Tojo Người Hùng Thái Bình Dương

Lượt đọc: 1310 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XII

Đối với những người Nhật có tư tưởng tự do và quan niệm rằng bọn quá khích đã bị tan rã hàng ngũ sau cuộc đảo chánh thất bại của nhóm sĩ quan trẻ, không bao lâu họ đã nhận thấy quan niệm đó là một điều sai lầm. Một trong những người bị vỡ mộng chính là Shigeru Yoshida, chánh khách thuộc Bộ Ngoại giao.

Nội các của Thủ Tướng Okada đã từ chức sau cuộc biến loạn. Nhà ngoại giao chuyên nghiệp từng nắm giữ chức Tổng trưởng ngoại giao trước đây là ông Koki Hirota được mời lập nội các mới. Hirota là người muốn làm sống lại một chánh phủ dân sự, tự do, độc lập với phe quân sự. Õng ta được sự bảo trợ của Chúa đảng Hắc long là Toyama, và chính ông cũng có tên trong đảng này. Tuy nhiên, nội các mới của ông dự định thành lập gồm một số nhân vật ôn hòa, trong đó có Yoshida được mời giữ Bộ Ngoại giao trong tân nội các. Nghe được tin này, phe Tướng lãnh vội vàng trình bày quan điểm của quân đội, và cho thấy rõ họ muốn can thiệp trực tiếp vào các sinh hoạt chánh trị.

Tướng Terauchi, người đã được chỉ định giữ Bộ Chiến tranh trong tân nội các, cùng với Tướng Yamashita và một số Tướng lãnh khác trong Bộ Tổng Tham mưu, bất thần xuất hiện trong một phiên họp thảo luận việc lập nội các mới. Mấy ông Tướng này nói thẳng cho Thủ Tướng Hirota biết : « Các quân nhân nghe được tin nói rằng có nhiều nhân vật không có cảm tình với quân đội đã được mời vào nội các. Nếu sự thật như vậy, quân đội sẽ cực lực phản đối điều đó. » Trong tập Hồi ký sau này Yoshida đã viết: « Tôi cảm thấy ngay họ muốn ám chỉ mình, và vội vàng cải chánh tôi không hề có ý định tham gia tân nội các. »

Sau cùng nội các mới do Thủ Tướng Hirota cầm đầu được thành lập xong, gồm toàn những nhân vật đã được Tướng Terauchi chấp thuận, và quá nửa ngân sách quốc gia được dùng để chuẩn bị chiến tranh. Nghiêm trọng hơn nữa là từ nay phe quân nhân trong chánh phủ có quyền phủ quyết đối với những vấn đề quan trọng không được họ đồng ý. Thủ tướng Hirota đã chấp nhận yêu sách này khi ông thỏa mãn lời yêu cầu của phe quân nhân đòi hỏi các Bộ chiến tranh và Hải quân phải giao cho các sĩ quan hiện dịch. Ngay cả thời Minh Trị, yêu sách đó đã nhiều lần bị bác bỏ.

Xưa kia Minh Trị là người trực tiếp kiểm soát Quân đội, tuy vậy Ngài cũng không muốn để cho phe quân nhân tham dự trực tiếp vào chánh trị, vì đó là một nguyên tắc gây ra nhiều chuyện rắc rối tệ hại. Những lầm lẫn lúc này đã trở nên vô cùng nghiêm trọng. Nhật Hoàng Hirohito là người thích sống ẩn dật, không muốn trực tiếp tham dự vào công việc chánh trị trong nước. Theo lời khuyên của Hoàng tử Saionji, người đã từng làm cố vấn cho vua Minh Trị trước đây, Ngài muốn giữ tư thế vượt lên cao khỏi những sinh hoạt chánh trị đã được giao cho chánh phủ và quốc hội, theo đúng Hiến pháp Quân chủ lập hiến của nước Nhật. Đó là địa vị tôn quý, giống như «Cánh hạc bay trên mây xanh».

Tiếng nói của Thiên Hoàng thường được phán ra một cách gián tiếp với những danh từ bóng bảy, do đó bọn quá khích luôn luôn lợi dụng để giải thích theo ý của họ. Chẳng hạn nhóm quá khích nổi loạn năm 1036 đã cho rằng họ là những người trung thành muốn cứu Thiên Hoàng khỏi tay những cố vấn sai lầm. Lúc này trong Chánh phủ lại có nhiều Tướng lãnh, Đô Đốc, họ tha hồ giải thích ý của Thiên Hoàng, đâu còn sợ ai kiểm soát.

Dưới thời chánh phủ của Thủ Tướng Hirota, vào tháng Chạp năm 1936, Nhật đã gia nhập Liên minh chống phong trào cộng sản thế giới với Đức. Các Tướng lãnh cho rằng làm vậy sẽ tránh được việc Nga can thiệp khi Nhật tiến vào Trung Hoa. Chính Thiếu tướng Oshima, trong lúc làm Tùy viên quân sự tại Bá linh, đã tiếp xúc trực tiếp với Ribbenthrop, một chuyên viên ngoại giao của Hitler, để sắp xếp việc gia nhập này. Cũng giống như các Tùy viên quân sự tại những nơi khác của Nhật, Tướng Oshima báo cáo trực tiếp về Bộ chỉ huy cao cấp của quân đội Nhật ở Tokyo. Sau này ông ta phụ trách luôn các công tác ngoại giao Đức-Nhật và trở thành Đại sứ. Chắc chắn viên Tướng này là người chủ chốt trong việc đưa Nhật vào phe Trục. Những nhân vật như Tổng trưởng ngoại giao và ngay cả Thủ tướng Hirota cũng chỉ đóng vai phụ.

Không bao lâu quân đội lại chán cả Thủ Tướng Hirota, mặc dầu ông này đã tỏ ra là một nhà siêu ái quốc. Chính phủ bị đổ nhân dịp Tổng trưởng chiến tranh là Tướng Terauchi bị tố cáo tại diễn đàn Thượng viện là có thái độ chống lại chánh phủ hiến định hiện tại. Ông Tướng này mấy ngày trước đó đã chỉ Tòa nhà Thường viện nói với Tùy viên quân sự ngưòi Anh rẳng : «Tiền xây tòa nhà này nếu để thành lập hai Sư đoàn mới còn ích lợi hơn.» Dân biểu Hamada lên tiếng cho rằng nếu những lời tố cáo trên đây đúng thì Tổng Trưởng chiến tranh phải tự xử theo nghi thức hara-kiri. Nhưng Tướng Terauchi coi như không biết gì tới những lời tố cáo và thách thức đó, ông ta yêu cầu Thủ Tướng giải tán Hạ viên để dọn đường tiến tới một chánh phủ độc đảng, ngõ hầu «bảo vệ quốc gia» một cách hữu hiệu hơn.

Mọi người, kể cả Thủ Tướng Hirota, đều biết rằng đó không phải là phản ứng cá nhân của Teratichi, nhưng vấn đề «bảo vệ quốc gia» là chuyện được nêu lên để bày tỏ ý muốn bành trướng của quân đội ở hải ngoại trong những cuộc phiêu lưu, chinh phục mới. Hirota tuy không chống đối dự tính đó, nhưng lúc này ông chưa sẵn sàng chấp nhận những thay đổi lớn trong chánh phủ. Nhiều lần Terauchi đã cho biết ông ta không thể hợp tác với một chánh phủ không có lòng tin của quân đội, và do đó ông không thể duy trì được kỷ luật binh sĩ, nhưng Thủ Tướng Hirota vẫn còn trù trừ chưa có quyết định dứt khoát. Sau đó, thình lình, Terauchi từ chức và kéo theo sự tự chức của cả nội các.

Hoàng thân Saionji tâu với Nhật Hoàng để Tướng hồi hưu Ugakt đứng ra lập tân nội các. Vào năm 1920, ông này là người đã kiểm soát được những chống đổi của quân đội trong lúc giữ chức Tổng trưởng Chiến tranh. Quân đội cũng vẫn còn nhớ điều đó, nên trên đường đi tới Hoàng cung để bệ kiến Nhật Hoàng, Ugaki đã bị Tướng Nakajima, chỉ huy Hiến binh Kempeitai, chận xe lại báo cho biết quân đội khuyên ông không nên nhận chức Thủ Tướng lúc này. Là người can đảm, kiên nhẫn, và đang muốn có chức vụ, Ugaki bất kể lời khuyên đó, và cứ việc tới bệ kiến Nhật Hoàng. Nhưng ngày hôm sau các tư lệnh binh chủng từ chối đề nghị một Tướng lãnh vào chức Tổng trưởng chiến tranh trong nội các của Tướng Ugaki. Thế là ông ta đành chịu, không thể nào lập nổi chánh phủ.

Vào năm 1937, việc đứng ra thành lập một nội các ở Nhật là việc làm cảm tử. Những nội các này thường thường chết rất mau, và ngay cả cá nhân những nhân viên chánh phủ cung có thề bị ám sát bất cứ lúc nào. Những chuyện đó được coi là tổn thất do bọn giết người chánh trị gây ra. Bọn quá khích ở Nhật lúc này không phải là những thành phẩn bất mãn, hay phát xít, như ở những nơi khác. Những phẩn tử cực đoan này là bọn tin tưởng rằng Nhật cần phải hoàn tất sứ mạng cao cả của mình trong việc lãnh đạo các dân tộc Á châu. Đó cũng là một tin tưởng chung của hầu hết dân Nhật trong giai đoạn này. Giấc mộng bá chủ Á châu đó được thực hiện, bành trướng bởi những phương pháp khác nhau. Tùy theo những phương pháp đó mà người ta phân biệt được kẻ chủ động thuộc giới quân nhân, chánh khách, hoặc đảng Hắc Long.

Hầu hết dân Nhật lúc đó đều tin vào thuyết Đại Đông Á do Nhật cầm đầu đế tiến tới phồn thịnh ở Á châu. Họ cho đó là chủ điểm của chánh sách ngoại giao và chính trị của Nhật. Những bành trướng thuộc địa của các cường quốc Tây phương như Anh và Pháp khiến người Nhật càng thêm sốt ruột, muốn đẩy mạnh việc mở rộng Đế Quốc Nhật. Ngay cả sau khi Mussolini và Hitler đã thực hiện xong những cuộc xâm lăng, đe dọa láng giềng một cách tàn bạo, việc bành trướng lãnh thồ vẫn còn được mọi giới ở Nhật háo hức.

Tuy nhiên, cũng còn một số nhân vật như Yoshida, Shigemitsu, lúc đó không tin vào những hành động bành trướng lãnh thổ bằng bạo lực, như vài quốc gia Âu châu đang làm. Những chánh khách này có đường lối hoạt động riêng, và họ tìm cách để thực hiện chánh sách của mình, không cần chạy theo quan niệm hiếu chiến của các Tướng lãnh. Nhưng tình hình chánh trị tại Nhật lúc đó bắt buộc những người có quan niềm ôn hòa như vậy phải tìm cách tạm thời ẩn thân, chưa thể nào xuất đầu lộ diện ngay được. Yoshiđa không phải là một người sợ chết, nhưng cũng phải vội vã phủ nhận ý định tham gia nội các của Thủ tướng Hirota. Ông đã thấy rõ nếu cố tình đi ngược lại ý muốn của phe Tướng lãnh, chắc chắn họ sẽ tìm cách này hay cách khác để làm cho nội các phải đổ một cách nhục nhã. Và nhục là điều dân Nhật sợ hơn cả.

Điều tệ hại, nguy hiểm cho các chánh phủ ở Nhật lúc này, là một nội các muốn tồn tại phải được sự đồng ý của phe Tướng lãnh. Nếu không, họ không chịu chỉ định Tổng trường chiến tranh, hoặc ra lệnh cho ông này từ chức kéo theo sự sụp đổ của cả nội các. Chính Hiến pháp đã cho phép họ làm như vậy. Thành ra, các cố vấn của Thiên Hoàng cứ phải tìm những người nào có khả năng tìm được Tổng trưởng chiến tranh mới dám mời ra lập nội các. Chính vì vậy, hầu hết các Thủ Tướng bấy giờ đều là những Tướng lãnh, hoặc chánh khách quá khích.

Đến tháng 6 năm 1937, các cố vấn của Nhật Hoàng nhận thấy không còn ai đủ khả năng chế ngự phe Tướng lãnh để lập nội các, ngoài một nhân vật thuộc dòng dõi quý phái Fujiwara, đó là Hoàng thân Konoye. Đây là nhân vật duy nhất lúc này có thể được mọi phe phái chấp nhận. Thân phụ ông trước kia là bạn thân của Mitsuru Toyama, Chúa Đảng Hắc long. Ông lại là người thân cận Nhật Hoàng và rất am hiểu tình hình chánh trị. Những liên hệ đó khiến ông hiểu được tâm trạng của những người ái quốc cực đoan, và có cảm tình với họ phần nào. Ông không thích gì hạng người siêu ái quốc đó cho lắm, nhưng lúc này bắt buộc ông phải nghiêng về phía họ, vì quá sợ hiểm họa cộng sản bành trướng tại Nhật. Ông cũng tỏ ra là người thực sự có cảm tình với Hoa Kỳ, và muốn bình thường hóa sự giao hảo giữa hai quốc gia. Vì vậy khi Hoàng thân Konoye lên làm Thủ tướng vào tháng 6 năm 1937, mọi ngưòi đều coi là một chuyện rất thích hợp, may mắn cho nước Nhật. Bởi vì hiện tại phe quân nhân lúc này đã quá lộng, không còn một chánh khách dân sự nào khác đủ sức chế ngự họ.

Chánh sách của Hoàng thân Thủ tướng Konoye có vẻ nghiêng về đường lối điều đình với Trung Hoa của ngoại trưởng Mamoru Shigemitsu. Theo đó, Nhật sẽ bằng lòng rút ra khỏi các lãnh thổ khác của Trung Quốc với điều kiện Trung Hoa công nhận tình trạng độc lập của Mãn châu. Giải pháp này không ai biết được có thể có bao nhiêu hy vọng được Trung Hoa chấp nhận. Những các binh sĩ Nhật đóng ở Trung Hoa, không rõ vi nghi ngờ hay được ai báo tin về đường lối hòa giải đó, đã tạo ra một biến cố đế đẩy mạnh những cuộc tấn công trên lãnh thổ Trung Hoa. Đêm 7 tháng 7 năm 1937, một toán tuần tiễu Nhật đang đi gần cầu Marco Polo ở Bắc Kinh thì bị một số lính mà họ cho là lính Trung Hoa tấn công.

Nhiều người cho rằng đây lại là một cuộc «la làng giả tạo» khác của Nhật để lấy cớ xâm chiếm thêm đất đai của Trung quốc, cũng giống như hồi năm 1900, họ lấy cớ dẹp giặc quyển phỉ để uy hiếp nước Tàu. Sự kiện đó càng trở nên rõ ràng, khi quân Nhật huy động đại quân tấn công toàn diện vào quân lực Trung Hoa. Những trận đánh quy mô như vậy rõ rệt không phải là một hành động trả thù nhưng đã được tính toán tỉ mỉ từ trước.

Binh sĩ Trung Hoa lần này đã chiến đấu một cách can đảm, khác hẳn vói những lần trước khi bị các cường quốc ăn hiếp. Khi Hoàng thân Konoye bắt đầu điều khiển chánh phủ thì tình trạng chiến tranh toàn diện giữa Hoa - Nhật đã trở thành một sự kiện không còn cứu vãn nổi. Một lần nữa, phe quân nhân hải ngoại lại tự ý hành động, không cần hỏi ý kiến chánh phủ trung ương. Họ bắt đầu gieo tang tóc, binh lửa trên đất Trung Hoa trong những năm dài kế tiếp.

« Lùi
Tiến »