VÀO tháng 11 năm 1940, lực lượng không quân hạm đội Anh đã thực hiện được một chiến công anh dũng có một không hai trong lịch sử : Với hai phi tuần gốm hai chục máy bay loại «cá lưỡi kiếm», các phi công Anh đã đánh chìm quá nửa số tàu chiến của Hải quân Ý tại hải cảng Taranto. Phía Anh chỉ bị mất hai máy bay. Sau đòn nặng này, cán cân lực lượng trong vùng Địa trung hải ngả hẳn về phía Anh quốc, và từ đó Hải quân Ý không còn ngóc đầu lên nổi.
Đối với Đô Đốc Yamamoto, một người chuyên nghiên cứu về không lực hạm đội, trận đánh tại hải cảng Taranto khiến ông vô cùng phấn khởi và thêm tin tưởng. Lập tức vào tháng Giêng năm 1941, ông ra lệnh cho Bộ Tham mưu nghiên cứu một kế hoạch đánh phá Trân châu cảng và các lực lượng hải quân Mỹ tại đó. Đây là mệnh lệnh tối mật, vì theo ông cần phải bất ngờ đánh một đòn thật mạnh họa may mới thắng nổi Hải quân Mỹ tại Thái bình dương. Cũng chính thời gian này là lúc Đại sứ Grew báo cáo về Bộ Ngoại giao Mỹ rằng Nhặt có thể bất thần tấn công các lực lượng Mỹ tại Thái bình dương.
Việc đánh Trân châu cảng theo quan điểm của Đô Đốc Yamamoto là điều tối cần thiết khi xảy ra chiến tranh Nhật Mỹ. Lý do là Nhật cần phải tấn công vào tận sào huyệt của căn cử hải quân Mỹ, để đánh một đòn chí tử và bất ngờ, thì Nhật mới mong thắng lợi. Nếu không, kéo dài chiến tranh là kể như Nhật nắm chắc phần thua. Lý do thứ hai, nếu hạm đội Nhật muốn được rảnh tay hoạt động ở Phi luật tân, Mã lai, đông Indies, thì cần phải thanh toán căn cứ này vì nó nằm ngay ở hậu cứ của hải quân Nhật. Nhật không còn cách nào hơn là phải chơi đòn bất ngờ, không tuyên chiến trước, vì căn cứ Mỹ ở cách xa hạm đội Nhật tới 3.000 dặm, và trong vùng đó Hải quân Mỹ hoàn toàn làm chủ tình hình trên không cũng như dưới nước. Theo Yamamoto, trận đánh chí tử này còn gây một ảnh hưởng tâm lý với người Mỹ, bằng cách làm cho họ thấy rằng không thể thắng nổi Nhật, một nước đã có khả năng chỉ một trận đánh mà tiêu diệt được cả hạm đội Thái bình dương của họ ở cách đó hàng ngàn dậm. Mỹ sẽ phải suy nghĩ lại trong ước tính chiến thắng Nhật, khi nước này rút về thế thủ với một phòng tuyến kiên cố dưới nước cũng như trên không.
Vào tháng Tư năm 1941, Bộ Tham mưu trình lên Đô Đốc Yamamoto kế hoạch đánh căn cứ Trân châu cảng và được ông chấp thuận. Theo kế hoạch này, các hàng không mẫu hạm Nhật sẽ xuất phát từ quần đảo hẻo lánh Kurile, đi ngược lên mạn Bắc để tránh mọi con mắt tò mò của các thương thuyền, sau đó vòng xuống hướng Trân châu cảng và ngừng lại cách căn cứ này khoảng 300 cây số. Từ đó các máy bay sẽ bay tới tiêu diệt hạm đội Mỹ bằng thủy lôi, một thứ võ khí khắc tinh của những chiến hạm trên mặt biển. Kế hoạch dự trù sẽ cho khoảng 360 máy bay tấn công làm ba đợt để tiêu diệt hoàn toàn hải quân Mỹ tại căn cứ này. Muốn tránh tổn thất cho máy bay Nhật trên đường trở về hạm đội với một khoảng cách xa như vậy, Nhật phải đánh thật bất ngờ, nghĩa là không có việc tuyên chiến trước.
Tại Trường Hải quân Hoàng gia ở Tokyo, một mô hình lớn của căn cứ Trân châu cảng đã được thiết lập để Bộ Tham mưu nghiên cứu và làm quen với địa hình, địa vật nơi đây. Mô hình này có đẩy đủ chi tiết về các chiến hạm của Hoa Kỳ mà gián điệp Nhật đã thu thập được trong nhiều ngày quan sát tại chỗ. Có một điểm khiến các sĩ quan thảo kế hoạch đánh căn cứ này phải điên đầu vào phút chót, đó là mực nước nơi đây quá cạn, không thể dùng thủy lôi, một loại khí giới hữu hiệu nhất để tiêu diệt tàu chiến. Phải cần mực nước sâu gấp năm lần như vậy mới có thể thả thủy lôi từ trên phi cơ xuống được.
Khó khăn này sau cùng đã được giải quyết xong trước ba tuần khi trận đánh xảy ra. Các phi công trên hàng không mẫu hạm Nhấi được huấn luyện bí mật tại vịnh Kagoshima ở phía Nam đảo Kyushu, một nơi có mực nước cạn tương tự với mực nước ở Trân châu cảng, để thả thủy lôi từ một độ cao thật nhỏ. Các phi công Nhật cho phi cơ bay thấp là là trên mặt nước, thả thủy lôi, và sau đó vọt lên cao về phía bờ để bắn phá các mục tiêu khác. Với lối thả thủy lôi khi bay thấp như vậy, họ có thể rút bớt được độ sâu cần thiết của mực nước. Ngày 17 tháng 1, khi Đô Đốc Yamamoto gởi tới các hạm đội những lời nhắn nhủ cuối cùng từ soái hạm Nagato, ông tin chắc rằng cử tám trong mười máy bay Nhật sẽ đánh trúng mục tiêu.
Trong lúc lực lượng hành quân âm thầm lên đường để tới điểm hẹn, và binh sĩ Nhật được đưa xuống tàu tại các hải cảng trên nước Nhật, thì Thủ Tướng Tojo tham dự một phiên họp của Thượng viện chỉ kéo dài trong vòng chín phút. Ông tuyên bố : Nước Nhật đang sống «những giây phút dài nhất trong lịch sử hai ngàn năm» của dân tộc, và rằng những lực lượng bao vây kinh tế Nhật cần phải được giải quyết bằng một cuộc chiến tranh mới xong. «Vấn đề Trung Hoa» cũng vậy, chỉ có sức mạnh mới làm cho các lực lượng chống đối chịu thông cảm để giải quyết dứt khoát. Ông cũng gởi lời chúc tụng và ngợi khen hai quốc gia Đức và Ý trong việc cùng với Nhật sát cánh chiến đấu để tái lập một trật tự mới cho thế giới «đặt căn bản trên công lý». Hai ngày sau đó, các Tòa đại sứ Nhật tại Hoa thịnh đốn và Luân đôn được mật điện ra lệnh sẵn sàng trong tư thế chờ đợi, và tiêu hủy các khóa mật mã cũng như tài liệu của Tòa đại sứ. Mệnh lệnh này cũng được gởi qua làn sóng ngắn của Đài phát thanh Tokyo trong chương trình truyền đi ngoại quốc.
Ngày 20 tháng II, các lực lượng tham dự hành quân của Hải quân điện trở về cho Bộ Tư lệnh tại Tokyo, họ đã sẵn sàng lên đường. Lập tức, tại Hoa thịnh đốn, Ku- rusu và Nomura đẻ trình lên Chánh phủ Mỹ những đề nghị hòa giải cuối cùng của Nhật. Theo đó, Nhật bằng lòng triệt thoái khỏi Trung Hoa, với điều kiện ngược lại là Nhật phải được quyền tự do khai thác nguyên liệu và dầu tại quần đảo Đông Indies thuộc Hòa lan. Đồng thời, các tàu chở dầu của Mỹ cho Nhật được tiếp tục giao dầu trở lại. Vấn đề ở phía Nam : Nhật được ở lại miền Bắc Đông Dương, còn miền Nam thì trở thành một miền Trung lập được cả Nhật và Mỹ tôn trọng. Và một lần nữa, Nhật nhấn mạnh tới điểm Mỹ phải lập tức ngưng yểm trợ cho Thống chế Tưởng Giới Thạch.
Ngày 25 tháng II năm 1941, trước khi trả lời cho những đề nghị cuối cùng của Nhật, trong một cuộc họp tại Tòa Bạch ốc, Tổng Thống Roosevelt có nói : «Trong vòng một tuần nữa, có thể Nhật sẽ tấn công ở Thái bình dương. Chúng ta cứ việc để cho họ nổ súng trước.» Trên đây là những lời do Bộ Trưởng chiến tranh lúc đó, ông Srimson ghi lại. Lời tuyên bố trên đây có vẻ phù hợp với những sự việc diễn ra, nhưng không thể căn cứ vào đó để kết luận rằng Hoa Kỳ cố tình khiêu khích để cho Nhật gây chiến tranh.
Cá nhân Tổng Thống Roosevelt, cũng như hầu hết những người Mỹ khác, đều ghét những quốc gia hiếu chiến và tìm mọi cách hỗ trợ các nước bị uy hiếp. Đồng thời Tổng Thống Mỹ cũng chủ trương phải thanh toán những thuộc địa của các nước Tây phương tại Á châu. Nhưng điều đó không có nghĩa là ông đồng ý để cho Nhật và các nước khác trong khối Trục chia nhau những phần đất đó. Nhưng là một chánh trị gia, Tổng Thống Mỹ cũng phải cân nhắc tới nhiều yếu tố khác trong việc đưa nước Mỹ vào vòng chiến. Lúc đó là thời gian đang có nhiều nghị sĩ, dân biểu tại Hoa Kỳ, như William Randolph Hearst và Taft, Gillette, đang chủ trương Hoa Kỳ phải đứng ngoài vòng chiến. Đặc sứ của Tổng Thống Roosevelt tại Anh quốc là ông Joseph Kennedy, từ Luân Đôn trở về cho Tổng Thống hay là lực lượng Đức rất mạnh, nước Anh không dễ gì thắng nổi. Ống khuyên Tổng Thống không nên dính líu vào chiến tranh. Điểm trái ngược là Đại sứ Nhật tại Anh lúc đó, ông Shigemitsu, lại tiên đoán Anh quốc không thể nào bị bại.
Dư luận chung tại Hoa Kỳ lúc đó đã xúc động mạnh trước những hành động xâm lăng trắng trợn của chủ nghĩa quốc xã. Mọi người đều muốn giúp đỡ các quốc gia nạn nhân hiện còn đang can đảm chiến đấu. Nhưng trong năm 1941 mới chỉ có một lực lượng tình nguyện nhỏ từ Gia nã Đại, và các phi đội tình nguyên «Chim Ưng», «Cọp Bay» đang chiến đấu thực sự ở Trung Hoa. Ngoài ra giới trung lưu ở Mỹ chưa nếm mùi chiến tranh bao giờ, họ không muốn dính líu vào. Đa số dân Mỹ chưa từng nếm mùi chiến tranh như Anh và Pháp, nên chưa thông cảm với cái khổ đó, và muốn đứng ngoài mọỉ cuộc chiến.
Trong thời gian này, Tổng Thống Roosevelt lợi dụng triệt để thời cơ để cung cấp vũ khí cho Nga, Anh và Trung Hoa. Vào tháng 11 năm 1941, các Tham mưu trường Lục quân và Hải quân là Tướng Marshall và Đô Đốc Stark khuyên Tổng. Thống Roosevelt chưa nên gây chiến vội, cho tới khi nào Mỹ thấy chưa chắc ăn. Trong suốt thời gian thương thuyết giữa Nhật và Mỹ tại Hoa thịnh đốn, không bao giờ nước Mỹ tỏ ra là mình muốn gây chiến. Ngay cả Anh và Hòa Lan lúc đó cũng không tin rằng Mỹ sẽ nhảy vô vòng chiến để bênh vực họ, khi những thuộc địa của họ ở Thái binh dương và Viễn Đông bị uy hiếp.
Thái độ hòa hoãn đó của Hoa Kỳ có thể tìm thấy trong văn thơ trả lời mà ngoại trưởng Hull trao cho Nomura và Kurusu ngày 26 tháng II. Nhật cho rằng trả lời đó là một loại tối hậu thơ, nhưng ngược lại Mỹ chỉ tỏ ra vẫn giữ thái độ tiêu cực trước những đòi hỏi của Nhật. Thực vậy, Hoa Kỳ không mảy may nhượng bộ trước những đòi hỏi của Nhật. Lập trường của Mỹ vẫn là Nhật phải triệt thoái khỏi Trung Hoa và toàn thể Đông Dương trước, rồi mới thương thuyết các khoản kia sau, sau đó Mỹ mới giải tỏa hàng rào trừng phạt kinh tế. Văn thơ trả lời này không quy định rõ rệt chừng nào thì Nhật phải thi hành xong các điều đó, nên các nhà bình luận Tây phương cho rằng đó hoàn toàn không phải là một tối hậu thơ. Nhưng phản ứng của dư luận Nhật lúc đó đối với sự trả lời trên đây lại hoàn toàn khác hẳn. Họ cho rằng Mỹ cố tình ép Nhật phải gây chiến khi bắt quân đội Nhật phải lui về những vị trí của họ từ năm 1931. Sau này, tại Tòa án xử phạm nhân chiến tranh, ông Pal, người Ấn Độ, một nhân viên trong bồi thầm đoàn có nói : «Với một tối hậu thơ của Mỹ gởi cho Nhật trước khi trận Trân châu cảng xảy ra như vậy, thì ngay cả Monaco, hay Luxembourg cũng phải tuyên chiến với Mỹ, chớ đừng nói Nhật.»
Phe quân nhân và các phần tử ái quốc cực đoan ở Nhật cho rằng sự trả lời của Mỹ đã rõ ràng cho thấy dã tâm của nước này thực sự không muốn dàn xếp, mà từ trước tới nay chỉ cố tình kéo dài các cuộc thương thuyết để có thời giờ củng cố lực lượng của họ tại Viễn Đông. Vấn đề Mãn Châu, không ai có quyền, bắt Nhật phải rút khỏi đó, vì xứ ấy trước đây là một quốc gia riêng biệt đã bị Tàu đô hộ, chớ không phải lãnh thổ của Trung Quốc. Kể từ năm 1931 và nhất là sau chiến thắng Nga năm 1905 kể như Nhật là nước bảo hộ của xứ này, không ai có quyền xía vào, cũng giống như các thuộc địa của Anh và Mỹ tại Viễn Đông vậy.
Tojo gởi cho ngoại trường Hull một điện văn trả lời, cho ràng thái độ của Hoa Kỳ đối với Nhật «không thành thật» và «thiếu tinh thần hòa giải.» Thật là buồn cười, vì lúc này Tojo lại bị coi là phần tử chủ hòa, nhu nhược, không quyết tâm. Nakano và các phần tử phát xít Nhật tại Thượng viện kịch liệt đả kích Tojo là «không thành thực nói lên tiếng nói của dântộc». Một Thiếu Tướng cùng khóa với Tojo tới nhà riêng cho Bà Tojo hay, ông ta định tìm gặp Tojo, nhưng không được nên nhờ Bà nhắn lại cho Tojo biết rằng ông ta căm hận vô cùng khi thấy Tojo không có quyết định dứt khoát với Mỹ. Tại Trường Đại Học Waseda, cháu của Tojo bị một sinh viên khác đánh và nói: «về bảo chú mày phải quyết định mau lên.»
Ngày 26 tháng 11 năm 1941, trong một phiên họp khoáng đại bất thường của Quốc hội tại trụ sở Thượng viện, Nhật Hoàng trong lễ phục Thống chế, ngồi trên ngai vàng ở bục cao. Tojo từ dưới tiến lên, cúi đầu, tay phải cầm một cuộn giấy, kính cẩn đi từng bước thật chậm hầu như chỉ có chân mặt bước đi, còn chân trái lê theo để tỏ lòng tôn kính tột độ của ông đối với Nhật Hoàng. Thiên Hoàng Hirohito có vẻ sốt ruột. Ngài dơ tay ra đón lấy cuộn giấy của Tojo dâng lên, mở tuyên đọc ban bố những điểu luật khẩn cấp để đối phó với tình hình nghiêm trọng. Sau đó, Tojo đọc một diễn văn, lên án «thái độ kiêu ngạo, khiêu khích» của Anh, Mỹ, Hoà Lan và Trung Hoa. Ông cho rằng các nước này đang cấu kết với nhau để chận đường sống dân tộc Nhật Bản.
Đêm hôm đó, trong bóng tối bao phủ, lực lượng hành quân gồm sáu hàng không mẫu hạm, hai chiến hạm và nhiều hộ tống hạm âm thầm rời căn cứ Kuriles, tiến ngang qua Thái bình dương, tới gần mục tiêu Hawaii để tấn công căn cứ Hải quân Mỹ tại đây.
Sau này Tojo khai rằng ông không hay biết gì về việc điểu động lực lượng tấn công đó. Chuyện đó thực hư ra sao không rõ, nhưng nhân ngày kỷ niệm Minh ước chống Cộng sản quốc tế được ký kết sau đó ít hôm, Tojo có đọc một diễn văn với lời lẽ hiếu chiến, khiêu khích cực độ. Ông nói : các nước Tây phương đang lợi dụng tình hình rối loạn tại Đông Á để thừa «nước đục thả câu» và rằng chắc chắn Nhật sẽ phải có hành động quân sự mạnh mẽ để ngăn chận kịp thời những hành động như vậy. Tại Thượng viện và Trụ sở Hiệp Hội công dân Nhật, các nghị sĩ và sĩ quan cũng đọc những diễn văn tương tự, với lời lẽ có phần dữ dội hơn của Tojo. Nhận được bản dịch của mấy bài diễn văn đó do thông tín viên ở Nhật gởi đi, Tổng Thống Roosevelt đang nghỉ tại Georgia, vội vã trở về Hoa thịnh đốn. Sau đó Tổng Thống nhận được bản dịch từ bản tin chánh thức do Hãng thông tấn nhà nước Domei của Nhật đánh đi, và Tòa Đại sứ Nhật tại Thủ đô Hoa Kỳ có trấn an Tổng Thống Mỹ rằng những lời lẽ đó đã phóng đại quả lố tánh cách đe dọa, chớ thực ra không đến nỗi trầm trọng như vậy. Tuy nhiên, Tổng Thống Mỹ vẫn không yên trí với sự giải thích đó.
Những ngày kế tiếp, Nhật Hoàng Hirohito đã xử dụng hết quyền hạn của mình để đích thân xem xét lại tình hình vào những giờ chót trước khi chiến tranh có thể xảy ra. Một cuộc họp giữa các vị cựu Thủ Tướng được triệu tập tại Hoàng cung để chất vấn Tojo trước sự hiện diện của Thiên Hoàng. Mặc dầu Ngài chỉ giữ thái độ im lặng? nhưng những câu hỏi của các vị cựu Thủ Tướng trong phiên họp này có thể là ý của chính Ngài. Nhiều câu hỏi được đặt ra yêu cầu Tojo trả lời như : Chiến tranh có thực sự cần thiết không ? Liệu Nhật có đủ sức chịu đựng cuộc chiến tới đâu ? Nhật đã chuẩn bị sẵn sàng chưa ? Cựu Thủ Tướng Konoye đặt câu hỏi: « Dù trong trường hợp thương thuyết giữa Nhật và Hoa Kỳ tan vỡ, liệu Nhật Bản có nhất thiết phải phát động chiến tranh sau đó hay không ?»
Với Tư cách Thủ Tướng Chánh phủ và đại diện cho Bộ Tổng Tư Lệnh quân lực, Tướng Tojo đứng lên trả lời : «Trong tình hình hiện nay, muốn sống còn, Nhật Bản nhất định phải lao vào một cuộc chiến, bất kể là khả năng của mình được tới đâu và sự chuẩn bị nhiều ít ra sao. Ngồi yên khoanh tay có nghĩa là chờ chết, vì những bao vây kinh tế của Tây phương sắp sửa khiến Nhật trở nên hoàn toàn tê liệt. Thà liều đánh một trận để phá vòng vây may ra còn tìm thấy lối sống, Nếu trong những ngày đầu, Nhật tiêu diệt được hạm đội Thái bình dương của Hoa Kỳ như kế hoạch của Đô Đốc Yamamoto, và chiếm trọn vùng Đông Nam Á, thì sẽ khiến Mỹ phải nản lòng, không còn muốn tiếp tục chiến tranh nữa. Lúc đó Nhật sẽ nhờ Tòa Thánh Vatican hoặc Nga sô đứng ra giảng hòa với Hoa Kỳ. Vạn bất đắc đĩ, nếu chiến tranh kéo dài Nhật cũng đã có nhiên liệu và nguyên liệu cung cấp từ các đảo ở phía Đông Nam Nhật và toàn vùng Đông Nam Á, do đó có thể có căn bản vững vàng để theo đuổi cuộc chiến». Sau cùng TưửngTojo nhìn thẳng vào Hoàng thân cựu Thủ Tướng Konoye nói : «Nội các và quân đội sẵn sàng đón nhận những cao kiến của quý vị để làm sáng tỏ thêm những quyết định hữu ích cho quốc gia trong giờ phút nghiêm trọng. Không có ai nói gì sau đó thái độ của Tojo lúc đó được mô tả là «cứng rắn và cương quyết», nên dù có ý kiến gì chắc cũng không ai muốn nói. Vả lại bàn về các vấn đề trong phạm vi quân sự thì không phải lãnh vực của các vị cựu Thủ Tưởng.
Giờ phút này, Nhật Hoàng vẫn còn có thể can thiệp để thay đổi tình hình. Theo truyền thống, Ngài chỉ thể hiện ý kiến một cách gián tiếp bằng hình thức đứng ra hòa giải, tài phán, khi có một vấn đề bất đồng, Nội các không quyết định được. Với một hy vọng mong manh như vậy, nên sau đó Ngài cho triệu Tổng trưởng Hải quân là Đô Đốc Shimada và Tham mưu trưởng Hải quân là Đô Đốc Nagano vô cung một cách bí mật. Nhật Hoàng cho hai vị này biết, Ngài có nghe nói rằng hình như Hải quân không muốn có chiến tranh và không tin tưởng có thể chiến thắng Hoa Kỳ. Hiểu được ý của Thiên Hoàng muốn can thiệp vào tình hình, hai vị nảy định nêu lên những bất đồng của Nội các. Nhưng cả hai không đủ can đảm ngăn chận kế hoạch hành động của Hải quân đã đi quá xa, lúc này khó lòng có thể kềm hãm lại được, nên họ đồng tâu lên : «Hải quân hoàn toàn tin tưởng ở chiến thắng »
Nhân viên mật vụ có lẽ đã cho Tojo biết cuộc họp kín của hai vị sĩ quan hải quân này với Thiên Hoàng. Tojo đoán biết phần nào câu chuyên Nhật Hoàng đã nói với ho. Trong cuộc họp với các vị cựu Thủ Tướng trước đây, Tojo đã đánh hơi thấy có nhiều nhân vật sau lưng Nhật Hoàng vẫn cố tìm cách tránh chiến tranh. Hai vị Đô Đốc thuật lại những gì trong cuộc họp với Thiên Hoàng, nhưng không hề nói tới câu hỏi của Ngài cho Tojo biết. Ý của họ là muốn để mặc cho Tojo một mình quyết định và chịu hoàn toàn trách nhiệm, giống như trước kia họ đã làm với Hoàng thân Konoye.
Trong cuộc họp tại Hoàng cung ngày sau đó Tojo đứng lên đọc những lời tuyên bố chứa đầy thâm ý chủ chiến khiến cho cả hội nghị, ai cũng thấy rõ ràng lập trường của Nội các và Quân đội :
«Tuân theo ý chỉ của Thiên Hoàng trong phiên họp ngày 5 tháng 11, Nội các đã xử dụng mọi phương tiện để tiếp tục nỗ lực các cuộc dàn xếp với Hoa Kỳ, nhưng đối phương vẫn không hề bày tỏ một thiện chí hòa giải nào. Họ còn lớn tiếng đòi hỏi Nhật phải đơn phương nhượng bộ bằng cách công nhận Chánh phủ Trùng Khánh của Tưởng giới Thạch, rút quân khỏi Trung Hoa, hủy bỏ việc liên minh với Đức và Ý. Những đòi hỏi phi lý đó không những xúc phạm tới uy tín của Thiên Hoàng, nhưng còn có thâm ý triệt đường sống của dân tộc chúng ta. Mọi nỗ lực ngoái giao lúc này rõ ràng đã thất bại. Mặt khác, những lực lượng quân sự của Mỹ, Anh, Hòa Lan và Trung Quốc không ngừng được củng cố, đồng thời vòng vây kinh tế của họ đối với Nhật mỗi lúc một siết chặt hơn. Những sự kiện xảy ra đã khiến Nhật không còn cách gì hơn là tiến đến một cuộc chiến tranh chống lại Anh, Mỹ...»
Mặc dầu những ưu tư sâu xa của Thiên Hoàng, chiến tranh vẫn phảỉ tiến đến. Trên phương diện vật chất cũng như tinh thần, nước Nhật lúc này đã sẵn sàng hơn bao giờ hết để phát động một cuộc chiến. Tojo bảo đảm với Thiên Hoàng, nếu Mỹ có những quyết định thay đổi vào giờ chót, ông vẫn có thể đình chỉ lệnh tấn công, nhưng không có một hy vọng nào cho thấy Hoa Kỳ có thể làm vậy. Tổng trường ngoại giao Togo đứng lên nói : mọi nỗ lực ngoại giao đã chứng tỏ hoàn toàn thất bại, và giờ này không thể làm gì hơn. Tham mưu trưởng liên quân nói: các binh sĩ đang nức lòng được chết vì Tổ quốc và chỉ còn chờ lệnh của Thiên Hoàng để hành đông. Trước sự đồng thanh quyết định chủ chiến của Nội các như vậy, Nhật Hoàng Hirohito không còn biết làm gì hơn là im lặng bãi triều, và cuộc họp chấm dứt.