Tojo Người Hùng Thái Bình Dương

Lượt đọc: 1314 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XVI

NGAY sau khi lên điều khiến Nội các, Hoàng thân Konoye cho quân đội và cả nước Nhật biết rõ ràng rằng ông không tin tưởng ở chánh sách dân chủ. Trong bài diễn văn đọc năm ngày sau khi khai mạc Nội các, Hoàng thân tuyên bố : « chánh thể tự do cũng như xã hội chủ nghĩa đều là những lý thuyết ngoại lai, không phù hợp với lý tưởng quốc gia của nước Nhật. »

Các chánh khách cố vấn xung quanh Hoàng gia, khi chọn Konoye làm Thủ Tướng, đã cho ông ta toàn quyền giải quyết cuộc chiến Hoa-Nhật theo ý muốn và cách thức riêng của ông. Tuy nhiên các cố vấn Hoàng gia đặt cho ông một giới hạn là không được đưa cuộc chiến đó đi xa hơn nữa. Điều đó rất phù hợp với chủ kiến riêng của Konoye. Mặc dầu rất ghét Nga sô và lý thuyết Cộng sản, nhưng ông không đến nỗi mù quáng mà không nhận ra rằng một cuộc chiến tranh sâu vào phía Đông nội địa Nga là điều nguy hiểm. Hơn nữa, ông còn phải lo đối phó với cuộc chiến chống Hoa Kỳ. Tuy trong thâm tâm, có thể ông không muốn gây chiến với Mỹ, nhưng tình thế đã đẩy ông vào chỗ không đứng lại được trước trào lưu muốn mở những chiến tranh mới. Trong vấn để chủ chiến, mặc dầu Konoye đã hết sức tỏ ra mình là người tích cực chuẩn bị, nhưng cuối cùng ông vẫn bị coi là thiếu hăng hái, nên đành phải rút lui, nhường chỗ cho một nhân vật được coi li nhiệt thành hơn ông ta.

Trong những ngày đầu làm việc của Nội các, Thủ Tướng Konoye tin tướng Tướng Hideki Tojo sẽ củng cố được vấn đề kỷ luật và kiểm soát quân đội một cách chặt chẽ. Những việc làm của Tojo khiến Konoye cảm thấy phấn khởi. Mặc dầu hành động thật nhân tâm của Tojo trước đây đối với giới kỹ nghệ, nhưng giữa ông và Thủ Tướng hiện tại có sự đồng ý hoàn toàn về phương thức làm việc của Nội các. Ngay trong cuộc tiếp xúc đầu tiên, Tướng Tojo đã đồng ý với Thủ Tướng Konoye về việc phải duy trì kỷ luật chặt chẽ trong quân đội, về việc phải kết thúc chiến cuộc Hoa-Nhật, và về sự cần thiết phải phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Chỉ huy cao cấp của Lục quân và Hài quân, cũng như việc tái lập uy quyền của Thủ Tướng.

Sau này không biết bắt đầu từ lúc nào, Tojo lại cho rằng Hoàng thân Konoye không còn thích hợp với chức vụ Thủ Tướng. Thế là thái độ hòa hợp của ông trước đây đối với Thủ Tướng đã thay đổi.

Tại Bộ Ngoại giao, ngoại trưởng Matsuoka tin chắc rằng nước Đức sẽ thẳng trận và Nhật cần phải nhảy vô vòng chiến để được chia phần.

Hai tuần sau khi nhậm chức, ngoại trưởng Nhật tuyên bổ nước Nhật có sứ mạng phải mở rộng Đế quốc và giúp các quốc gia khác trên thế giới sống theo đúng tư thế của mỗi dân tộc. Theo quan niệm đó của ông thì các đảo Đông Indies của Đức và thuộc địa Đông Dương của Pháp là một thành phần của lãnh thổ «Đại Đông Á». Những phần đất đó cần phải nhập vào vòng ảnh hưởng của Nhật. Đó là những lời giải thích thêm của phát ngôn viên Bộ ngoại giao trong một cuộc họp báo. Phát ngôn viên này còn đi xa hơn những lời tuyên bố của Tổng trưởng ngoại giao, khi cho rằng vùng ảnh hưởng của Đế quốc Nhật gồm cả những lãnh thổ ở miền Biển Nam Hải. Khi một ký giả Mỹ đứng lên hỏi, liệu vùng đó có bao gồm Phi luật tân hay không, thì phát ngôn viên từ chối trả lời. Tại Thượng viện, ngoại trưởng Nhật tuyên bố nếu Hoa Kỳ chống lại những mục tiêu bành trướng đó của Nhật, nước Nhật sẽ buộc lòng phải trả đũa, và trong trường hợp đó có thể Nhật sẽ tham dự vào chiến cuộc Âu châu.

Những tham vọng của Nhật được các cố vấn của Hitler cân nhắc. Những vị nẩy cho rằng Nhật không giúp được gì cho Đức tại mặt trận Âu châu. Lý do là hiện tại Đức đã hoàn toàn kiểm soát lục địa này và không cần tới sự trợ giúp của Nhật. Hitler đã bỏ ý định xâm lăng Anh quốc. Vì nước này mặc dầu còn đang chiến đấu, nhưng không có gì gọi là đe dọa đáng ngại đối với Đức. Vì vậy mà những lời tuyên bố của ngoại trưởng Nhật lúc đầu bị Đức coi dửng dưng.

Nhưng sau, Hitler thình lỉnh chuẩn bị cuộc tiến quân vào Nga sô, và nhận thấy lực lượng của Nhật là điều cẩn thiết để cầm chân những đạo quân của Nga tại Viễn Đông. Ngoài ra, Nhật còn là một yếu tố để cầm chân hải quân Anh tại Thái bình dương. Đồng thời cũng khiến Mỹ phải chú ý và không còn rảnh rang dòm ngó tới mặt trận Âu châu. Nhận định như vậy, các nhân vật Quốc xã vội vàng tới Tokyo, giải thích cho Nhật hay, Đức hoàn toàn công nhận Nhật là một cường quốc ở Á châu, và công nhận Nhật có toàn quyền tiến quân, hoặc hành động theo ý muốn tại vùng này.

Trong những cuộc hội kiến, thảo luận với Thủ Tướng và Tổng trưởng ngoại giao, Tướng Tojo nhận thấy hai nhân vật này thiên về lập trường liên minh với Đức. Sau đó, ông hoàn toàn đồng ý ngay việc Nhật bản quay về những triền vọng bành trướng tại vùng Đông Nam Á, dù cho việc đó có cần phải ký với Nga sô một hiệp ước bất tương xâm tại phía Bắc, Nhật cũng sẵn sàng.

Đầu năm 1941, ngoại trưởng Nhật chạy đôn chạy đáo qua lại giữa Bá Linh và La mã để ký minh ước gia nhập phe Trục. Ông tuyên bố tại Bá linh : «từ nay nước Nhật chia vui xẻ buồn với nhân dân Đức ». Cuối cùng trước khi từ biệt để sang Nga, ngoại trưởng Nhật nâng ly chúc mừng nước Đức «may mắn và thành công» trong việc xâm lăng vùng Ba nhĩ cán. Tại Mạc tư khoa, ngoại trưởng Nhật ký với Stalin một hiệp ước bất tương xâm để bảo đảm Nga sẽ không xía vô kế hoạch thành lập khu vực «Đại Đông Á» của Nhật. Một tuyên cáo chung được công bố sau lễ ký kết hiệp ước : Nhật công nhận tôn trọng lãnh thổ Ngoại Mông thuộc Nga sô. Ngược lại, Nga thừa nhận sự vẹn toàn lãnh thổ và bất xâm phạm vào Mãn châu của Nhật. Lúc rời Mạc tư khoa, ngoại trưởng Nhật được đích chân Stalin tiễn đưa. Đó là một đặc ân hiếm có Sô viết dành cho các khách danh dự. Khi ông ta vừa về tới Tokyo thì Đức tấn công Nga — nhằm ngày 22 tháng 6 năm 1941, và ngoại trưởng Nhật không ngần ngại yêu cầu Chánh phủ Nhật tấn công, xâm lăng Nga ở phía Đông.

Việc Đức xâm lang Nga sô khiến cho nhiều chánh khách Nhật phải suy nghĩ. Như vậy là lúc này Anh quốc được rảnh tay để đối phó với các biến cố tại Viễn Đông. Với những cuộc tiến quân vào Nga nhanh như vũ bão, Nhật e ngại, không biết sau khi chiếm xong Nga, Đức có chịu ngồi yên hay không. Hoặc giả sau đó Đức lại tính tới vùng Viễn Đông ?

Những lời tuyên bố của Hitler cho rằng ông ta sẽ lấy Mạc tư khoa trong vòng ba tuần, và chiếm những nơi còn lại trên đất Nga ít tháng sau đó, khiền Tổng trưởng chiến tranh Nhật sốt ruột. Tojo động viên quân đội tới mức tối đa. Nhất là đạo quân Kwangtung tại Mãn châu, lúc này các sĩ quan trong Bộ Tham mưu tại đó đang ráo riết chuẩn bị một cuộc tiến quân vào vùng Tây bá lợi Á. Họ chỉ còn đọi lệnh của Chánh phủ và hy vọng thế nào chuyện đó cũng xảy ra. Quân số đạo quân này hiện đã gia tăng gấp đôi lên tới 600.000 người. Họ sẵn sàng tiến quân để thực hiện một cuộc chia đôi nước Nga với Đức, giống như kiểu Stalin và Hitler chia nhau Ba lan trước đây. Nhưng khi được tin quân Hitler bị chận lại gần Mạc tư khoa, Nhật liền rút số quân tăng cường ở Mãn châu về phía Nam, ở đây Hải quân đang có những mưu toan bành trướng mới. Việc rút quân này cũng rất hợp với chủ trương của Hoàng thân Konoye.

Sau khi đã chiếm trọn vùng duyên hải phía Nam Trung Hoa và đảo Hải Nam, năm 1940, lợi dụng việc Pháp thất trận ở Âu châu, Nhật lại lăm le tiền xa hơn nữa về hướng Nam. Cho rằng đồ tiếp liệu quan trọng cho Tưởng giới Thạch được đưa từ biên giới Việt Nam qua, Nhật đòi phải để cho mình kiểm soát vùng Bắc Việt. Một mặt đe dọa, một mặt nhờ Đức làm áp lực với Chánh phủ Pétain, cuối cùng Pháp đành ra lệnh cho Toàn quyển Đông Dương nhượng bộ. Thế là Nhật ùn ùn đổ quân lên miền Bắc Việt Nam.

Bước kế tiếp, Nhật đòi Pháp phải để cho họ kiểm soát toàn thể Đông Dương, lấy cớ để đề phòng một cuộc tấn công của Anh, và lý đo thứ hai là sợ Phe De Gaulle sẽ đảo chánh. Chánh quyền thuộc địa Pháp không có cách nào khác hơn là nhượng bộ. Thế là Nhật mau mắn chiếm nốt miền Nam Đông Dương vào tháng 7 năm 1941. Bây giờ họ đã có tất cả tám phi trường, ba căn cứ hải quân để xử đụng. Những lực lượng hải và không quân Nhật có thể từ đó tấn công sang tận Mã lai, Phi luật tân. Quân đội tại Nhật đang chuẩn bị cuộc đánh chiếm Thái lan để nối liền Nhật bản với bán đảo Mã lai. Thấy vậy, Chánh phủ Thái liền mời Nhật sang kiểm soát như kiểu Pháp đã làm tại Đông Dương. Như vậy toàn vùng Đông Nam Á nằm gọn trong tay Nhật.

Việc chiếm phía Nam Đông Dương đã được quyết định ngày 2 tháng 7 năm 1941 trong một phiên họp của Hội đồng Hoàng gia Nhật. Lúc đó, quân Nhật tại Mãn châu vẫn còn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, để chờ nếu Đức chiến thắng ở Nga là nhảy vào. Với sự quyết tâm của Tojo và các nhân vật khác trong Nội các, quyết định chiếm Nam Đông Dương được thực hiện, bất chấp việc có thể sẽ phải đương đẩu với một cuộc trả đũa của Anh và Mỹ. Phe chủ chiến cho rằng tình hình Đông Dương lúc này chín mùi chỉ còn chờ để rơi vào tay Nhật.

Hoàng thân Konoye không muốn va chạm với Hoa Kỳ, nhưng dù cho có phải đụng độ thì cuộc chiến đó cũng không đến nỗi quá nguy hiếm trong tình thế hiện nay của thế giới. Thế là sự sợ hải đó của ông được dẹp qua một bên.

Hơn nữa, Chánh phủ của ông lúc đó cũng muốn lợi dụng cơ hội tình hình quốc tế lúc này để mở rộng thêm Đế quốc Nhật. Khai thác hoàn cảnh thất trận của Pháp lúc này để cướp thuộc địa của họ quả là việc làm rất đúng sách. Mặt khác, Konoye còn sợ rằng nếu chần chờ không chiếm Đông Dương, những phẩn tử chủ chiến Nhật có thể gây ra một cuộc chiến tranh với Nga thì còn nguy hiểm hơn.

Ngoại trưởng Nhật không đồng ý việc tiến quân về phía Nam, nên bị Tướng Tojo nghi ngờ là những phần tử dân sự có khuynh hướng cản bước tiến của phe quân sự.

Mọi việc chuẩn bị cho chiến tranh đã hoàn tất. Thủ Tướng Konoye yên trí phần nào và dần dần trở thành tự tin, phấn khởi. Những đơn vị tác chiến trong rừng đã được huấn luyện chu đáo. Sự phối hợp giữa Hải và Lục quân cũng đã hoàn thành tốt đẹp. Ngoài ra Bộ Tài chánh cho in sẵn giấy bạc của các nước trong vùng chiếm đóng. Từ miền Nam Việt Nam, các phi cơ Nhật hàng ngày cất cánh đi thám thính và chụp hình các địa điểm đổ bộ lên Mã lai. Tình báo Nhật tại vùng Kinh đào Panama canh chừng sự di chuyển của Hạm đội Hoa Kỳ. Trong lúc Nhật đổ bộ lên miền Nam Việt Nam, Hải quân Mỹ tại Hạ-uy- di có bắt được mười bảy tàu đánh cá nhỏ của Nhật thường lảng vảng thả lưới ở vùng này. Nhưng khi khám thì thầy các thuyền này đểu có trang bị dụng cụ gián điệp như máy ảnh, vũ khí, máy vô tuyến và bản đồ hàng hải. Các ngư phủ thực ra chính là những sĩ quan hải quân Nhật trá hình. Tại Nhật lúc này, Đô Đốc Yamamoto, Tư lênh Hạm đội hỗn hợp đang chuẩn bị kế hoạch tấn công hạm đội Thái bình dương của Mỹ.

Konoye nghĩ rằng Anh và Mỹ không thể nào can thiệp để lấy lại Đông Dương cho Pháp. Nhưng điều ông không tính tới là sự điều động lực lượng quan trọng của Nhật tới một vị trí chiến lược ở bờ biển 'Việt Nam đã khiến Anh và Mỹ đặc biệt quan tâm. Họ thừa đoán được rằng một nước hiếu chiến như Nhật sẽ không thể nào ngừng lại khi chiếm được Đông Dương, mà sẽ còn đi xa hơn nữa.

Trong vòng bốn mươi tám giờ sau khi Nhật đổ bộ tại miền Nam Việt Nam, Anh, Mỹ và Hòa Lan nhất loạt cấm các tàu hàng của họ tới Nhật, đồng thời tàu Nhật cũng được lệnh phải rời các hải cảng của những nước này. Sau khi đổ bộ hoàn tất lên Đông Dương và đài phát thanh Nhật bắt đầu chuẩn bị tuyên truyền cho cuộc đổ bộ tại Thái Lan, Hoàng thân Konoye nhận thấy ông đã tính lầm. Mặc dầu chưa sẵn sàng, nhưng Đồng minh đã nhằm đánh vào yếu điểm của Nhật : Mỹ cấm các tàu dầu cung cấp cho Nhật, và Hòa Lan cũng ra lệnh cho các nhà máy lọc dầu ở Đông Indies thôi cung cấp cho Nhật.

Nhật phải đương đầu với cuộc phong tỏa kinh tế ngặt nghèo, và chắc chắn bị bóp chết nếu không tìm cách phá vỡ vòng vây kinh tế này. Sự đe dọa lúc này không còn phải chỉ là viễn ảnh bị Mỹ đánh bại, nhưng nguyên việc không có dầu cũng đủ khiến Nhật chết, không cần phải ai đánh. Nếu Mỹ không mở vòng vây thì Nhật chỉ còn cách duy nhất để tự cứu là đánh chiếm các cơ sở lọc dầu tại Đông Indies và các nguồn tài nguyên như cao su và thiếc ở Mã lai. Với số lượng dầu chỉ còn đủ xài trong vài tháng, vấn đề đặt ra cho Hải quân Nhật lúc này không còn là nên hay không nên đánh chiếm các nơi đó, mà là chừng nào thì phải chiếm xong, và liệu có làm kịp hay không.

« Lùi
Tiến »