Tojo Người Hùng Thái Bình Dương

Lượt đọc: 1330 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XXX

ĐIỂU Koiso quan tâm nhất trong thời gian ông giữ chức Thủ Tướng Chánh phủ là những hành động độc lập của Bộ Chỉ huy Tối cao đối với Chánh phủ. Chính điều này là nguyên nhân gây ra sự thất bại và sụp đồ của tất cả các Nội các trước đây, kể cả Nội các của Tojo. Khi các Tướng lãnh không chịu để Koiso tham dự vào Bộ Chỉ huy Tối cao đó, ông bèn thành lập một cơ quan riêng gọi là «Hội đồng Tối cao Chỉ đạo chiến tranh». Mục đích của Hội đồng lúc đầu rất khiêm nhượng : Chỉ có nhiệm vụ giữ liên lạc giữa Bộ Chỉ huy Tối cao và Chánh phủ. Thế là từ đó các Tư lệnh quân binh chùng bắt buộc phải thông báo tin tức về các diễn tiến của chiến cuộc cho Hội đồng chỉ đạo này để trình lên Thủ Tướng Chánh phủ. Hội đồng chỉ đạo chiến tranh gồm sáu hội viên thường trực là : Thủ Tướng, Tổng trưởng ngoại giao, Tổng trưởng chiến tranh, các tham mưu trưởng Lục quân và Hải quân, Tổng trưởng Hải quân. Như vậy trong hội đồng này ít nhất cũng có hai nhân vật chủ hòa, đó là các ông Yonai, Tổng trưởng Hải quân và Shigemitsu, Tổng trưởng ngoại giao, hai nhân vật này luôn luôn có lập trường chấm dứt chiến tranh. Hội đồng Tối cao Chỉ đạo chiến tranh trở nên quan trọng kể từ khi Thiên Hoàng đích thân tham dự để giữ cán cân được thăng bằng giữa hai lực lượng chủ hòa và chủ chiến. Khi cần, Ngài có thể ra lệnh triệu tập các phiên họp bất thường của Hội đồng và khi có lời yêu cầu của Hội đồng, Ngài có thể hiện diện trong các phiên họp này.

Ngày 6 tháng 6 năm 1945, Hội đồng Tối cao họp để nghiên cứu các kế hoạch đề nghị của quân đội trong việc theo đuổi chiến tranh. Các kế hoạch này được trình bày qua hai tập tài liệu. Những con số thống kê về tổn thất trong chiến cuộc từ trước tới nay cho thấy Nhật đang chiến đấu một cách tuyệt vọng, nếu không muốn nói ở vào hoàn cảnh không thể tiếp tục được nữa ; dĩ nhiên các tài liệu này thỉnh thoảng vẫn kèm theo những danh từ khích lệ bày tỏ sự quyết tâm chiên đấu tới cùng để cứu vớt tình hình đất nước. Vấn đề đầu hàng không hề được đặt ra hay nhắc tới, để giữ thể diện cho các Tướng lãnh vẫn khăng khăng chủ trương phải chiến thắng. Okinawa mất rồi thì bây giờ phải nỗ lực chiến thắng tại nội địa. Toàn dân sẽ đứng lên cùng chiến đầu, sẵn sàng chết cho Tổ quốc để đẩy lui mọi cuộc xâm lăng đổ bộ của địch. Mỗi người dân sẽ trở thành một chiến sĩ anh hùng, một «viên đạn sống» sẵn sàng bắn vào quân địch. Tất cả mọi công dân nam cũng như nữ đều được võ trang súng đạn, chất nổ, giáo mác, gây gộc, và nếu không còn gì thì đánh bằng tay không để sát cánh với quân đội chiến đấu tới người cuối cùng, Mọi người cương quyết đẩy lui quân thù ra khỏi đất nước thân yêu,

Giữa hội nghị, ai cũng sợ phe quân nhân, và người nọ giữ miếng với người kia nên không ai dám mở miệng nói ra hai tiếng hòa binh, Đúng như lời Đô đốc Toyoda ghi lại : «Khi có nhiều ngươi trước mặt, khó có ai dám nói tới việc rút lui»,

Quyết định của Hội đồng về việc tiến hành chiến tranh được trình lên Thiên Hoàng trong một hội nghị tại Hoàng cung vào ngày hôm sau, Báo chí và đài phát thanh kêu gọi mọi người, già, trẻ, trai, gái, hãy gia nhập «Đoàn quân tình nguyện» để bảo vệ đất nước, Một cuốn «Cầm nang kháng chiến» được sửa soạn phân phát trên toàn quốc, Trong đó có dạy cách tấn công xe tăng, đối phó với quân nhảy dù. cận chiến, và cách trừ súng phun lửa.

Thông tấn xã Nhật loan báo : «Địch đã hoàn tất việc oanh tạc các mục tiêu đầu tiên ở Nhật, Những thành phố Tokyo, Yokohama, Nagoya, Kobe và Osaka kể như đã hoàn toàn bị tiêu hủy. Toàn quốc hãy chuẩn bị sẵn sàng cho trận chiến cuối cùng, quyết định số phận mất còn của đất nước». Cuối tháng Sáu, một đoàn phi cơ 2.000 chiếc bay rợp trời từ ngoài biển tới dội bom các thành phố chánh còn lại của Nhật. Những máy bay này cất cánh từ các hàng không mẫu hạm đậu ngoài khơi, và chỉ bay mười lăm phút là đã tới các đô thị của Nhặt. Mục đích của địch rõ ràng là đang tiêu diệt tất cả các căn cứ phòng thủ của Nhật. Nhưng Không quân Nhật vẫn không ra mặt, im lặng bồi bổ lực lượng để chuẩn bị đánh trận quyết định cuối cùng. Vì vậy lúc này máy bay địch mặc tình thao túng,

Trong lúc chờ đợi trận đánh đổ bộ của địch, toàn quốc trải qua những ngày rung chuyển qua những cuộc dội bom liên miên của địch. Hầu như không còn một nơi nào có thể được gọi là an toàn trên quần đảo Nhật. Phi cơ của địch lúc này còn báo cáo cho biết trước các thành phố sắp bị oanh tạc. Một loại truyền đơn cỡ 12 X 16 phân in hình chiếc máy bay B.29 màu xanh đang thả bom, bên dưới có liệt kê tên của một số thành phố, được máy bay địch rải trước khi oanh tạc năm sáu ngày. Mặt bên kia tấm truyền đơn là những «Lời kêu gọi nhân dân Nhật» hãy tìm cách lánh xa các vùng chiến cuộc, đừng ở gần các cơ sở quân sự. Đây rõ ràng là một đòn tâm lý khiến nhiều người bắt đầu hoang mang, không còn tin tưởng ở sự bảo vệ của quân đội Nhật. Trong lúc địch khoa trương thanh thế như vậy, các lực lượng Không quân Nhật vẫn giữ im lặng.

Trong phiên họp của Hội đồng Tối cao Chỉ đạo chiến tranh diễn ra ngày 7 tháng Sáu, Ngoại trưởng Shigenori Togo người vừa thay thế Shigemitsu trong Nội các Suzuki, rụt rè đứng lên trình bày ưu thế hòa giải của Nhật đã bị sút giảm theo với tình hình quan sự càng ngày càng trở nên tuyệt vọng. Các vị Tổng trưởng khác vẫn ngại không muốn chỉ trích kế hoạch của quân đội. Tuy nhiên, ngày hôm sau, 8 tháng Sáu, phiên họp của cơ mật viện Hoàng gia đưa ra một bản nhận định, trong đó có câu : “Cần phải lợi dụng mọi cơ hội để cải thiện hoàn cảnh chiến đấu hiện tại. Có thể tiến hành các biện pháp thích nghi để thực hiện điều đó tại Nga hoặc Trung hoa chẳng hạn». Những lời lẽ như vậy đã cho thấy rõ ý định muốn chấm dứt chiến tranh trong bản nghị quyết này.

Nhật hoàng, theo truyền thống, chỉ giữ im lặng trong các cuộc họp của cơ mật viên Hoàng gia, nhưng lúc này qua trung gian của quan Chướng ấn Kido, Ngài đã bắn tiếng cho các Tổng trưởng cần phải có những hành động tích cực hơn để vãn hồi hòa bình. Nội các lúc này có vẻ bối rối, không ai muốn nhận lãnh những quyết định quan trọng trong việc chấm dứt chiến tranh. Suzuki nói với Kido : «Tôi không thể làm gì được vì Yonai quá cứng rắn». Trong khi Yonai lại than phiền là Thủ Tướng Suzuki tỏ ra dửng dưng đối với các quan điểm của ông. Và Ngoại trường Togo hỏi : Liệu ông phải làm gì để chấm dứt chiến tranh bây giờ ; trong nghi quyết của Hội đồng cơ mật Hoàng gia không hề đề cập tới việc đó ? Mọi hy vọng lúc này đổ dồn về phía Nga sô với hy vọng họ chịu đứng ra làm trung gian cho một cuộc dàn xếp giữa Nhật và Mỹ, Nhật không hề hay biết việc Nga sô đồng ý với Anh và Mỹ tại hội nghị Ỵalta, là sẽ phát động chiến tranh đánh Nhật khi chiến cuộc Âu châu chấm dứt, Ngoại trướng Togo vận động với Đại sứ Nga tại Tokyo và Đại sứ Nhật ở Moscow. Sau nhiều tuần lễ chờ đợi không thấy kết quả gì, Hoàng thân Konoye tỏ vẻ sốt ruột và dự định đích thân hướng dẫn một phái đoàn sang gặp thẳng Stalin để kêu gọi Nga đứng ra vãn hổi hòa bình tại Viễn Đông.

Trước khi ra đi, ông vô từ biệt Thiên Hoàng và chảy nước, mắt tâu : «Thân này dù nát tan để phụng sự đất nước, hạ thần cũng không từ nan.» Nhưng Hoàng thân chưa kịp lên đương thì tin từ Moscow điện về cho hay Nga không thể có một quyết định gì trước khi họp với Đồng minh tại Potsdam ngáy 17 tháng Bảy ; cuộc họp này sau đó diễn ra giữa Truman, Churchill, Stalin và Tưởng Giới Thạch. Một thông cáo sau đó được đưa ra nói rõ ràng : «Nhật chỉ có thể lựa chọn một trong hai con đường: Một là đầu hàng vô điểu kiện, hai là sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.»

Thủ Tướng Suzuki bác bỏ tối hậu thơ của Đồng minh. Các Tướng lãnh chuẩn bị ráo riết để đối phó với cuộc đổ bộ tương lai. Mọi người phỏng đoán cuộc đổ bộ đó sẽ diễn ra tại bình nguyên Kwanto, nằm ở phía trước Tokyo. Toàn quốc nín thở chờ đợi trận đánh quyết định cuối cùng với địch, sẽ từ trên trời rớt xuống hoặc từ biển đổ lên. Mọi người quyết tâm sẽ đẩy lui quân thù rớt trở lại xuống biền, hoặc chôn sống chúng khi chúng từ trên trời nhảy dù xuống. Không khí chờ đợi càng ngày càng căng thẳng, với những hình ảnh ghê sợ của chiến tranh mà mọi người đã từng biềt tới. Sự sợ hãi lên đến tột độ vào ngày 6 tháng Tám, khi các tin tức khủng khiếp về «loại bom mới» địch

vừa thả xuồng thành phố Hiroshima được chuyển tới Tokyo và khắp nơi trong nước.

Những tin tức bay tới Tokyo từ sáng sớm hôm đó cho hay thành phố Hiroshima, gần căn cứ Hải quân Kure, đã bị xóa mất hoàn toàn trên bản đồ sau một trái bom duy nhất thuộc «loại mới» địch vừa thả xuống. Lập tức mọi biện pháp an ninh được cấp tốc thi hành, và rõ ràng dân chúng tại Hiroshima đã hoàn toàn nhận lãnh tai họa khủng khiếp một cách bất ngờ mà họ không bao giờ nghĩ tới. Từ Hoa thinh đốn, Tổng Thống Truman tiết lộ trái bom vừa liệng xuống thành phố Hiroshima là trái bom nguyên tử đầu tiên. Ông đưa lời cảnh cáo : nếu các nhà lãnh đạo Nhật không mau mau đầu hàng vô điều kiện thì «nước Nhật sẽ nhận lãnh những tai họa khủng khiếp chưa từng thấy, từ trên trời giáng xuống.»

Sự tàn phá thành phố Hiroshima làm lu mờ một tai họa khác : Nga sô tuyên chiến với Nhật để thay cho câu trả lời Nhật về lời yêu cầu gởi Hoàng thân Konoye sang Moscow thi hành một sứ mạng hòa bình. Ngày hôm sau, Nagasaki nhận lãnh trái bom nguyên tử thứ hai của Mỹ.

Trong thời kỳ Tokyo bắt đẩu bị dội bom ác liệt, Tojo đã nhiều lần bảo với Phu nhân tản cư gia đình về miền quê. Còn ông thì phải ở lại «vì có thể Thiên Hoàng sẽ gọi anh». Bà Tojo chần chờ chưa chịu tản cư. Có dư luận cho hay một phi công Mỹ vừa bị bắn hạ trong lúc oanh tạc Tokyo, đã tiết lộ thành phố này là địa điểm Mỹ đã chọn để thả trái bom nguyên từ thứ ba. Tojo tỏ ra tin tưởng lời đồn đó, vì ông cho rằng loại bom mới này tỏ ra rất hữu hiệu đối với vùng đồng bằng không có núi non và như vậy, Tokyo sẽ là địa điểm thích hợp nhất. Lúc này những ý nghĩ tranh thủ cho sự sống còn chợt đến với Tojo. Ông bảo với phu nhân : «Tổ tiên ta xưa kia từng sống trong hang động. Muốn tránh loại bom này, ta cần phải đào các hang sâu trong núi và thỉnh thoảng mới ra ngoài để kiếm lương thực. Trong vòng bảy tám tháng không cần tắm rửa chúng ta vẫn sống được, và nều chịu đựng được đến lúc đó, chúng ta sẽ thắng.» Có một nơi rất thích hợp ở vùng núi Oume ; ngày 11 tháng Tám, Tojo gởi vợ con tản cư tới đó, ở nhờ tại nhà một người bạn.

Nhưng Tojo và gia đình sau này không có dịp đào hang và sống thử đời sống của tổ tiên. Vì ngay sau khi trái bom nguyên tử thứ hai được liệng xuống Nhật, Hội đồng lãnh đạo tối cao nhóm họp khẩn cấp trong một căn hầm sâu mười thước tại Hoàng cung. Từ sau « bức màn màu vàng. Thiên Hoàng xuất hiện để nghe các báo cáo của Chánh phủ và các Tướng lãnh. Sau đó, Hội nghị đi tới chỗ bế tắc giữa hai lập trường trái ngược của phe Dân sự và phe Quân sự. Các Tổng trưởng dân sự thì đòi đầu hàng ngay theo tuyên ngôn Potsdam của Đồng minh, với điều kiện là không được xâm phạm tới Thiên Hoàng. Trong khi đó phe Tướng lãnh vẫn đòi chiến đâu tới cùng và cho rằng họ vẫn còn đủ sức đẩy lui mọi cuộc đổ bộ của Mỹ. Sau nhiều giờ bàn cãi không đi tới đâu, Thủ tướng Suzuki liền đứng dậy thỉnh cầu Thiên Hoàng ra chỉ dụ để giải quyết điểm mâu thuẫn trên. Đây là lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh bùng nồ, Nhật hoàng được hội nghị thỉnh ý.

Nhật hoàng nói rất lâu. Ngài cho rằng tiếp tục chiến tranh nữa sẽ chỉ đưa Nhật Bản tới chỗ bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân đội nói vẫn còn đủ sức tiếp tục chiến đấu. Nhưng từ trước tới giờ Ngài nhận thấy có sự khác biệt lớn lao giữa những điều quân đội nói và những gì họ đã thi hành được. Ngay cả việc bảo vệ lãnh thổ hiện nay, Ngài nhận thấy quân đội cũng không thể nào giữ trọn được lời hứa. Vỉ vậy không còn gì hơn là bắt buộc Nhật phải chấp nhận đầu hàng theo tuyên ngôn Potsdam của đối phương.

Thiên Hoàng dứt lời. Tổng trưởng chiến tranh, Tướng Anami, liền tiến ra quỳ ở giữa phòng cúi đầu xin chịu tội. Ông khóc lớn cầu xin Thiên Hoàng ban cho quân đội một cơ hội cuối cùng để chiến đấu lấy công chuộc tội. Mọi người cùng khóc theo ông, cả vua tôi cùng khóc như một đám trẻ con. Sau cơn xúc động đó, Nhật hoàng phán : Ngài đã rõ lòng hy sinh và tận tụy của quân đội. Nhưng hoàn cảnh lúc này không cho phép kéo dài thêm cuộc chiến nữa, nều muốn cứu đất nước khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn. Việc đầu hàng như vậy đã được quyết định xong.

Tojo biết được quyết định đầu hàng trong phiên họp Hội đồng các cựu Thủ tướng ngày 10 tháng Tám. Ông định đứng lên bàn cãi, nhưng được Hội đồng cho biết đó là ý muốn của Thiên Hoàng nên ông phải lập tức cúi đầu im lặng. Dù sao Tojo cũng còn may mắn hơn, vì lúc này ông không còn trách nhiệm gì đối với quân đội. Ngược lại, bạn ông là tướng Anami, trong chức vụ Tổng trưởng chiến tranh, giờ này không biết phải hành động ra sao giữa hai điều trái ngược : Một đàng là lệnh của vua truyền, và đàng khác là lý tưởng của người quân nhân Nhật không bao giờ cho phép chấp nhận sự đầu hàng trước địch quân. Bảo quân đội đầu hàng giống như bảo họ : « Hãy ăn cục đá này », nhưng tuân lênh Thiên Hoàng, ông vẫn phải làm.

Trong quân đội lúc này cũng có một nhóm Sĩ quan trẻ quá khích giống như nhóm Sĩ quan đã nổi loạn năm 1936. Họ sẵn sàng đứng lên, tuyên bố Thiên Hoàng bị các cố vấn bao vây che mắt, và lấy cớ bảo vệ Thiên Hoàng để cướp chánh quyền. Nhóm này định đưa Tướng Umezu, Tổng tham mưu trường quân lực, và tướng Anami; Tổng trưởng chiến tranh lên cầm đầu Nội các để ngăn chận các cuộc dàn xếp đẩu hàng với Mỹ đang diễn ra. Họ hy vọng sẽ được hai nhân vật này đồng ý. Nhưng cả hai vị Tướng nầy không ai có can đảm tham dự vào âm mưu đảo chánh đó. Tuy không tham gia, nhưng cũng không ai nỡ tố cáo nhóm Sĩ quan cầm đầu kè hoạch này.

Không có bằng chứng nào cho thấy nhóm Sĩ quan nổi loạn có liên lạc hay được sự ủng hộ của Tojo. Tuy nhiên sau này khi việc vỡ lở ra, gia đình ông đã bị dính líu, liên lụy một cách bi thảm. Ngày 13 tháng Tám, Thiếu tá Koga, con rể thứ nhì của Tojo, bất thần trở về nhà và nói chuyện với vợ con trong phòng riêng. Sau đó ông lại ra đi ngay. Khi về cũng như khi đi ông không hề ôm hôn con như thói quen thường lệ. Trong khi nói chuyện với vợ, Thiếu tá Koga có hỏi vợ đã giữ móng tay và tóc của ông chưa ? Vợ Koga trả lời rồi. Giữ móng tay và tóc của người thân yêu sau khi qua đời, là tục lệ của người dân Nhật theo Phật giáo. Thiếu tá Koga cảm thấy hành động sắp tới của ông quá phiêu lưu và hậu quả dữ nhiều lành ít nên không dám nói ra cho vợ con biết. Nếu như ông có nói chắc chắn vợ ông cũng không bao giờ cho song thân hay.

Hôm sau, Ngày 14 tháng Tám, Thiếu tá Koga và một sĩ quan cấp tá khác tới gặp Tướng Mori, chỉ huy trướng Sư đoàn Ngự lâm quân tại Bộ Tư lệnh của ông ta ở Tokyo, và thuyết phục ông này theo phe cách mạng để lật đổ Chánh phủ. Mori từ chối nên bị viên Thiếu tá đi cùng với Koga bắn chết ngay, cùng với một cận vệ của ông ta. Sau đó các sĩ quan nổi loạn dùng con dầu của Mori làm sự vụ lệnh ra lệnh cho Ngự lâm quân bao vây Hoàng cung nói là để bảo vệ Thiên Hoàng. Loạn quân hay được tin lời tuyên bố đầu hàng của Thiên Hoàng đã được thâu băng để ngày mai 13 tháng Tám sẽ đọc trên đài phát thanh. Thế là chúng: liền tới đài phát thanh và vô Hoàng cung lục lọi để tìm cuộn băng này. Đêm hôm đó, sau khi trở về nhà và nghe tiếng súng nổ báo hiệu cuộc đảo chánh bắt đầu, Tướng Anami liền quỳ trên chiếu hướng về Hoàng Cung lạy tạ Thiên Hoàng, và sau đó dùng một thanh đoán kiếm rạch bụng tự vẫn theo nghi lễ Thần đạo của một Samurai. Trong lúc đó, Tướng Tanaka chỉ huy một cánh quân Ngự lâm quân khác đóng ở phía Đông Thủ đô tiến tới Hoàng cung đàn áp quân phiến loạn. Tám giờ sáng hôm sau 13 tháng Tám, loạn quân bị bao vây đã xin đầu hàng. Cuộn băng thâu thanh của Thiên Hoàng, được dấu trong phòng riêng của Hoàng hậu, vẫn còn yên vì loạn quân không tìm thấy. Đài phát thanh Tokyo lưu ý thính giá đúng 13 giờ trưa hãy mở máy thâu thanh để đón nghe một tin phát thanh đặc biệt.

Dân chúng trên toàn quốc lập tức tụ tập gần những nơi có máy thu thanh hoặc loa phóng thanh ở các tư gia hay xưởng máy, trường học, để chờ nghe tin tức quan trọng đó. Gần trưa, những xe lửa đều ngừng lại trong ga, lưu thông trên đường phố cũng gián đoạn, để chờ đợi một biến cố quan trọng. Đại tướng Tojo và phu nhân quỳ trên chiếu tatami, trước mặt họ là cái ra đô được để trên mặt tù chè tokonoma, chỗ mọi khi vẫn để bình hoa. Đúng 12 giờ trưa, quốc ca Kimigayơ trồi lên một cách nghiêm trang, và sau một phút im lặng, mọi người được nghe tièng nói âm trầm của chính Thiên Hoàng vang ra tự trong máy. Ngài nói bằng thử ngôn ngữ cổ Nhật Bản, có nhiều từ ngữ cổ điển khó hiểu. Tuy nhiên hàng triệu người Nhật đều biết ngay, không những ý tưởng mà cả tình cảm của Ngài, trong những lời nói trịnh trọng và cảm động đó. Thiên Hoàng nói : «Cùng toàn thể thần dân của Trẫm. Sau nhiều năm bị lôi cuốn vào Trận đại chiến thế giới, Nhật Bản hiện phải đói phó với một hoàn cảnh đặc biệt, khiến Trẫm phải buộc lòng quyết định cho thi hành các biện pháp sau đây. Chánh phủ Nhật đã được lệnh tiếp xúc với các chánh phủ Anh, Mỹ, Nga và Trung Hoa để chấp nhận các điều khoản trong bản tuyên ngôn của họ. Những hành động của chúng ta từ trước tới nay đều có một mục đích duy nhất là tạo sự bằng yên và thịnh vượng cho tất cả các dân tộc khác trên thế giới, cũng như cho dân tộc chúng ta, mà Trẫm đã được ủy thác bởi các Tiên đế. Thực vậy, chúng ta khai chiến với Anh Mỹ, là vì chúng ta muốn an ninh và thịnh vượng cho Nhật Bản, cũng như cho toàn thể các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á. Tuyệt nhiên nước Nhật không hề có chủ tâm xâm phạm bờ cõi cũng như quyền lợi của bất cứ quốc gia nào khác. Nhưng sau gần bốn năm chiến đầu anh dũng, tình hình thể giới đã thay đổi, khiến chúng ta không thể nào tiếp tục theo đuổi chiến cuộc thêm nữa. Hơn nữa, kẻ thù đã xử dụng một loại bom tàn độc, tiêu diệt bao sinh linh vô tội. Nếu còn tiếp tục theo đuổi chiến tranh nữa, không những nước Nhật sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn, mà cả nhân loại cũng sẽ đi đèn chỗ tuyệt vọng. Làm như vậy, chúng ta còn mặt mũi nào để nhìn thấy Tổ tiên sau này ?...

Những nhục nhã và đau đớn mà chúng ta phải chịu trong giai đoạn tới sẽ vô cùng lớn lao. Trẫm không bao giờ quên điều đó. Tuy nhiên, tuân theo vận mạng của dân tộc, Trẫm đành phải hy sinh để xây dựng nền hòa bình trường cửu cho những thế hệ mai sau. Chúng ta sẽ chịu đựng những gì không thể chịu đựng được và sẽ đau đớn những gì không thể đau đớn hơn trên đời này.

Trẫm vẫn luôn luôn ở giữa các thần dân trung thành và đoàn kết của Quốc gia. Mọi người phải luôn luôn ý thức, không được có những hành động bồng bột gây ra cảnh mâu thuẫn bất đồng trong quốc gia, và làm mất lòng tin tưởng của thế giới đối với dân tộc chúng ta. Trẫm mong muốn mọi người sẽ đồng tâm nhất trí như anh em một nhà, trong truyền thống của Nhật từ ngàn xưa đã để lại đời này qua đời khác, và tin tưởng vào hồn thiêng sông núi của đất nước chủng ta... »

Sau khi Thiên Hoàng dứt lời, quốc ca nổi lên một lần nữa. Tojo nói với phu nhân : « Bây giờ là lúc anh phải hy sinh cho đất nước. Mọi việc bắt đầu thay đổi. Việc xây dựng lại đất nước còn khó khăn hơn cái chết nhiều. Nhưng nếu Thiên Hoàng muốn vậy thì bổn phận chúng ta là phải nỗ lực làm mọi việc cho tới hơi thở cuối cùng. »

Sau này Bà Tojo kể lại : « Hôm đó, tôi cảm thấy hoàn toàn trống rỗng, như một người mất hồn. » Khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, điện thoại từ Bộ chiến tranh kêu Tojo. Sau khi trả lời, ông gọi Makie người con gái thứ hai tới. Chồng nàng là Thiếu tá Koga đã tự tử. Ông bảo nàng : « Con sửa soạn đi, xác sắp được đưa về đây bây giờ. »

Những ngày kế tiếp, rất nhiều bạn bè tới phúng điếu Koga và bàn cãi với Tojo : Tại sao nước Nhật không tiếp tục chiến đấu nữa ? Theo họ Nhật Bản vẫn còn đủ sức để chịu đựng một trận đánh cuối cùng. Ông kiên nhẫn nghe những lời phản đối đó nhưng sau cùng bảo với họ, đó là ý muốn của Thiên Hoàng, mọi người phải tuân theo. Khi khách khứa đã thôi lui tới, Tojo dùng nhiều thời giờ vào việc viết lách và đốt tất cả tài liệu kể cả mấy cuốn sổ ghi địa chỉ. Tojo phu nhân kể lại : « Mặc dầu ông không nói. nhưng tôi cũng biết chắc chắn là ông đang chuẩn bị cho cái chết của mình.» Phản ứng của đa số dân chúng Nhật có vẻ buồn rầu lo lắng sau khi hay tin Nhật đầu hàng. Họ nhìn cảnh đố vỡ tàn phá xung quanh, và không thiết làm gì ngoài việc kiếm đủ miếng ăn ngày hai bữa. Nhiều người cầu nguyện tại các đền miếu. Tại Tokyo, dân chúng tuôn đến bùng binh trước Hoàng cung quỳ xuống vừa lạy vừa than khóc. Có người tự tử ngay tái chỗ.

Trước khi Nhật đầu hàng, một sĩ quan đã tuyên bố : «Các Tướng lãnh sẽ tự tử hết nếu trường hợp đó xảy ra». Nhưng hiện nay con số sĩ quan tự tử tương đối ít. Tuy nhiên đối với con mắt người Tây phương thì đây vẫn là một chuyện không thể nào tường tượng nổi. Sau khi Tướng Anami tự tử, các sĩ quan cao cấp trong Bộ Tham mưu cũng theo gương ông. Rồi lần lượt tới Tướng Sugiyama, cựu Tổng trưởng chiến tranh trong Nội các Tojo, Tướng Tanaka, người đã chỉ huy dẹp quân nổi loạn, Tướng Shirokura, chi huy hiến binh Kempeitai. Ông này nèu còn sống chắc cũng sẽ bị Đồng minh treo cổ.

Phản ứng của giới sĩ quan trẻ mạnh mẽ hơn. Con số tự tử khá đông. Những người cầm đầu cuộc nồi loạn không thành đều tự tử tập thể theo nghi thức mổ bụng hari-kiri. Một nhóm quá khích khác chiếm ngọn đồi gần Hoàng cung, đánh nhau với cảnh sát và quân đội bao vây họ một thời gian, và sau đó tự tử tạp thể bằng lựu đạn.

Trong cơn nguy biến của đất nước, Nhật Bản đã noi gương hành động của Tổ tiên để cứu vãn dân tộc. Thực vậy ba phần tư thế kỷ trước, khi thấy quốc gia bị ngoại xâm Tây phương đe đọa, nhà Mạc phủ đã hy sinh quyển hành để đoàn kết sau lưng Minh Trị Thiên Hoàng, canh tân nước Nhật. Ngày nay trong lúc đất nước lâm nguy trước hiểm họa diệt vong, Nhật Hoàng cũng noi gương người xưa, hy sinh Ngai báu để cứu đất nước. Chính vì vây mà toàn thể dân chúng Nhật đều hướng về Hoàng cung ghi ơn Thiên Hoàng và các vị Tiên vương từ hai ngàn năm trước, nguyện một lòng trở thành những thần dân trung thành của Hoàng gia.

Bài bình luận của tờ Asahi viết: «Để Thiên Hoàng được an tâm lúc này, bổn phận của toàn dân là phải cùng cố đoàn kết thành một khối chặt chẽ.» Tờ Mainicfii kêu gọi dân chúng «hướng cả về Hoàng cung để cúi đầu ghi ơn Thiên Hoàng.» Xướng ngôn viên trên đài phát thanh đọc một bài tường thuật : «đám đông tụ tập trước Hoàng cung, quỳ lạy và than khóc. Họ kêu gào : «Xin Thiên Hoàng tha tội, vì chúng tôi chưa làm đầy đủ bồn phận. Còn mặt mũi nào, chúng tôi dám ngẩng đầu lên nhìn thầy Tổ tiên nữa ?» Tới đây, âm thanh tự nhiên mất hẳn. Có lẽ xướng ngôn viên vì quá cảm động đã không thể đọc tiếp.

Một hạm đội khổng lổ của Liên quân Anh, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan và Hòa Lan đã tới bỏ neo tại vịnh Sagami. Đứng ở núi Phú Sĩ có thể trông rõ đoàn tàu đông đảo này. Lúc này là thời gian sắp tới mùa bão biển. Nhiều người tin rằng những ngọn gió Thần phong Kamikaze sẽ đánh tan các chiến hạm địch, giống như số phận đoàn chiến thuyền của quân xâm lăng Mông cổ sáu thế kỷ trước. Mọi biện pháp đặc biệt được ban hành tại Tokyo và các thành phố khác để tránh việc tiếp xúc giữa quân ngoại quốc và dân chúng. Xưa kia khi đoàn chiến hạm của Perry tới Nhật lần đầu tiên, nhà Mạc phủ cũng có những mệnh lệnh tương tự như vậy. Hãng Thông Tấn loan tin quân chiếm đóng sẽ không tiếp xúc trực tiếp với công chúng.

Người ta lo ngại quân Mỹ sẽ trả thù những hành động của lính Nhật trước đây, và phản ứng của dân chúng trước những hành động thù nghịch đó. Tin đồn về những sự trả thù của lính Mỹ càng lúc càng nhiều, khiến nhiều người đâm ra hoảng sợ tìm cách đưa vợ con trốn lên núi. Trước tình hình đó, Chánh phủ vội vàng ra thông cáo trấn an dân chúng : «Quân chiếm đóng chỉ tới để quan sát xem các điều khoản của tuyên ngôn Potsdam có được thi hành đầy đủ chưa. Sau đó họ sẽ rút đi. Không có tiếp xúc trực tiếp giữa quân chiếm đóng với công chúng. Nền hành chánh vẫn sẽ do Chánh phủ ta đảm nhận. Nếu thái độ của dân chúng Nhật khiến Đồng minh thấy rằng các điều khoản của tuyên ngôn Potsdam đã được thi hành đầy đủ, thì thời gian chiếm đóng sẽ được rút ngắn lại.»

Quận Công Hayashi, một chánh khách đã sống từ thời Minh Trị Thiên Hoàng, phải lên đài phát thanh giải thích cho dân chúng biết về việc bại trận : «Sự thất trận của chúng ta chỉ là một sự thất thế nhất thời. Chúng ta thua địch về vật chất và khoa học. Nhưng về tinh thần, chúng ta không bao giờ thua.» Hãng Thông Tấn Domei cũng rập theo lý luận đó khi đưa ra lời bình luận : «Địch chỉ hơn chúng ta nhờ ở các tiến bộ khoa học. Sau này khi cơ cấu Quốc gia đã được ổn định, chúng ta cần phải dồn mọi nỗ lực vào việc nghiên cứu các tiến bộ khoa học.»

Những lo ngại về các phản ứng bộc phát bất thần của binh sĩ Nhật, khi quân đổ bộ Mỹ xuất hiện, đa được tờ Nhật Bàn Thời báo bàn tới và đưa ra lời báo động : «Sự hiện diện của quân đội chiếm đóng thực là quá sức chịu đựng đối với các Sĩ quan !» Tại Singapore, Tướng Itagaki, từng tham dự vào các âm mưu của đạo quân Kwangtung tại Mãn Châu, hiện là Tư Lệnh quân đội Nhật tại Mã Lai, tuyên bố trên đài phát thanh : «Không ai có quyền xâm phạm tới danh dự của quân đội Nhật. Quân đội luôn luôn sẵn sàng trả lời kẻ thù.» Sau khi nghe thông điệp đầu hàng của Thiên Hoàng, ngay chiều hôm đó, một nhóm phi công lái phi cơ Thần phong đặt căn cứ tại phi trường Atsugi đã bay quần trên Thủ đô Tokyo kêu gọi quân đội cứ chiến đấu bất kể lệnh đầu hàng của Thiên Hoàng, Nhiều biểu ngữ cũng xuất hiện trên đường phố lên án «bọn phản quốc tiếp tay với giặc.»

Đêm 15 tháng Tám, Nội các Suzuki tuyên bố từ chức và được kế tiếp bằng Nội các chuyển tiếp của Hoàng Thân Higashikuni. Nhiều vị Hoàng Thân khác phải ra ngoại quốc, phủ dụ quân đội Nhật tuân chỉ của Thiên Hoàng buông súng đầu hàng, Tại phi trường Atsugi, Hoàng thân Takamitsu, bào đệ Thiên Hoàng, đã phải hết sức cố gắng để thuyết phục đám phi công Thần phong nhất định tử chiến với các đơn vị không vận của Mỹ dự định tới phi trường trong vòng 72 giờ sau đó. Mãi tới ngày 25, Hoàng thân Higashikuni mới hoàn toàn thuyết phục xong đước nhóm phi công này.

Ngày 29 tháng Tám, các máy bay đầu tiên chơ binh sĩ của Sư đoàn II không vận bắt đầu hạ cánh xuống phi trường Atsugi. Bước xuống phi trường, các binh sĩ Mỹ võ trang trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Họ có vẻ nghi ngờ khi đặt chân xuống giữa lòng đất địch, những người mà mới hôm qua họ còn nghe nói là tàn ác, quỷ quyệt, và từng biết tới qua các trận đánh trước đây. Nhưng sau dó họ nhận thấy các binh sĩ Nhật canh gác tại phi trường hoàn toàn không có phản ứng gì. Những nhân viên dân sự làm việc tại đây mỉm cười và cúi đầu chào đón họ. Cuộc đón tiếp được một phóng viên mô tả là «thân thiện». Qua ngày hôm sau, 43.000 binh sĩ Hoa Kỳ đã được không vận tới vùng Tokyo và Yokohama, Phi cơ chở Tướng MacArthur cũng hạ cánh cùng ngày hôm đó, Miệng ngậm ống vố, viên Tướng hách dịch đứng ở đầu thang máy bay nhìn quanh quẩn với con mắt của kẻ đắc thẳng, để cho các chuyên viên quay phim thu hình một lúc rồi mới bước xuống lên xe đi tới Bộ Chỉ Huy tạm thời đặt tại Yokohama.

Ngày 2 tháng 9, Nga tuyên bố chấm dứt cuộc chiến sáu tuần với Nhật, sau khi đã tràn ngập đạo quân Kwangtung của Nhật, chiếm trọn Mãn châu và Bắc Triều Tiên. Stalin tuyên bố :«Chúng ta có món nợ riêng cần phải thanh toán với Nhật. Cuộc bại trận năm 1904 khiến nhiều người vẫn còn nhớ và chờ có dịp xóa vết nhơ đó trong lịch sử nước Nga. Sau bốn chục năm chờ đợi, ngày đó hôm nay đã tới.» Nhiều năm sau ông ta nói tại Moscow : «Nếu không có Nga, Mỹ không thể nào thành công ở Nhật. Chính nhờ có Nga sô nhúng tay vào, mà Mỹ đã đổ bộ lên được đất Nhật, không cần phải bẳn một viên đạn nào.»

Đất đai của Nhật bị phe thắng trận đem ra chia với nhau, cũng giống như trường hợp của Đức. Nga chiếm phía Nam Sakhalin và quần đảo Kurile. Nhưng Nga và Trung Hoa bị đuổi khỏi chính quốc Nhất. Tại đây chỉ có Mỹ là nước chiếm đóng duy nhất. Anh còn lo giữ các thuộc địa, không những cho mình mà còn cho Pháp và Hoà lan nữa, nên không đủ quân để rải ra ở Nhật. Ít tháng sau đó, do lời yêu cầu ráo riết của Úc, một lực lượng hỗn hợp của khối thịnh vượng chung gồm Anh, Ấn, Úc và Tân Tây Lan được đưa tới Nhật để cùng Mỹ chia xẻ quyền chiếm đóng.

Sáng sóm ngày 2 tháng Chín, Shigemitsu tập hợp phái đoàn do ông cầm đầu để đi ký kết các văn kiện đầu hàng. Mọi người đều cảm thầy bắt buộc phải làm một công việc đau lòng, Tướng Umesu là người đại diện cho quân đội Nhật. Khi được chỉ định làm công việc này, ông cương quyết từ chối. Nhưng khi biết đó là lệnh trực tiếp của Thiên Hoàng ông đành phải cúi đầu tuân lệnh. Xe hơi đưa phái đoàn ra vùng ngoại ô Tokyo hoang tàn để tới Yokohama. Sau đó họ xuống một khu trục hạm Mỹ để ra Soái hạm Missouri đậu ngoài khơi, Lễ ký văn kiện đầu hàng được tổ chức trên Soái hạm này với sự hiện diện của Tướng MacArthur và đại diện quân đội các nước trong phe thắng trận.

Vài ngày sau, ngày 8 tháng Chín, Tướng MacArthur, với tư cách Tư lệnh quân đội Mỹ, dẫn Sư đoàn I kỵ binh chánh thức vô Thủ đô Tokyo, và dự lễ thương kỳ tại trụ sở của Tòa Đậi sứ Mỹ. Kể từ đó ông cư ngụ tại đây, và ngày ngày đi tới làm việc tại Bộ Tư Lệnh Quân đội chiếm đóng đặt ở cao ốc Dai Ichi đối diện với Hoàng Cung. Khi đi khi về đều có lính Mỹ còi xe gắn máy mở đường hụ còi inh ỏi để dương oai và thị uy với thiên hạ. MacArthur được giao cho thi hành hai nhiệm vụ : giải giới quân đội Nhật và Dân chủ hóa nước Nhật. Nhờ sự cư xử khéo léo của Thiên Hoàng và dân chúng Nhật, mọi việc đã diễn ra khá êm đẹp. Tình trạng hoà dịu giữa quân chiếm đóng và dân chúng địa phương phải kể là tốt đẹp hơn bất cứ cuộc chiếm đóng nào khác trong lịch sử. Dân Nhật coi MacArthur giống như một Tướng quân thời Mạc phủ. Nhưng đây là một «Tướng quân mắt xanh».

Tuyết Sinh (dịch)
Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »