Trong lịch sử, sau khi cha chết được ba năm, hắn mới trở về Lhasa để kế nhiệm. Sau đó, thỉnh thoảng lại dẫn theo bộ lạc để rời khỏi Lhasa, đi sang chỗ khác chăn nuôi. Nghe nói Lhasa có phản loạn, hắn dẫn binh quay về dẹp loạn môt cách dễ dàng, sau đó lại mang bộ lạc đi phóng mục.
Suy nghĩ của người này rất bất bình thường, ai phản loạn thì hắn đánh người đó, hơn nữa đánh trận nào cũng thắng. Đến khi thắng thì lại không thèm cai trị, để cho anh em cháu chắt của mình chỉ có thể trợn mắt nhìn.
Hiện tại ở Thanh Hải và Tây Tạng, các hòa thượng đều không có thực quyền gì.
Chính bởi vì Ngạc Tề Nhĩ mặc kệ triều chính, sau này con hắn cũng chẳng thèm quan tâm, quyền thống trị mới dần dần bị bên Đệ Ba (quan hành chính) nắm trong tay. Đệ Ba cảm thấy mình không thể nào chống lại được quý tộc Mông Cổ, vì vậy kéo hòa thượng về phe mình, cuối cùng quyền lực hoàn toàn rơi vào trong tay hòa thượng.
Các thần tìm đến hoàng đế, Triệu Hãn xem nội dung tình báo, cũng chìm vào lặng yên hồi lâu.
Chín con trai và một cháu trai của Gushi Khan không chịu đoàn kết, cũng chẳng thèm đánh giặc, lại không chịu hợp tác với quân Đại Đồng, thậm chí ngay cả ngôi vị cũng không thèm thừa kế. Thế cục ly kỳ thế này, Triệu Hãn nằm mơ cũng không dám nghĩ đến, hắn rất muốn bổ đầu những người này ra, sau đó cẩn thận nghiên cứu mạch não của họ là thế nào.
“Đồng thời tiến ra cả nam lẫn bắc, cứ nói là giành lại đất bị mất, bảo bọn họ giao thổ địa cuối nhà Minh ra!” Triệu Hãn cũng lười suy nghĩ, cứ xuất binh luôn là được.
Một khi đại quân áp cảnh, đám con cháu của Gushi Khan luôn sẽ có một hai người biết điều mà dẫn đường cho cả hội.
Tất nhiên, cả đám cũng có thể họp thành một nhóm, nhưng phải xem bọn họ có thật sự đồng lòng hay không.
“Tống các lão bị bệnh gì?” Triệu Hãn hỏi.
Danh y Trương Lộ trả lời: “Bên ngoài phong hàn ẩm tà, quanh thân kinh lạc không khoái. Đây là tê chứng.”
“Nói tiếng người.” Triệu Hãn tức giận nói.
Trương Lộ nhổ ra hai chữ: “Phong thấp.”
Triệu Hãn lại hỏi: “Nghiêm trọng lắm ư?”
Trương Lộ trả lời: “Đầu gối và xương mắt cá đều đã biến dạng, đau đến không thể đi được, phải điều trị tịnh dưỡng lâu dài.”
“Được rồi.” Triệu Hãn vẫy tay nói: “Các ngươi cứ hết lòng chữa trị đi.”
Trương Lộ chắp tay cáo lui. Triệu Hãn vùi đầu nhìn thư từ chức của Tống Ứng Tinh, thuận tay phê ba chữ: Không cho phép. Không cho phép là giả, nhưng phải ba mời ba từ. Ngay sau đó, Triệu Hãn lại thăng quan cho Tống Ứng Tinh, chức vị là một chức hão được mỗi cái danh. Làm thế này là để chuẩn bị cho Tống Ứng Tinh về hưu, từ chức một lần liền thăng quan một lần, đến khi chính thức về hưu thì có thể vinh quy quê cũ.
Bệnh của Tống Ứng Tinh sắp hết, nhà Phí Thuần lại có đại tang. Ngoài ra còn có Tiêu Hoán đã sắp chịu tang một năm rưỡi. Ban đầu Tiêu Hoán làm mật thám, sau đó đã phụ trách luật tù hơn mười năm. Sau khi vào các, hắn cũng phụ trách thêm luật chính, chỉnh sửa lại luật cũ, giới thiệu luật mới, đều là những chuyện mà hắn am hiểu nhất. Những phương án do Hình bộ giao cho nội các phần lớn đều do Tiêu Hoán kiểm tra, thủ phụ và hoàng đế chỉ xem lại thêm lần cuối cùng.
Triệu Hãn tiếp tục phê duyệt tấu chương, đến lượt tấu chương của Trương Quốc Duy, xin được cấp thêm 200 vạn lượng bạc để xây cất đê đập và cống thoát ở hồ An Sơn.
Trương Quốc Duy đã đổi hướng sông Hoàng Hà một cách nhân tạo, một nửa hướng sông chảy đã rất khác so với Hoàng Hà mấy trăm năm sau. Sau này, Hoàng Hà bỗng nhiên chuyển sang hướng đông bắc ở Lan Dương (huyện Lan Khảo), đó là do đê Đồng Ngõa Sương Quyết tạo nên.
Đê Đồng Ngõa Sương Quyết vừa là thiên tai mà cũng vừa là nhân họa. Nhà Thanh cũng noi theo ý tưởng của nhà Minh để quản lý Hoàng Hà, vì để giữ được thủy vận, mỗi năm đều đắp đê ở bờ bắc, để cho Hoàng Hà chảy vào sông Hoài. Ở đoạn sông Hoàng Hoài, một lượng lớn trầm tích phù sa được tích tụ, dẫn đến việc năm nào ở đoạn nam của sông Hoàng Hà cũng bị vỡ đê đập, mỗi lần vỡ đều phải tăng cường xây đập, đảm bảo thủy vận mà giống như uống thuốc độc để giải khát.
Dưới tình huống này, đầu năm Ung Chính, gần đê Đồng Ngõa Sương Quyết đã bị vỡ. Lúc ấy lòng sông vẫn chưa đủ cao nên khó có thể đắp đê, từng ngày trôi qua, nơi đó trở thành một công trình nguy hiểm. Đến cuối năm Càn Long, tình hình càng ngày càng tồi tệ, không còn có thể chặn nước được nữa, chỉ có thể xả nước ở giữa. Đến cuối năm Gia Khánh, tình hình đã nguy cấp đến cực điểm, năm nào cũng phải đập bạc.
Đến năm Đạo Quang, khúc Hoàng Hà nguy hiểm ấy đã trở thành khu vực tham nhũng nghiêm trọng. Mỗi năm, triều đình đều chi tiền để sửa chữa, nhưng chưa tới một phần mười số tiền được dùng vào việc ấy mà hơn 90% bạc đã bị tham nhũng. Tham nhũng còn chưa nói, nếu năm nào không xảy ra lũ lụt, quan viên sẽ chủ động phá đê, khiến vô số thôn trang ở phía bắc bị ngập lụt, từ đó nhân cơ hội chìa tay xin triều đình bạc đắp đê.
Mỗi năm đều đắp đê nhưng đã lâu không sửa sang, Hoàng Hà trở thành nơi đại quyết, lại đụng trúng Thái bình thiên quốc, triều đình Mãn Thanh trực tiếp bỏ dỡ. Ngập thì cứ ngập, ta thì cứ nằm ngang, Hoàng Hà thích đổi hướng thế nào liền đổi thế này, dần dần hình thành nên hướng chảy như Hoàng Hà mấy trăm năm sau.