Hệ thống tài chính hiện thời của tân triều Đại Đồng yêu cầu nộp cho ngân sách trung ương theo tỷ lệ, đồng thời cho địa phương giữ lại một phần cũng theo tỷ lệ đã ấn định. Vì vậy, các tỉnh giàu có thì có lợi nhuận lớn, còn các tỉnh nghèo khó thì thu không đủ chi, trung ương cần phải liên tục trợ cấp tiền cứu tế tỉnh nghèo.
“Có ai phản đối biện pháp này không?” Triệu Hãn hỏi.
Không ai nói gì.
Phần đông nội các và quan viên của các bộ viện đều là người của sáu tỉnh này nhưng bọn họ không dám đứng ra bảo vệ lợi ích của quê nhà, bởi vì nếu sẩy chân, rất có thể sẽ biến khéo thành vụng.
Vết xe đổ thời Đại Minh đến giờ vẫn còn khiến lòng người sợ hãi.
Tuy nói triều minh có tập đoàn thân sĩ Giang Nam, quan thương cấu kết lũng đoạn chính sách, hãm hại dân chúng phương Bắc để Giang Nam giao ít thuế hơn nhưng thực ra, tình hình thực tế là, Giang Nam là nơi phải đóng thuế nặng nhất, chính sách cải cách của Trương Cư Chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc dân chúng Giang Nam không thể gánh chịu nổi.
Lúc này, nếu những quan viên ở đây nói lung tung, lỡ như bức bách hoàng đế phải áp thuế nặng cho miền Nam thì sao?
Triệu Hãn liếc nhìn chúng thần: “Nếu không ai phản đối thì các ngươi bàn bạc tiếp xem hằng năm nên cho sáu tỉnh này giữ bao nhiêu, nộp bao nhiêu tiền thuế.”
“Vâng!” Tống Ứng Tinh đại diện cho các đại thần đứng ra lĩnh chỉ.
Việc này kết thúc, Lư Tượng Thăng đột nhiên chắp tay nói: “Bệ hạ, đối với các vùng biên cương ở phía nam và phía bắc ngoại trừ vùng Liêu Đông ra, thần kiến nghị ngưng chiến tranh trong vòng năm năm. Cho dù vẫn bắt buộc phải đánh thì cũng không được nổ ra giao tranh lớn.”
“Ta biết.” Triệu Hãn tỏ ý đã hiểu.
Mấy năm này, việc mở rộng lãnh thổ diễn ra quá nhanh, chẳng những chi phí quân sự mà còn kéo theo các chi phí liên quan khác tăng mạnh, hơn nữa các địa bàn mới chiếm được cũng chưa được củng cố vững chắc. Nếu giờ còn tiếp tục mở rộng thêm lãnh thổ Tây Nam thì áp lực tài chính sau này sẽ rất lớn, các mầm họa cũng dần dần nảy sinh.
Chỉ riêng vùng Liêu Đông là vẫn phải tiếp tục chiến tranh. Bởi vì thế lực Mãn Thanh còn sót lại vẫn lấy Ninh Cổ Tháp làm trung tâm, chiếm cứ vùng này. Hồ Định Quý bận rộn nâng cao nhân khẩu ở Kiến Châu, khai khẩn đất hoang, xây dựng dịch trạm nên vẫn chưa rảnh tay, theo kế hoạch trong vòng một, hai năm tới, sẽ phải chiếm lại Ninh Cổ Tháp.
Ngoại trừ không tổ chức quân hộ và quân đồn, không bắt hoàng tử đi canh giữ vùng biên thùy thì tư tưởng mở rộng lãnh thổ của Triệu Hãn khá tương tự với Chu Nguyên Chương.
Quân đội và dân chúng phải đi cùng với nhau, tích cực nâng cao nhân khẩu vùng biên cương, tạo dựng nền móng vững chắc để tiếp tục mở rộng thêm.
Nguyên nhân thất bại chính của chính sách biên cương của triều Minh chủ yếu là do chế độ quân hộ và việc các hoàng tử đi canh giữ biên cương.
Chế độ hoàng tử canh giữ biên cương trực tiếp dẫn tới cuộc binh biến Tĩnh Nan tranh giành ngôi vị, sau khi Chu Lệ lên ngôi phải lo khắc phục hậu quả của việc này do Chu Nguyên Chương gây ra, gọi các vương gia ở biên cương quay về. Ngoài ra, hậu quả của binh biến Tĩnh Nan còn dẫn tới thiếu hụt binh lính ở các vùng biên cương, sau biến cố này, triều đình vừa thiếu tiền bạc, thiếu lương thảo, lại thiếu cả binh lính, thảo nguyên Khoa Nhĩ Thấm rơi vào tay Đóa Nhan Tam Vệ. Còn chế độ quân hộ thì cũng bắt đầu trở nên mục nát vào những năm khi Chu Lệ đã cao tuổi, rất nhiều vệ sở ở biên cương không còn khả năng tự cấp tự túc. Lỗ lăn quay!
Những chính sách hay của triều Minh thì Triệu Hãn cần phải học hỏi. Tuy nhiên những bất cập của triều đại này thì Triệu Hãn cần phải cẩn thận né tránh.
Triệu Hãn nói: “Ba đô hộ phủ ở phương bắc và quân dân ti Bình Nam nhất định không thể tiếp tục chiến tranh trong tương lai gần. Tuy nhiên quân Thát Tử ở Ninh Cổ Tháp thì nhất định phải diệt trừ trong vòng ba năm! Ngoài ra, vua Triều Tiên càng ngày càng láo xược, cần phái người đi sứ răn dạy một phen!”
Ban đầu vua Lý Hạo của Triều Tiên hết sức khúm núm, thậm chí còn đưa muội muội chưa đầy mười một tuổi của mình tới Nam Kinh.
Thế nhưng chỉ mới mấy năm, Lý Hạo đã mạnh mẽ hẳn lên.
Một là không có áp lực từ bên ngoài, Triều Tiên bước vào giai đoạn phát triển suốt mười năm hòa bình.
Hai là Triều Tiên tiến hành cải cách rất thành công, kho bạc quốc gia càng ngày càng đầy thêm, quân đội cũng bắt đầu được rèn luyện ở vùng biên. Trong lịch sử, Lý Hạo còn to gan hơn thế nhiều. Do có tiền trong tay nên hắn kêu gọi xây dựng đội quân một trăm nghìn người, mưu đồ giáng cho Thuận Trị một đòn mạnh.
Hiện tại, mặc dù hắn còn chưa phô trương tới vậy nhưng Lý Hạo có sẵn tiền bạc và quân đội đã nhiều lần sai sứ thần tới Nam Kinh thỉnh cầu Trung Quốc trả lại lãnh thổ Bảo Châu.
Bảo Châu nằm ở phía nam sông Áp Lục, là bờ bên kia của Đan Đông.
Trước đây, Triều Tiên muồn phòng ngừa quân Mãn Thanh đánh xuống phía nam nên đồng ý tạm thời giao vùng này cho quân Đại Đồng đóng quân nhưng đời nào Triệu Hãn chịu trả lại? Sau nhiều năm, Trung Quốc đã điều động quan lại, lập Bảo huyện ở Bảo Châu, cai quản mấy chục nghìn dân chúng Triều Tiên.
Thấy Bảo Châu càng ngày càng phồn vinh, Lý Hạo không kiềm chế nổi, năm nào cũng xin được trả lại, thỉnh thoảng còn bắt dân Triều Tiên ở vùng biên, chỉ còn thiếu điều chưa phát động chiến tranh.