HÀI quân không làm áp lực với Chánh phủ như các Tướng lãnh Bộ Binh, nhưng các vị Đô Đốc một khi tham gia chánh phủ, cũng không thể nào tránh được việc phải tranh đấu xử dụng ngân sách quốc phòng cho Hải quân. Sự tranh chấp này trở nên quan trọng kể từ khi Lục quân chiếm Mãn châu năm 1931. Những chiến thắng đó đã khơi dậy tham vọng của Hải quân và làm cho họ cảm thấy bất mãn, nhất là những sĩ quan đang muốn canh tân không lực của hải quân với những cải tổ tối tân.
Hiệp ước ký với Anh và Mỹ tại Hoa thịnh đốn khiến các giới Hải quân Nhật bất mãn. Họ cho rằng hiệp ước đó cầm chân lực lượng Hải quân Nhật, không cho tiến lên ngang hàng với Anh và Mỹ. Giới sĩ quan cao cấp Hải quân luôn luôn quan tâm tới việc phát triển binh chủng này và đòi hòi hiệp ước ký với Anh và Mỹ phải được sớm chấm dứt. Năm 1935, Đô Đốc Nagano và Yamamoto, sau một cuộc hội nghị khó khăn với Anh và Mỹ tại Luân đôn, đã thành công trong việc xóa bỏ bản hiệp ước hạn chế hải quân Nhật.
Nhưng đa số hải quân không hiếu chiến như Lục quân. Chịu ảnh hưởng mạnh của các sĩ quan cao cấp, lớn tuổi, như các Đô Đốc Suzuki, Oikawa, Yonai và Okada, các giới trong Hải quân cho rằng việc đánh Tây phương là điều không cần thiết trong việc bành trướng ảnh hưởng của nước Nhật. Quan niệm của Hải quân Nhật cho rằng nước Nhật cần phải bắt chước nước Anh, bành trướng sức mạnh của mình dọc theo bờ biển Trung Hoa xuống vùng Đông Nam Á, với phương tiện chánh là lực lượng hải quân hùng hậu. Trong khi đó Lục quân Nhật lại muốn Nhật bắt chước nước Đức, có một đạo quân trên bộ thật hùng hậu và tinh nhuệ, để tiến lên phía Bắc mở mang bờ cõi.
Hải quân hoàn toàn không tin tưởng ở chánh sách Bắc tiến đó. Các vị Đô Đốc Nhật cho rằng nước Nhật với số dân tám chục triệu không thể nào đủ sức đối địch, gây hấn với hai nước láng giềng khổng lồ, với số dân của mỗi nước gấp năm, sáu lần dân Nhật. Kinh nghiệm trong trận chiến tranh Nga — Nhật năm 1905 cho thấy, mặc dầu thắng, những tài nguyên của Nhật hầu như đã bị dốc cạn. Cái giá của chiến thắng đó, Nhật phải trả bằng một số lớn sinh mạng của binh sĩ, là điều mãi mãi ám ảnh các Tướng lãnh Nhật sau này.
Trong lúc Lục quân dính líu sâu mãi vào cuộc chiến ở Miền Bắc Trung Hoa và đụng độ với Nga sô, thì Hải quân cương quyết theo đuổi chánh sách bành trướng lãnh thổ về phía Nam. Họ cho rằng nếu cần có chiến tranh để giành quyền sống thì Nhật nên chọn phương tiện hải quân, vì đó là ưu điểm của một dân tộc sống ở hải đảo.
Trong lúc Nhật đang nỗ lực chế ngự lục địa Trung Hoa, các vị Đô Đốc hải quân cho rằng cách tốt nhất là xử dụng những lực lượng Hải quân một cách uyển chuyền dọc theo bờ biển Trung Quốc để phổi hợp với những cuộc hành quân trên bộ, giống như người Anh thường làm từ bao thế kỷ nay tại Âu châu và sau này ở vùng Đông Á. Phương tiện chiến tranh bằng Hải quân như vậy ít gây ra đụng chạm với các lực lượng Tây phương. Vì người Tây phương biết rằng Hạm đội của họ ở Viễn Đông chưa thể mạnh bằng Nhật. Hơn nữa đây lại là vùng biển nhà , quen thuộc với Hải quân Nhật. Tây phương không có căn cứ nào, ngoại trừ Hồng Kông và một vài nhượng địa bé nhỏ khác.
Hơn nữa, những cuộc bành trướng của Hải quân xuống phía Nam như vậy còn là một hậu thuẫn mạnh mẽ cho những nỗ lực ngoại giao và thương mại của Nhật trong khắp vùng này, nhất là đối với vùng đảo Đông Indies có rất nhiều dầu hiện đang nằm trong tay người Đức. Những nơi đó rất cần phải bành trướng ảnh hưởng và thương mại đối với nước Nhật sau này. Nhất là khi chiền cuộc tại lục địa Trung Hoa mở rộng với tầm vóc quốc tế thì các hòn đảo đó trở nên tối quan trọng cho Nhật về phương diện quân sự. Hầu tước Inoue trong cuộc viếng thăm Luân đôn năm 1937 đã nói cho nước Anh biết: «Các vị đểu biết quý quốc cũng như nước tôi, cả hai đều không có mỏ dầu. Nhưng nước Anh kiểm soát nhiều quốc gia cung cấp dầu trên thế giới. Ngược lại Nhật bản, không những không có những nguồn cung cấp nhiên liêu bảo đảm, mà ngay cả các nguyên liệu khác, chúng tôi cũng bị thiếu thốn.» Không có những nguyên liệu đó, một quốc gia không thể nào tốn tại và chịu đựng được trong các cuộc chiến tranh. Địa vị cường quốc của Nhật vì vậy tùy thuộc tất cả nơi vấn đề cung cấp nguyên liệu và nhiên liệu này.
Đầu năm 1932, tiếp theo sau chiến cuộc Mãn châu bùng nổ, Hải quân Nhật đã dính líu vào một chiến trận tại thành phố quốc tế Thượng Hải và sau đó phải nhờ tới những đơn vị bộ binh tiếp cứu. Từ đó, Hải quân Nhật đã nhận thấy rõ địa bàn hoạt động của họ không phải ở miền Bẳc. Do những lời yêu cầu khẩn thiết của Hải quân, một vị Đô đốc đã được bổ nhiệm vào chức vụ Chúa đảo Kim môn để cán cân được đồng đều với viên Tướng Bộ binh cai trị vùng Mãn châu. Từ đó, Hải quân Nhật thiết lập một Bộ Tư Lệnh tại hòn đảo này, giống như kiểu Bộ Tư lệnh của Đạo quân Kwangtung ở Mãn châu, để liên lạc phối hợp với những hoạt động quân sự tại lục địa Trung Hoa và Cơ quan Phát triển Á châu do Bộ Hải quân bảo trợ tại Tokyo. Những sự kiện đó ch0 thấy rõ ràng, Hải quân Nhật đã lợi đụng biến cố xảy ra tại Thượng Hải năm 1937 để thi hành chánh sách bành trướng về phương Nam của họ.
Biến cố tại Thượng Hải xảy ra bắt nguồn từ việc một sĩ quan Hải quân Nhật bị giết ở ngoại ô thành phố. Thế là Hải quân Nhật đổ bộ và tấn công vào sư đoàn binh sĩ Trung Hoa với sự trợ giúp của Bộ binh Nhật. Cuộc chiến trở nên ác liệt, tất cả lực lượng đổ bộ của Hải quân Nhật phải đánh vào sườn của quân đội Trung Hoa và đẩy lui được quân Tàu ra khỏi Thượng Hải. Sau đó các đơn vị Bộ binh và Hải quân Nhật chiếm trọn cả thành phố Nam Kinh và thực hiện một cuộc tàn sát, thổ phỉ, hãm hiếp dã man tại thành phố này trong bốn ngày liền. Những hành động tàn ác đó đã được cả thế giói biết đến. Nhưng còn một điều khác không ai biết tới, đó là Hải quân Nhật đã thành công trong việc lôi kéo Bộ Binh Nhật dính líu vào mặt trận phía Nam. Như vậy, lúc này cả hai binh chủng Hải và Lục quân của Nhật đều đánh phá ở miền Nam Trung Hoa, và liền sau đó, những kế hoạch hành quân quy mô rộng lớn đã được Hải quân hoạch định.
Vào đầu năm 1938, Hoàng thân Konoye hoàn toàn tuyệt vọng trong việc kết thúc chiến cuộc tại Trung Hoa. Ông không thể nào giảng hòa được cuộc tranh chấp giữa hai binh chủng Hải quân và Lục quân. Lúc này ông nhận thấy Hải quân không còn phải là những phần tử hiếu hòa như ông vẫn nghĩ trước đây. Đô Đốc Suetsugi, Tổng trưởng Nội vụ, tuyên bố phải đuổi hết bọn da trắng ra khỏi Á châu, và trước hết phải khống chế Trung Hoa, dù có xảy ra chiến tranh với nước Anh cũng không sợ. Cũng trong lúc này mọi cố gắng của Thủ Tướng Konoye từng làm để chứng tỏ mình cũng là một thành phần quốc gia cực đoan đã bị thất bại. Một lần nữa, các Tướng lãnh lại nhận thấy Thủ tướng vẫn còn đi chậm hơn họ một bước trên con đường ái quốc.
Qua trung gian của Tướng Sugiyama,Tổng trưởng chiến tranh, Thủ Tướng được quân đội báo cho biết chánh phủ hiện tại không còn phù hợp với tình hình «khẩn trương của quốc gia.» Sau đó, Sugiyama xin tự chức. Thủ Tướng Konoye yêu cầu các nhân viên khác trong nội các cùng từ chức theo, và sau đó ông thành lập một nội các mới. Khi danh sách tân chánh phủ dược công bố, người ta nhận thấy những nhân vật hầu hết toàn là quân nhân, thực không khác gì một chánh phủ quân sự.
Tướng Araki, thành phần cực đoan, nắm Bộ Giáo Dục. Một Tướng lãnh và một Đô đốc khác giữ các ghế Ngoại giao, Nội vụ. Tánh cách quân sự của tân nội các được che đậy bớt bằng cách dành Bộ Tài chánh cho một nhân vật dân sự, là Seihin Ikeda, thuộc tổ hợp kỹ nghệ Mitsui. Điều này có nghĩa là giới thương mại và kỹ nghệ từ nay đã hoàn toàn thần phục phe quân nhân, giống như con ngựa đã ngoan ngoãn chịu thắng vào cỗ xe quân sự.
Các Tướng Tá thuộc đạo quân Kwangtung đã thực hiện kế hoạch đánh chiếm Mãn châu, và những quân nhân từng gây ra cuộc biến động tại cầu Marco Polo để lấy cớ đánh Trung Hoa trước đây, bây giờ đều nắm những chức vụ quan trọng tại Bộ Tổng Tham mưu ở Tokyo. Tổng Trưởng Chiến tranh được giao cho viên Tướng dữ nhất, đó là Tướng Itagaki. Thủ Tướng Konoye hài lòng, vì ông nhận thấy viên Tướng này dù sao cũng còn có thể dụ được, và tương đối dễ chịu. Kề ra một con người từng hét ra lửa trước kia tại Mãn châu mà bây giờ lại tương đối dễ chịu thì cũng là chuyện lạ. Nhưng ta có thể giải thích rằng sở dĩ như vậy, vì bây giờ đã xuất hiện nhiều viên Tướng khác còn dữ hơn ông ta nữa. Chức Thứ Trưởng Chiến tranh trong tân nội các được chọn giao cho một nhân vật trước đây đã từng giúp Itagaki một cách đắc lực tại Mãn châu trong việc điều khiển đoàn Hiến binh Kempeitai. Người đổ là Tướng Hideki Tojo. Thủ Tướng Konoye rất hài lòng việc chọn lựa này, vì theo ông Tướng Tojo là người rất linh mẫn và làm việc có phương pháp.
Hai ngày sau khi tân nội các thành lập xong, Trung Tướng Tojo bàn giao chức vụ Tư Lệnh đạo quân Mãn châu lại cho người kế vị và lên máy bay trở về Tokyo để bước những bước đầu tiên vào cuộc đời chánh trị.