nhiều dịch giả

Truyện ngắn Ernest Hemingway

Lượt đọc: 26588 | 7 Đánh giá: 9,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Lời giới thiệu Trên miệt Michigan Ông già tôi Tàn mùa Trại người da đỏ Bác sĩ và vợ bác sĩ Truyện rất ngắn Nhà cách mạng Trượt tuyết việt dã Kết thúc một vấn đề Cơn gió ba ngày Đấu sĩ Nhà của lính Chàng và nàng Elliot Con mèo trong mưa Sông lớn hai lòng - Phần I Phần II Người bất khả bại Nơi xứ lạ Rặng đồi tựa đàn voi trắng Những kẻ giết người Tổ quốc nói gì với mày? Năm mươi ngàn dollar Cuộc thẩm vấn đơn giản Mười người da đỏ Chim bạch yến cho ai Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước Hôm nay thứ Sáu Chuyện phiếm Bây giờ tôi nằm nghỉ Trên cảng Smyrna Đổi thay lớn Sau cơn bão Lịch sử tự nhiên của cái chết Một nơi sạch sẽ và sáng sủa Ánh sáng của thế giới Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn Con đường bạn sẽ chẳng hề theo Mẹ của gã pê đê Một bạn đọc viết Thụy Sĩ tôn kính Một ngày chờ đợi Con bạc, bà xơ và radio Cha và con Thủ đô của thế giới Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber Ông lão bên chiếc cầu Tố giác Con bướm và cỗ xe tăng Dưới mỏm đất Chẳng có ai chết Con sư tử tốt bụng Chú bò thủy chung Con người của thế giới Là con chó dẫn đường Người mùa hạ Câu chuyện Phi châu Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó
Tiến »
Chim bạch yến cho ai

❊ ❊ ❊

Tàu hỏa chạy rất nhanh qua ngôi nhà xây bằng đá màu đỏ với vườn cây, qua bốn cây cọ rậm rạp tỏa bóng mát lên những dãy bàn bên dưới. Phía bên kia là biển. Rồi một con đường cắt ngang qua vùng đá đỏ và đất sét; biển chỉ còn thấp thoáng mãi xa bên dưới bờ đá.

“Tôi mua nó ở Palermo”, phu nhân người Mỹ nói. “Vào buổi sáng Chủ nhật đó, chúng tôi chỉ được ở trên bờ trong vỏng một tiếng đồng hồ. Gã đàn ông muốn trả bằng đô-la và tôi đã trả hắn một đô rưỡi. Nó hót rất hay”.

Xe lửa rất nóng và ngay cả toa dành cho khách quý cũng hầm hập. Không có lấy một chút gió nhẹ thổi qua ô cửa sổ để ngỏ. Phu nhân Mỹ hạ rèm cửa sổ xuống, chúng tôi không còn thấy biển nữa, ngay cả thấp thoáng. Phía bên kia là tấm kính, tiếp đến là hành lang, ô cửa sổ để ngỏ và bên ngoài là rừng cây phủ đầy bụi bặm, một con đường rải nhựa, những cánh đồng nho bằng phẳng trải dài đến những ngọn đồi đầy đá xám.

Khói tuôn lên từ những ống khói cao - đang chạy vào Marseilles, xe lửa giảm dần tốc độ, chạy trên tuyến đường xuyên qua nhiều tuyến đường khác vào sân ga. Xe lửa đỗ lại ga Marseilles hai mươi lăm phút, phu nhân Mỹ mua một tờ “The daily Mail” và nửa chai nước Evian. Bà ta đi dạo trên sân ga nhưng chỉ quanh quẩn bên toa xe bởi vì ở Cannes, nơi tàu dừng lại mười hai phút rồi rời đi mà không báo hiệu khởi hành và bà ta may còn kịp bám lên cửa toa. Phu nhân Mỹ hơi bị điếc nên bà ta nghĩ rằng có lẽ người ta đã kéo còi hiệu khởi hành nhưng bà ta lại không nghe thấy.

Tàu hỏa rời sân ga Marseilles, quay nhìn lại ta thấy không chỉ những tuyến đường nối toa, cả xưởng đang tỏa khói mà còn cả thị trấn Marseilles, bến cảng với những đồi đá phía sau và ánh hoàng hôn đang đọng trên mặt nước. Khi trời dần tối, tàu vượt qua một ngôi nhà đang bốc cháy trên cánh đồng. Ô-tô bị nghẽn lại dọc theo con đường, ổ rơm, đồ đạc từ trong nhà được khuân quẳng khắp nơi trên cánh đồng. Nhiều người đang đứng xem ngôi nhà cháy. Sau khi trời tối, tàu đến Avignon. Hành khách lên và xuống tàu. Tại quầy báo, một người Pháp đang mua mấy tờ báo bằng tiếng Pháp phát hành trong ngày hôm đó. Trên sân ga có nhiều binh lính da đen. Họ mặc đồng phục màu nâu, vóc người cao, gương mặt sáng bóng do đứng sát ánh đèn cao áp. Da mặt họ rất đen và chiều cao của họ khiến người ngồi trên toa khó có thể nhìn thấy mặt. Tàu rời Avignon, toán lính da đen vẫn đứng đó. Một trung sĩ người da trắng thấp hơn đang đứng với họ.

Bên trong toa dành cho khách quý, nhân viên phục vụ kéo ba chiếc giường tựa sát vách xuống, chuẩn bị cho hành khách ngủ. Trong đêm, phu nhân người Mỹ nằm, không ngủ được bởi đây là chuyến tàu tốc hành, chạy rất nhanh mà bà ta lại sợ tốc độ trong đêm tối. Giường của phu nhân người Mỹ gần cửa sổ. Chim bạch yến mua từ Palermo được phủ khăn treo bên ngoài khu vực hành lang dẫn vào buồng vệ sinh. Bên ngoài toa, ánh đèn màu xanh đang tỏa sáng, suốt đêm tàu chạy rất nhanh còn bà ta thì cứ thức nơm nớp sợ tàu trật bánh.

Đến sáng, tàu tới gần Paris, sau khi phu nhân người Mỹ ra khỏi buồng vệ sinh, trông bà ta rất tươi tắn, rất đứng đắn và rất Mỹ dẫu suốt đêm không ngủ, bà ta gỡ chiếc khăn khỏi lồng chim, treo nó ra chỗ có ánh nắng rồi đến toa ăn để ăn sáng. Khi bà ta trở lại toa dành cho khách hạng một, mấy chiếc giường đã được đẩy vào sát vách để lấy chỗ ngồi, chim bạch yến đang rũ lông trong ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ, tàu đến gần Paris hơn.

“Nó thích mặt trời”, phu nhân người Mỹ nói. “Chỉ lát nữa thôi nó sẽ hót”. Chim bạch yến rũ lông rồi đưa mỏ rỉa. “Tôi rất thích loài chim”, phu nhân nói. “Tôi mang nó về cho con gái út. Đấy - nó sắp hót đấy”.

Bạch yến hót líu lo, lông trên cổ nó dụng lên, sau đó nó hạ mỏ xuống rồi lại rỉa lông. Đoàn tàu băng qua một con sông và từ từ hướng tới cánh rừng. Tàu đi qua nhiều cánh rừng bên ngoài Paris. Có nhiều xe điện trong thành phố, nhiều quảng cáo đồ sộ cho Belle Jardinirène. Dubonnet và Pernod trên những bức tường chạy ngược với tàu hỏa. Hình như tàu hỏa đã chạy qua những vùng ấy trước bữa ăn sáng. Trong vài phút, tôi đã không lắng nghe lời của phu nhân người Mỹ đang nói chuyện với vợ tôi.

“Chồng chị là người Mỹ à?” bà ta hỏi.

“Vâng”, vợ tôi đáp. “Cả hai chúng tôi đều là người Mỹ”.

“Tôi cứ nghĩ chị là người Anh cơ chứ?”

“Ồ, không”.

“Có lẽ là bởi vì tôi mang dây đeo quần”, tôi nói. Tôi định nói là dây treo quần nhưng khi mở miệng lại nói thành dây đeo quần, theo cách diễn đạt sặc mùi Anh của tôi. Phu nhân người Mỹ không nghe rõ. Bà ta thực sự hơi điếc; bà ta hiểu bằng cách quan sát môi của người đối thoại, tôi không nhìn bà ta nữa. Tôi nhìn ra cửa sổ. Bà ta tiếp tục nói chuyện với vợ tôi.

“Tôi rất lấy làm mừng vì các bạn là người Mỹ. Đàn ông Mỹ là những người chồng tốt nhất”, phu nhân Mỹ tiếp tục nói. “Đó là lý do tại sao chúng ta rời bỏ châu Âu. Chị biết không, con gái tôi đã phải lòng một gã ở Vevey”. Bà ta dừng một lát. “Chúng đang phát điên lên vì yêu”, bà ta dừng lại. “Tôi đã tách cháu ra, tất nhiên”.

“Cô bé có chịu đựng nổi không?” vợ tôi hỏi.

“Tôi không cho là thế”, phu nhân người Mỹ đáp. “Nó chẳng ăn, chẳng ngủ gì cả. Tôi cố hết sức xoay xở nhưng dường như nó không quan tâm gì cả. Nó chẳng quan tâm đến bất kỳ thứ gì nữa. Tôi không thể để nó lấy một người ngoại quốc được”. Bà ta nghỉ một lát. “Một người, một người bạn rất tốt có lần đã bảo tôi chẳng có thằng cha ngoại quốc nào lại có thể trở thành một người chồng tốt cho một cô gái Mỹ”.

“Không” vợ tôi nói. “Tôi không cho là như thế?”

Phu nhân người Mỹ tỏ ý thán phục chiếc áo khoác du lịch của vợ tôi và hóa ra là đã hai mươi năm nay, phu nhân người Mỹ đã đặt mua quần áo tại một cửa hiệu ở đại lộ Sam Honoré. Họ giữ số đo của bà ta rồi một thợ may khéo tay, người biết và hiểu sở thích của bà ta đã cắt may quần áo rồi gửi sang Mỹ. Số quần áo ấy được chuyển đến bưu điện gần nơi bà ta sống, ở khu dân cư của New York. Thuế má chẳng phải là cao quá bởi vì chúng được mở ra ở bưu điện để người ta định giá, các kiểu quần áo ấy luôn đơn giản, không viền đăng ten bằng vàng, không dính những đồ trang sức có giá trị để làm cho chúng trông sang trọng hẳn lên. Trước cô thợ may bây giờ, tên là Thésèse, đã có một người khác, tên là Amélie. Tới lui chỉ có hai người đó trong suốt gần hai mươi năm trời nay. Mẫu mã thì cũng chỉ bấy nhiêu thôi.

Giá cả thì dù sao cũng nhỉnh chút ít. Nhưng chuyển qua hối đoái thì chẳng hơn được một xu so với trước đây. Bây giờ họ cũng giữ số đo của con gái bà. Cô ta đã trưởng thành nhưng mẫu mã quần áo của họ đến nay cũng chẳng thay đổi nhiều.

Bây giờ đoàn tàu đang đi vào Paris. Hệ thống phòng thủ đã được san phẳng nhưng cỏ chưa mọc lên. Có rất nhiều toa xe đang đỗ trên đường ray - những toa xe bán đồ ăn bằng gỗ màu nâu, những toa dùng để ngủ cũng màu nâu sẽ đi Ý vào lúc năm giờ tối hôm ấy, nếu chuyến tàu đó vẫn khởi hành vào lúc năm giờ; những toa có kẻ chữ Paris - Rome và những toa có chỗ ngồi trên nóc, vào những giờ nhất định, sẽ khởi hành về các vùng ngoại ô, chở đầy hành khách trên các dãy ghế và cả trên nóc - nếu hiện tại người ta vẫn duy trì cách phục vụ ấy - sẽ vượt qua nhiều bức tường trắng và cửa sổ của những ngôi nhà. Bữa sáng thì chẳng có gì để ăn.

“Đàn ông Mỹ là những người chồng tốt nhất”, phu nhân người Mỹ nói với vợ tôi. Tôi đang lấy những chiếc túi xuống. “Trên thế gian này đàn bà chỉ nên lấy đàn ông Mỹ”.

“Chị đã rời Vevey bao lâu rồi?” vợ tôi hỏi.

“Hai năm trước cuộc tình này. Chị hiểu chứ, tình yêu của con gái tôi ấy mà, tôi mang chim bạch yến về cho nó”.

“Con gái chị yêu một anh chàng Thụy Sĩ á?”

“Vâng”, phu nhân người Mỹ đáp. “Thằng bé ấy là con của một gia đình gia giáo ở Vevey. Nó sắp trở thành kỹ sư. Chúng quen nhau ở Vevey. Hai đứa thường đi dạo với nhau”.

“Tôi biết Vevey”, vợ tôi nói. “Chúng tôi đã hướng tuần trăng mật ở đó”.

“Thật vậy sao?” Chuyện này thật kỳ diệu. Ý tôi là, dĩ nhiên, không phải nói chuyện con bé nhà tôi phải lòng thằng bé”.

“Đó là một nơi rất dễ thương”, vợ tôi nói.

“Đúng đấy”, phu nhân người Mỹ nói. “Nó mà chẳng dễ thương sao? Anh chị đã ở đâu?”

“Chúng tôi ở Trois Couronnes”, vợ tôi đáp.

“Một khách sạn cổ xưa và đẹp tuyệt vời”, phu nhân người Mỹ nói.

“Vâng”, vợ tôi đáp. “Chúng tôi đặt một phòng rất xinh xắn, vào mùa thu miền ấy thật tuyệt vời”.

“Anh chị đã ở đó vào mùa thu ư?”

“Vâng”, vợ tôi đáp.

Chúng tôi vượt qua ba toa xe hỏng. Chúng vỡ tung, nóc lún hẳn vào.

“Nhìn kia”, tôi nói. “Một vụ đâm tàu”.

Phu nhân người Mỹ nhìn ra chỉ thấy toa xe cuối cùng.

“Tôi đã sợ điều đó suốt cả đêm”, bà ta nói. “Đôi khi tôi có linh cảm về những điều khủng khiếp. Tôi sẽ không bao giờ đi du lịch bằng tàu tốc hành vào ban đêm nữa. Hẳn có những chuyến tàu khác đầy đủ tiện nghi mà không chạy quá nhanh”.

Khi tàu đi vào trong bóng tối của ga Lyons, dừng lại rồi những phu khuân vác đến bên cửa sổ. Tôi chuyển mấy cái túi xách qua cửa sổ rồi chúng tôi ra sân ga rộng rãi mờ mờ tối, phu nhân người Mỹ đang hoạnh họe một trong số ba nhân viên hỏa xa, anh ta nói: “Thưa bà, chỉ một lát thôi, tôi sẽ tìm ra tên bà ngay”.

Người phu khuân vác đẩy chiếc xe kéo tới, chất hành lý lên, vợ tôi và tôi chào tạm biệt phu nhân người Mỹ, tên bà đã được anh nhân viên tìm thấy trên tờ giấy đánh máy nằm trong tập giấy mà anh ta đã đút nhầm vào túi.

Chúng tôi đi theo người phu kéo chiếc xe dọc hành lang dài đúc bằng xi-măng bên cạnh con tàu. Cuối cùng hành lang là cổng ra vào, một nhân viên đứng ở đấy thu vé.

Chúng tôi quay lại Paris để thu xếp sống mỗi đứa một nơi.

Đào Thu Hằng dịch

Đánh máy: casau
Nguồn: casau - VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2017

« Lùi
Lời giới thiệu Trên miệt Michigan Ông già tôi Tàn mùa Trại người da đỏ Bác sĩ và vợ bác sĩ Truyện rất ngắn Nhà cách mạng Trượt tuyết việt dã Kết thúc một vấn đề Cơn gió ba ngày Đấu sĩ Nhà của lính Chàng và nàng Elliot Con mèo trong mưa Sông lớn hai lòng - Phần I Phần II Người bất khả bại Nơi xứ lạ Rặng đồi tựa đàn voi trắng Những kẻ giết người Tổ quốc nói gì với mày? Năm mươi ngàn dollar Cuộc thẩm vấn đơn giản Mười người da đỏ Chim bạch yến cho ai Câu chuyện tình thơ mộng miền sơn cước Hôm nay thứ Sáu Chuyện phiếm Bây giờ tôi nằm nghỉ Trên cảng Smyrna Đổi thay lớn Sau cơn bão Lịch sử tự nhiên của cái chết Một nơi sạch sẽ và sáng sủa Ánh sáng của thế giới Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn Con đường bạn sẽ chẳng hề theo Mẹ của gã pê đê Một bạn đọc viết Thụy Sĩ tôn kính Một ngày chờ đợi Con bạc, bà xơ và radio Cha và con Thủ đô của thế giới Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber Ông lão bên chiếc cầu Tố giác Con bướm và cỗ xe tăng Dưới mỏm đất Chẳng có ai chết Con sư tử tốt bụng Chú bò thủy chung Con người của thế giới Là con chó dẫn đường Người mùa hạ Câu chuyện Phi châu Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó
Tiến »