người hiếu chiến. Dầu cho tôi có thể bị xem là hiếu chiến khi so với những người chả bao giờ đi săn. Bọn chúng, cả ba, đều ý thức được điều ấy và như thế chúng tôi chia tay nhau. Nhưng tôi vẫn còn chơi với một gã, người bị thương ngay trong ngày đầu tiên ra trận. Bởi vì giờ đây hắn chẳng hề biết mình sẽ trở thành kiểu người nào; như thế hắn cũng chẳng được thừa nhận và tôi mến hắn còn bởi lẽ tôi nghĩ chắc hẳn hắn sẽ không trở thành một kẻ hiếu chiến.

Thiếu tá, người đã từng là tay kiếm nổi tiếng, không tin lòng dũng cảm, đã dành nhiều thời gian khi chúng tôi điều trị trên máy để chữa ngữ pháp cho tôi. Gã khen khả năng tiếng Italy của tôi. Chúng tôi nói chuyện với nhau rất dễ dàng. Ngày nọ tôi bảo tiếng Italy dường như là ngôn ngữ cực dễ đối với tôi và tôi không cần phải mất nhiều thời gian cho nó; mọi thứ quá dễ để nói. “À. Ừ”, Thiếu tá lên tiếng. “Vậy thì tại sao anh không học ngữ pháp?” Thế là tôi bắt đầu nghiên cứu ngữ pháp, và chẳng mấy chốc tôi nhận thấy tiếng Italy quả là một ngôn ngữ cực khó và tôi ngại đối thoại với gã cho đến khi tôi sử dụng thành thạo ngữ pháp.

Thiếu tá đến bệnh viện rất đều đặn. Tôi không nghĩ gã đã bỏ một buổi nào, mặc dù tôi chắc gã chẳng tin gì vào những chiếc máy. Đã có lần chẳng một ai trong bọn tôi tin vào những cỗ máy ấy, và đã có lần thiếu tá gọi chúng là đồ vô tích sự. Lúc ấy, những chiếc máy mới được đưa về và chúng tôi trở thành công cụ để chứng minh giá trị của chúng. “Một ý tướng ngu ngốc”, gã nói, “một lý thuyết thì luôn giống như mọi lý thuyết”. Khi tôi không chịu học ngữ pháp, gã mắng tôi là một kẻ bất lực dốt nát và gã cũng là thằng ngu mới phí thời giờ với tôi. Gã nhỏ con, luôn ngồi ngay ngắn trên ghế, bàn tay phải đút vào máy, nhìn thẳng về bức tường trước mặt trong khi những sợi dây da xát nhẹ, làm nẩy những ngón tay.

“Mày sẽ làm gì khi chiến tranh chấm dứt, giả dụ như nó chấm dứt,” gã hỏi. “Nói đúng ngữ pháp vào!”

“Tôi sẽ về Mỹ”.

“Mày đã lập gia đình chưa?”.

“Chưa, nhưng tôi sẽ”.

“Thế thì mày là thằng đại ngốc”, gã nói. Gã dường như rất giận. “Đàn ông không nên lấy vợ”.

“Tại sao, thưa signor Maggiore [4]”

“Đừng gọi tao là signor Maggiore”.

“Tại sao đàn ông không nên lấy vợ?”

“Hắn không thể cưới vợ. Hắn không thể cưới vợ”, gã giận dữ nói. “Nếu hắn sẽ mất mọi thứ, hắn đừng nên đặt bản thân vào vị trí mất đó. Hắn đừng nên đặt bản thân vào vị trí mất mát. Hắn nên tìm những gì mà hắn không thể mất”. Gã giận dữ và cay đắng, mắt nhìn thẳng về phía trước trong khi nói.

“Nhưng tại sao hắn lại để mất nó?”

“Hắn sẽ mất nó”, thiếu tá nói. Gã đang nhìn bức tường. Sau đó gã nhìn xuống cỗ máy, giật bàn tay nhỏ của gã ra khỏi những sợi dây rồi đập mạnh nó xuống đùi. “Hắn sẽ mất nó”, gã gần như thét lên. “Đừng cãi tao!” Gã gọi người điều khiển máy. “Tắt cái đồ chết tiệt này đi”.

Gã quay vào phòng khác để chiếu điện và xoa bóp. Lát sau tôi nghe tiếng gã hỏi xin phép bác sĩ sử dụng điện thoại rồi gã đóng cửa. Khi gã quay trở lại phòng, tôi đang ngồi trên cỗ máy khác. Gã mặc áo khoác, đội mũ, đi thẳng về phía máy của tôi và đặt tay lên vai tôi.

“Xin lỗi”, gã nói, và vỗ vào vai tôi bằng bàn tay lành. “Đáng lẽ tôi không nên thô lỗ. Vợ tôi vừa mới mất. Anh thứ lỗi cho".

“Ồ”, tôi thốt lên, cảm thấy xót xa cho gã. “Tôi lấy làm tiếc”.

Gã đứng đó, đang cắn cắn môi dưới. “Quả thật là khó”, gã nói. “Tôi không thể tự chủ”.

Gã nhìn thẳng qua tôi ra cửa sổ rồi bật khóc. “Tôi hoàn toàn không thể để mặc cho số phận”. Gã nói, cố nuốt nước mắt rồi lại khóc. Đầu gã thẳng đứng, mắt nhìn vào khoảng không, thân hình đứng thẳng theo tác phong của lính, nước mắt chảy dài trên má, cắn chặt môi, gã bước qua những cỗ máy, đi ra ngoài.

Bác sĩ nói với tôi rằng vợ của thiếu tá còn rất trẻ và người mà gã mới cưới sau khi bị thương đã chết vì bị viêm phổi. Cô ta chỉ ốm có mấy ngày. Chẳng ai ngờ cô ta chết. Thiếu tá không đến bệnh viện suốt ba ngày liền. Sau đấy gã đến vào một giờ đều đặn, chiếc băng đen luôn đeo trên tay áo bộ quân phục. Khi gã trở lại, có nhiều bức ảnh lớn được đóng khung treo trên tường. Những bức ảnh chụp các vết thương trước và sau khi được điều trị bằng máy. Trước cỗ máy thiếu tá sử dụng là ba bức ảnh chụp những bàn tay, giống như tay của gã đã được phục hồi hoàn toàn. Tôi không biết bác sĩ kiếm nó ở đâu. Tôi luôn nhớ bọn tôi là những người đầu tiên sử dụng máy. Những bức ảnh không gây nhiều ấn tượng cho thiếu tá bởi lẽ gã chỉ luôn nhìn ra cửa sổ.

Lê Huy Bắc dịch

Chú thích:

[1] Loại xe có một bánh trước và hai bánh sau.

[2] “Hạ bệ bọn sĩ quan!” (Tiếng Italy).

[3] Hữu nghị và xả thân (tiếng Italy).

[4] Ngài thiếu tá.

Đánh máy: casau
Nguồn: casau - VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2017

« Lùi
Lời giới thiệu Trên miệt Michigan Ông già tôi Tàn mùa Trại người da đỏ Bác sĩ và vợ bác sĩ Truyện rất ngắn Nhà cách mạng Trượt tuyết việt dã Kết thúc một vấn đề Cơn gió ba ngày Đấu sĩ Nhà của lính Chàng và nàng Elliot Con mèo trong mưa Sông lớn hai lòng - Phần I Phần II Người bất khả bại Nơi xứ lạ Rặng đồi tựa đàn voi trắng Những kẻ giết người Tổ quốc nói gì với mày? Năm mươi ngàn dollar Cuộc thẩm vấn đơn giản Mười người da đỏ Chim bạch yến cho ai Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước Hôm nay thứ Sáu Chuyện phiếm Bây giờ tôi nằm nghỉ Trên cảng Smyrna Đổi thay lớn Sau cơn bão Lịch sử tự nhiên của cái chết Một nơi sạch sẽ và sáng sủa Ánh sáng của thế giới Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn Con đường bạn sẽ chẳng hề theo Mẹ của gã pê đê Một bạn đọc viết Thụy Sĩ tôn kính Một ngày chờ đợi Con bạc, bà xơ và radio Cha và con Thủ đô của thế giới Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber Ông lão bên chiếc cầu Tố giác Con bướm và cỗ xe tăng Dưới mỏm đất Chẳng có ai chết Con sư tử tốt bụng Chú bò thủy chung Con người của thế giới Là con chó dẫn đường Người mùa hạ Câu chuyện Phi châu Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó
Tiến »