Trong trận chiến tranh Nga-Nhật này, quân Nga đã liên tiếp bị bại trên mặt biển cũng như trên bộ. Quân Nhật đã liên tiếp đạt được những chiến thắng đối với quân của một cường quốc từng lừng danh kể từ thời Peter Đại Đế. Lục quân Nhật do những sĩ quan với tinh thần võ sĩ đạo như Hidonori Tojo và các đồng chí khác lãnh đạo, đồng thời được trang bị tối tân, đã tiến nhanh như vũ bão, mặc dầu sức kháng cự của Nga mãnh liệt không kém. Chiến thuật của quân Nhật đã được các huấn luyện viên Đức chỉ điểm theo lối đánh của người Phổ, cốt lấy nhanh và mạnh làm căn bản. Với tinh thần võ sĩ đạo, quân Nhật cứ việc xông lên, không kể gì đến chuyện chết chóc hay tổn thất.
Ngày 31 tháng Chạp năm 1904, Hải cảng Arthur rơi vào tay quân Nhật sau nhiều ngày bị vây hãm. Ngày 16 tháng 3 năm 1905, Thống chế Oyama lấy xong Mukden, Thủ đô của Mãn châu. Hạm đội Baltic của Nga tăng cường cho lực lượng Viễn Đông đã bị Hải quân Nhật do Đô Đốc Togo chỉ huy chận đánh tan tành tại eo biển Đối mã trong một trận hải chiến kéo dài hai ngày.
Không khí chiến thắng dâng cao tại Nhật. Tinh thần ái quốc bùng bùng nổi dậy như lửa gặp cơn gió lớn. Hăng say nhất là không khí tại Trường Võ bị Quốc gia, nơi Hideki và các bạn đồng khóa của anh đang háo hức chờ đợi ngày ra trường để được theo cha và anh chiến đấu ngoài mặt trận. Ngày đó đã tới sau khi Mukden bị thất thủ, rơi vào tay quân Nhật. Hideki Tojo rời quân trường với cấp bậc Thiếu úy.
Những sĩ quan trẻ với thanh kiếm dài lê thê của võ sĩ đạo samurai xuống tàu để đi Mãn châu, với lòng hy vọng háo hức mau được ra trận địa để cùng sát cánh chiến đấu với cha và anh. Nhưng tới nơi, họ cảm thấy thất vọng vì suốt ngày phải ở trong trại, không khí chiến thắng lần lần lắng dịu trước những nỗ lực tái lập hòa bình ở vùng này.
Mặc dầu đạt nhiều chiến thắng, và không khí hỗ trợ chiến tranh trong nước lên cao, nhưng Nhật đã trả một giá đắt trong trận chiến với quân Nga : 200.000 quân tử trận. Đó là một sự mất mát đòi hỏi một thời gian sau mới có thể bù đắp được, vì số sĩ quan từ trận đều là những thành phần ưu tú nhất. Ngân khố quốc gia đã cạn, bắt buộc Nhật phải nghĩ tới việc giảng hòa để chấm dứt chiến tranh. Chánh phủ Nhật bí mật nhờ Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt dùng uy tín để tái lập hòa bình tại Mãn châu. Ngày 5 tháng 9 năm 1905, hiệp ước đình chiến được ký kết giữa hai chánh phủ Nga — Nhật khiến dư luận quốc nội Nhật bùng lên phản đối dữ dội. Họ cho rằng chiến thắng toán diện tại Mãn châu đã gần kể, tại sao lại ngưng chiến ? Những phản đổi của dân chúng Nhật lần này còn dữ dội hơn năm 1895 khi Nhật bị tam cường bắt ép phải bỏ Mân châu. Dù sao hiệp ước đình chiến ký tại Portsmouth cũng khiến Nhật giữ trọn được Triều Tiên, và được hưởng những quyến lợi tại Mãn châu trước đây bị tam cường tước đoạt. Ngoài ra Nga còn nhường cho Nhật phân nữa phía Nam đảo Sakhalin, và những vùng biển đánh cá quan trọng xung quanh. Nhưng ngược lại Nga không phải bồi thường chiến phí cho Nhật, như thông thường các nước thắng trận vẫn được hưởng.
Những nhượng bộ của Nhật lần này được đổ lỗi cho Mỹ. Chánh phủ Nhật thấy đã mất tin tưởng của dân cũng không cần đính chánh. Dân chúng sôi sục với nhiều cuộc biểu tình, tấn công cảnh sát, đốt xe ngoài đường phố. Cuối cùng Chánh phủ phải ban lệnh thiết quân luật, trật tự mới được vãn hội trở lại.
Tại Mãn châu, những tân binh Nhật mới được tuyển bắt đầu cảm thấy chán ngán khi phải ở một nơi «hoang vu, xa nhà» quá lâu. Hầu hết đều mừng rỡ khi nghe được tin hồi hương. Nhưng số sĩ quan chánh quy không nghĩ vậy. Họ chỉ muốn hoàn thành những chiến thắng to lớn hơn nữa, và không hề biết rằng tiềm lực quân sự tại nước nhà đã bị suy giảm nhiều. Những sĩ quan hăng say như Hideki Tojo là những người cảm thấy thất vọng hơn cả. Họ cảm thấy những cơ hội lập công để tiến thân mau chóng không còn nữa. Giờ đây đành phải nằm chờ những thăng thưởng chậm rì của thời bình.
Đại Tá Tojo, thân phụ của Hiđeki, hồi hương trước ngay sau khi chiến tranh chấm dứt. Ông không bị thương trên chiến trường, nhưng lại mắc phải chứng bênh phù thùng béri-béri. Thực ra con số tổn thất của quân Nhật không phải tất cả đều chết tại chiến trận, nhưng có tới hai mươi bảy ngàn người chết vì bệnh tật. Con trai Đại Tá Tojo là Hideki Tojo còn ở lại Mãn châu cho tới năm 1906 mới mãn hạn và trở về nước. Ba năm sau, chàng thành hôn với cô Katsu Ito, một nữ sinh viên Trường Đại học Tokyo. Nàng là một thiếu nữ xinh đẹp, quê ở Kyushu, mười chín tuồi. Con của một địa chủ, nàng không giống như đa số những phụ nữ Nhật khác, cam chịu sống cuộc đời mai danh ấn tích. Ngược lại, Katsu chỉ ao ước được trau dồi thêm về học vấn. Nàng thường nói : «Tôi không thích trở nên con ngưừi cứng đầu, nhưng tôi cảm thấy khó thay đổi ý kiến.» Và nàng Katsu đã chọn một người ít nói như Hideki làm chồng. Cặp vợ chồng này tự ý lấy nhau, chớ không như những vợ chồng khác tại Nhật, thường thường do sự xếp đặt của gia đình.
Trong lúc theo học tại Tokyo, Katsu đã được gia đình Tojo bảo trợ, và nàng thường lui tới thăm hỏi. Sau lần gặp gỡ đầu tiên, cảm tình giữa nàng và Thiếu úy Hideki càng ngày càng trở nên đậm đà. Sau đó, Hideki đã trình cho song thân hay, nàng chính là người chàng ước ao được lấy làm vợ. Thân mẫu chàng mặc dầu đã có cảm tình sẵn với Katsu, nhưng bà ngần ngại trước một cuộc hôn nhân vượt ra ngoài sự sắp đặt của cha mẹ như vậy. Một khi trở thành mẹ chồng, bà có toàn quyền đối xử với nàng dâu, và bà không phải người dễ tánh gì. Không biết Katsu có chịu nổi hay không. Nhiều lúc song thân của Hiđeki ngần ngại không chắc cuộc hôn nhân này sẽ bền lâu, nên chưa muốn ghi tên Katsu vô gia phả dòng họ của Tojo. Nhưng khó khăn đó nhiều lúc khiến Katsu muốn bỏ dở cuộc hôn nhân, nhưng do lòng tốt của Hideki hết sức thuyết phục nàng, nên nàng quyết định ở lại. Sau nầy nàng thường tâm sự rằng chính vì những khó khăn đó, mà có lẽ tinh nghĩa vợ chồng đã trở nên khăng khít hơn. Đứa con đầu lòng trong bảy ngưòi con của họ ra đời vào năm 1911 tại nhà Tojo ở Tokyo. Mười sáu năm sau khi chồng chết, nàng thưòng nhắc lại vơi tất cả sự thương mến
«Không có sáng nào tôi không dâng hương và khấn nguyện trước bàn thờ vong linh của nhà tôi. Tôi không sao quên được những cảm tình chân thật và lòng tốt của anh. Mỗi lần nghĩ tới anh, nước mắt tôi lại tự nhiên chảy ra. Anh là người ít nói, nên thường bị nhiều người khác hiểu lầm. Khi anh còn sống, trước khi làm một việc gì tôi cũng đều hỏi ý kiến anh. Anh không bắt buộc, nhưng tôi thích làm vậy. Chẳng hạn khi có mấy người làm tới rào dậu nhà dùm, tôi đã nầu cơm cho họ ăn và anh cho đó là điều rất hay. Anh luôn luôn có lòng thương người.»
Với trách nhiệm phải lo cho gia đình, và hơn nữa, lúc này thân phụ đã được thăng lên cấp Tướng, nên Hiđeki cầm thấy càng phải cố gắng tiến thân hơn bao giờ hết Lúc này chàng vẫn còn là Thiếu úy với vòn vẹn một tầm huy chương trên ngực. Cơ hội xuất chinh để lập chiến công không còn nữa, nên Hideki chăm chú tập trung vào những bổn phận được giao phó để chờ dịp thăng thưởng thông thường. Chàng được lên Trung úy lúc vừa đúng hai mươi sáu tuổi, và ngoài ba mươi mới có lon Đại úy. Một may mắn đã tới với chàng sau nhiều năm cần cù chờ đợi, khi Tojo được chọn đi học tại Trường Tham mưu, vì khóa học này còn thiếu một chỗ. Vào khoảng ba mươi ba, Đại úy Tojo tốt nghiệp Trường Tham mưu, và phải cam kết không được xin giải ngũ trước khi tới tuổi về hưu.
Tiếp theo đó, một biến cố lớn lao xảy tới trên đất Nhật : Minh Trị Thiên Hoàng băng hà. Ông chết đi chấm dứt một thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử Nhật Bản. Đám quốc táng của vua Minh Trị khiến toàn thể dân chúng Nhật thương tiếc. Không khí bi ai càng trở nên trầm trọng khi vợ chồng Đại Tướng Nogi tự từ theo nghi thức võ sĩ đạo hara kiri để tỏ lòng trung thành với vua theo đúng quy lệ của các samurai thời xưa. Người ta được biết hai con của Tướng Nogi cũng đều tử trận tại Hải cảng Arthur trong khi chiến đấu dưới quyền chỉ huy của chính ông.
Vài tháng sau đó, gia đình Tojo chịu riêng thêm một cái tang đau đớn nữa : Tướng Hidenori Tojo qua đời sau một cơn đau tim, hưởng thọ năm mươi bảy tuổi. Ông chết đi cũng khiến quân đội Nhật thêm một cái tang sau khi chịu tang Tướng Nogi. Là một người lấy binh nghiệp làm trọng, Tướng Tojo đã leo dần từ cấp bậc Trung sĩ tới cấp Tướng, và ông đã góp công không nhỏ vào những chiến thắng đạt được trong thời Minh Trị.
Cuộc chiến tranh Nga — Nhật đã nâng địa vị nước Nhật lên hàng cường quốc thế giới. Trong trận Thế chiến I, Nhật đã đứng về phe Đồng Minh cùng với Anh và Nga. Đối với Tojo, thì cuộc chiến này, ông cho rằng đó chỉ là lịch sử đã được tái diễn. Lúc chiến tranh bùng nổ, ông hãy còn học ở trường Tham mưu, và tới năm 1915 khi ông ra trường thì chiến tranh chỉ có sự tham dự của hải quân mà thôi. Lục quân đứng ngoải, không có việc gì để làm.
Cuộc chiến xảy ra tại Âu châu, quá xa đối với Nhật. Trên mặt biển Thái bình dương, Hải quân Nhật đã chiếm được các đảo của Đức như Pelew, Caroline, và nhóm đảo Manana như Truk, Saipan, Ba mươi năm sau, quân Nhật đã bị đánh bại trên các đảo đó, nhưng với một giá đắt của hàng ngàn mạng lính Mỹ,
Trong lúc các nước Tây phương bận tay với trận Thế chiến thì Nhật được rảnh, và cảm thấy đây là cơ hội tốt đế mở lại chiến trường tại Trung Hoa, Nhật đã chiếm hải cảng Tsingtao của Đức, và sau đó lại đưa ra nhiều điều yêu sách đối với Trung Hoa, mà nếu chịu chấp nhận thì nước Tàu sẽ trở thành một nước: dưới quyền bảo hộ của Nhật.
Hai mươi mốt điều yêu sách đó đã bức bách nước Tàu thái quá và có thể gây nên những phản ứng mạnh của din tộc Trung Hoa sau này ; Nhưng người Nhật thiển cận, tham lam, đã không nhận thấy điều đó. Trung Hoa lúc này đã trở thành một nước Cộng Hòa, với tinh thần dân chủ và quốc gia đang dâng lên mạnh, cực lực lên án những đòi hỏi vô lý của Nhật, Nước Anh cũng lưu ý Nhật nên tự chế, đừng làm quá vì có thể gây ra những hậu quả tai hại. Nhưng Nhật bất kể những lời phản đối của hai nưóc Tàu và Anh, vì họ cho rằng một nước thì quá yếu, còn một nước thì đang bận rộn chiến tranh ở Âu Châu nên Nhật không sợ. Nhưng giữa lúc đó thì Mỹ nhảy vào. Mỹ là nước mạnh, lại chưa dính díu đến chiến tranh, khiến Nhật phải gờm. Nước Mỹ đã đưa ra những lời phản đối cương quyết trước các yêu sách phi lý của Nhật đối với Trung Hoa. Vậy là thêm một lần nữa, mồi thù Nhật-Mỹ càng ngày càng được đào sâu thêm.
Những biến cố trên đây xảy ra trước con mắt quan sát bàng quang của Đại úy Tojo. Thực vậy, mãi sau này, Tojo mới đi công tác một thời gian ngắn tại Tây bá lợi Á với tư cách Sĩ quan đại diện quân đội Nhật trong lực lượng Đồng minh. Nhưng sau đó ít lâu, ông trở về nước, vì sự can thiệp của Đồng minh không thành trước cuộc cách mạng của Cộng sản Nga. Nhưng khả năng làm việc hữu hiệu của Đại úy Tojo đã được mọi người nhận ra, do đó ông được cử giữ một chức vụ tại Bộ Chiến tranh và không bao lâu lại được để cử đi ngoại quốc với chức Tùy viên quân sự.