THÁNG Giêng năm 1943, có nhiều nguồn tin Tây phương cho hay Thủ Tường Tojo bị đau nên phiên họp khai mạc của Thượng viện phải hoãn lại. Đài phát thanh Tokyo lập tức cải chánh nguồn tin đó, và nói : « Thủ Tướng lúc này mạnh khỏe hơn bao giờ hết. » Nhưng sự thực là Tojo có bị lên cơn sốt, không rõ vì lý do gì. Ông không ăn được và chỉ uống nước táo ép do Bà Tojo trống ở vườn nhà tại Morioka. Mặc dầu hai nhân viên trong Chánh phủ của ông là Hoshino và Kaya, cũng như vợ ông đều yêu cầu Tojo để cho một giáo sư đại học nổi tiềng điều trị, nhưng ông không chịu, viện lẽ rằng nếu ông là một chiến sĩ ngoài mặt trận; lúc này có đau, ông cũng chỉ được một bác sĩ quân y chẩn mạch. Vì vậy, ông chỉ chịu để cho một y sĩ của Lục quân điều trị, chớ không chịu hưởng các đặc ân khác. Hình như ông tin tưởng ở thuốc Bắc nhiều hơn là y khoa tân tiến. Ông thường có một loại cao dán, không những ông dán cho ông mà còn dán cho bất cứ sĩ quan nào của ông bị đau. Thầy thuốc Bắc bảo ông phải dán ở bụng và chân. Không bao lâu, ông đã đi lại được, và tập lên xuống cầu thang trong nhà. Bà Tojo phản đối, cho là ông không nên làm vậy, nhưng ông nói : « Phải tập, vì ở Thương viện cũng có cầu thang. »
Xuất hiện tại Thượng viện cuối tháng đó, Tojo trông thật mạnh khỏe và tinh thần hăng hái. Ông tuyên bố : Nhật không còn là một nước thiếu tài nguyên như trước. Lúc này, Nhật có thừa nguyên liệu để theo đuổi chiến tranh dầu kéo dài bao lâu đi nữa. Tuy nhiên, câu kết của ông có vẻ dè dặt : «Dĩ nhiên trong thế công cũng như thế thủ, không phải lúc nào Nhật cũng đạt được tất cả theo ý muốn. »
Lúc đó, chiến tranh đã kéo dài trong suốt mười lăm tháng trời, Tinh thần dân Mỹ không sa sút, thất vọng, như người Nhật dự đoán, Hải quân Nhật đã mất quyển làm chủ trên Thái binh dương. Sau trận thất bại ở Midway, hạm đội Nhật không bao giờ trở lại hùng mạnh được như trước. Tại Miến Điện, Bộ binh bị chận ở biên giới Ấn độ. Ở Tân Guinea, 15.000 quân Nhật đổ bộ định đánh chiếm hải cảng Moresby, đã bị dồn tới bãi birrtn Buna và bị tiêu diệt, chỉ còn mỗi một người sồng sót. Nước Úc hiện nay đã ở vào tư thế an toàn, không còn lo những cuộc đổ bộ của Nhật, và trở thành Đại Bản Doanh của Tướng MacArthur. Từ đây, sau khi tiếp nhận các đồ tiếp liệu ùn ùn từ Mỹ gởi qua cùng với vũ khí, binh lính, MacArthur phóng ra các cuộc phản công chiếm lại lần các đảo trên Thái bình dương.
Hoạt động của tàu ngầm Đồng minh là điều Bộ Tư Lệnh Hải quân Nhật không chuẩn bị kế hoạch đề phòng sẵn từ trước, nên bây giờ bị thiệt hại rất nhiều. Trước khi chiến tranh kết thúc, con số tàu Nhật bị đánh chìm lên tới trên sáu triệu tấn. Những tài nguyên mà Tojo khoe trước đây đều chìm đắm dưới đáy biển.
Tháng Ba năm 1943, trong khi dân Nhật tổ chức tuần lễ « Nụ cười quốc gia » để vận động tinh thần dân chúng trong việc theo đuổi chiến tranh, thì Hải quân Nhật lại bị đánh một đòn nặng tại biển Bismarck. Một đoàn tàu chở tất cả 15.000 binh sĩ đi tăng cường cho căn cứ Lae tại Tân Guinea đã bị máy bay của Mỹ - Úc đặt căn cứ trên đảo tấn công tiêu diệt hoàn toàn. Kết quả chỉ còn một số nhỏ sống sót vào được tới bờ, nhưng lại bị quân Úc săn đuổi giết dần.
Tháng Ba năm 1943, trong một cuộc tiếp xúc với các đại diện của Hội thông tin yêu nước Nhật, Thủ Tướng Tojo tuyên bố : «Nếu không may nước Nhật bị thất trận thì điều đó chỉ có thể xảy ra vì sự chia rẽ trong nhân dân, điểu mà tôi tin rằng khống thể nào xảy ra đối với dân tộc đoàn kết của chúng ta.» Tojo quả thực đã nói lên điều lo lắng trong thâm tâm của ông. Từ khi lên giữ chức Thủ Tướng trong vòng hai năm nay, lúc nào ông cũng chủ trương 100 triệu dân Nhật đoàn kết thành một khối duy nhất thì không có việc gì mà không làm được. Nhưng gần đây, những dấu hiệu chia rẽ đã khiến ông lo ngại. Chẳng hạn sự thiếu hợp tác giữa Hải quân và Lục quân đã đưa tới những ảnh hưởng tai hại trong các cuộc hành quân thiếu điều hợp chặt chẽ. Ngoài ra giữa Bộ Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực và Chánh phủ, ai cũng muốn dành quyền lãnh đạo chiến tranh. Thất vọng trong việc dành quyền với quân đội, Tojo chỉ còn biết đi cổ động tinh thẩn đoàn kết trong dân chúng.
Cựu Đại Sứ Nhật tại Luân Đôn, ông Shigemitsu, vừa từ Nam Kinh trở về Tokyo. Ông được gởi tới đó để giúp đỡ Chánh phủ của Uông Tinh Vệ. Nay Thủ Tướng Tojo gọi ông về để giao Bộ Ngoại giao Nhật cho ông điều khiển. Dù sao thì Shigemitsu cũng là người tương đối thân Tây Phương.
Shigemitsu là người phản đối cuộc chiến hiện nay, vì ông cho rằng Nhật không thể thẳng nổi Anh và Mỹ. Nhưng ông là người chủ trương phải giải phóng các dân tộc Á châu khỏi ách thống trị của người Tây phương. Ông nhấn mạnh tới việc Nhật Bản, với tư cách một quốc gia tiến bộ nhất trong vùng này, cần phải hợp tác với các quốc gia khác để phát triển lục địa này. Khi được mời làm ngoại trưởng, ông đặt điều kiện với Tướng Tojo là phải «nhìn lại» hơn một tỉ người Á châu mà Thủ Tướng Nhật thường cho rằng đang đứng về «phe chúng ta.»
Các nhà lãnh đạo Á châu chưa tin tưởng nhiều nơi Nhật Bản. Từ trước tới giờ Tojo chỉ ủng hộ thuyết Á châu độc lập bằng một vài lời nói suông, ngoài ra không có gì hơn. Sau khi chiến tranh bùng nổ, với các chiến thắng đầu tiên của Nhật, không thiếu gì các lãnh tụ quốc gia ở Á châu chạy theo người Nhật, như Laurel ở Phi luật tân, Sukarno ở Nam Dương, và Chandra Bose tại Ấn Độ, ông này đã trốn khỏi nước và theo phe quốc xã từ trước khi Nhật khai chiến.
Quân đội Ấn đã phát triển mạnh, trở thành một đạo quân tình nguyện đông đảo nhất và chiến đấu hăng hái trong việc đánh bại Nhật. Các lãnh tụ quốc gia Ấn mặc dầu chủ trương Ấn tự do, thoát khỏi tay người Anh, và không tham chiến, nhưng không ai dại gì mắc vào cái mồi dụ dỗ đi theo Nhật để tiến tới tự trị. Tojo lên tiếng dụ các lãnh tụ quốc gia Ấn với luận điệu : «Lúc này là thời cơ thuận tiện, Nhật Bản cảm thấy không thể nào không tiếp tay với Ấn để phá xiểng xích đô hộ và áp bức của thực dân Anh.» Nhưng Mahatma Gandhi thừa hiểu dã tâm của thực dân, đã trả lời thẳng Tojo bằng một thơ ngỏ vào tháng Tám năm 1942 như sau :
«Chúng tôi vẫn chưa quên những hành động tàn ác, dã man, người Nhật đã gây ra tại Trung Hoa. Thực là mộng ảo hão huyền nếu Ngài cho rằng dân Ấn sẽ chào đón Ngài khi đặt chân tới Ấn độ... Chúng tôi không cần sự giúp đỡ của nước ngoài. » Mặc dầu những lời lẽ trên đây, Gandhi sau này còn cảnh cáo thêm nếu Đức hay Nhật thắng trận, thế giới sẽ lâm vào một thảm kịch, nhưng lãnh tụ Bose của Ấn vẫn tiếp tay với Nhật để thành lập Chánh phủ thân Nhật, và tuyển lính trong đám tù binh Ấn vừa được Nhật thả ra.
Trong lúc Ấn độ từ chối sự giúp đỡ giải phóng của Nhật, chúng ta thử nhìn vào các nước ở Đông Nam Ấ đã được quân Nhật giải phóng xem sao. Người dân tại các nơi đó bị quân đội Nhật hành hạ, đàn áp, đối xử dã man, như dân Trung Hoa trước đây dưới gót giày chinh phục của Nhật. Những lãnh tụ thân Nhật thỉnh thoảng được đưa tới Tokyo và được tiếp đón rất lịch sự. Nhưng đó chỉ là bề ngoài; bên trong các lãnh tụ quân phiệt Nhật coi lũ người đó không hơn gì những tên bù nhìn. Quyền cai trị thực sự nằm trong tay các sĩ quan Nhật đóng tại địa phương, đúng như lời sử gia Richard Story đã viết : «Họ được tiếp đón nồng hậu tại Tokyo, nhưng chưa quên những cái tát tai tại Ngưỡng Quang hoặc Manila.”
Dân chúng Trung Hoa là những người đầu tiên tỉnh ngộ với chánh sách Đại Đông Á của Nhật. Đàn áp, hối lộ, tham nhũng do Chánh phủ bù nhìn Uông Tinh Vệ cấu kết với các sĩ quan và gian thương Hoa-Nhật tạo ra, đã khiến dân chúng sống khổ sở nhục nhã như trâu bò.
Mùa Hạ năm 1943, Tojo đi kinh lý các vùng chiếm đóng ở hải ngoại. Nhưng lúc này dù có muốn chấn chỉnh lại cũng đã quá trễ. Hơn nữa quyền hành tại đây nằm trong tay quân đội, chớ đâu phải Chánh phủ. Cũng giống như lúc trước Tojo cai trị Mãn châu vậy. Tojo nhấn mạnh đến sự «đô hộ, áp bức» của Tây phương không bao giờ xảy ra nữa, nhưng cũng không lấy được cảm tình của dân chúng. Sự đô hộ và áp bức lúc này họ đang phải chịu, chính là quân đội Nhật.
Vào tháng Năm, một tin làm chấn động cả nước khi được đài phát thanh Tokyo loan đi. Đó là cái chết của Đô Đốc Yamamoto, vị sĩ quan lỗi lạc nhất của Hải quân Nhật. Bản tin chi nói vắn tắt : «Đô Đốc Yamamoto đã bỏ mình trong khi đang ngồi trên máy bay điều khiển cuộc hành quân tại tiền tuyến.» Thực ra, Yamamoto đã bị lọt vô một cuộc phục kích tỉ mỉ do không quân Mỹ thực hiện. Máy bay của ông bị bắn rớt trên không phận Bougainville thuộc quần đảo Solomons, và rớt cháy trong rừng già 1 . Một tuần lễ sau đó, lại có tin trại quân trên đảo Attu thuộc quần đảo Aleutians đã bị tiêu diệt sau một trận tấn công của quân Mỹ nhân lúc sương mù dày đặc, và tiếp theo sau một trận pháo kích kinh khủng. Quân sĩ Nhật sau khi hô lớn Banzai — chiến sĩ muôn năm — để bày tò lòng trung thành với Thiên Hoàng, đã phóng ra những đợt xung phong cuối cùng. Người bị thương không chiến đấu được thì hướng về Hoàng cung ở Đông Kinh quỳ lạy rồi mổ bụng tự tử.
Bà Tojo còn nhớ rõ ngày căn cứ Attu thất thủ, vi theo lời thuật lại của Bà: «Đêm hôm đó, có vị Trung Tá bí thơ của Thủ Tướng điện thoại tới, nói là cần gặp Thủ Tướng ngay để báo cáo chuyện khẩn cấp. Tôi liền vô phòng ngủ đánh thức ông đậy. Phòng ngủ của ông sát ngay với phòng đọc sách, và luôn luôn có treo sẵn một bộ quân phục. Khi vị Trung Tá tới, tôi dẫn ông ta vô phòng đọc sách và thấy Tojo đã chỉnh tề trong bộ y phục thường lệ. Khi đọc bức điện cuối cùng của Đại Tá Yamasaki, chỉ huy căn cứ Attu, Tojo lặng người đi một lúc không thốt nên lời. Vị Trung Tá đứng đợi cho tới lúc Thủ Tướng trở lại bình thường Sau đó nhà tôi bảo tôi tới an ủi Bà Yamasaki. Viễn ảnh thất trận của nước Nhật càng ngày càng trở nên rỡ ràng khiến nhà tôi mỗi lúc một cảm thầy u buồn hơn.»
----------------------
1. Đọc Yamamoto 3 quyển đã xuất bản.
Trong lúc Đồng Minh tấn công mạnh vào vòng đai phòng thù bao quanh nước Nhật ở Thái binh dương, thì từ Âu châu đem tới toàn tin thất lợi cho phe Trục. Nào là quân Đức đầu hàng tại Stalingrad ; Rommel bị săn đuổi khỏi Bắc Phi; và tới tháng Chín, sau khi Mỹ đổ bộ ở Sicily thì có tin Mussolini bị hạ bệ, nước Ý đầu hàng vô điều kiện. Tin này làm rún động nước Nhật. Thế là từ nay hềt còn hy vọng phe Trục sẽ chiến thắng. Tệ hại hơn nữa là người đã hạ Mussolini và đầu hàng Mỹ lại chính là Badoglio, một Tướng lãnh dưới quyền ông ta. Sự kiện này khiến giới sĩ quan trẻ ở Nhật trở nên lo lắng. Họ kêu lớn, không thể nào có những Badoglios ở Nhật. Các Tướng lãnh cũng trở nên dè dặt, vì sợ bị chụp mũ là Badoglio.
Hai tuần sau đó, Thủ Tướng Tojo công bố trên đài phát thanh các biện pháp khấn cấp nhằm đối phó với tình thế mới. Theo đó, «mọi sự lãng phí thời giờ, nhân lực, vật lực từ nay không thể nào được tha thứ.» Ông cho biết kẻ thù Nhật Bản mặc dầu bị tổn thất nặng, nhưng vẫn không ngán, và đang tìm cách chinh phục nước Nhật bằng cách phóng ra những đợt tấn công mới. «Đây là lúc toàn dân phải nỗ lực để thích ứng với tình thế mới, bằng cách quyết tâm lập một phòng tuyến vững chắc bảo vệ quốc gia và đẩy mạnh nổ lực chiến tranh.»
Những biện pháp mới nhằm động viên toàn thể nhân lực quốc gia, đẩy mạnh năng suất trong việc hỗ trợ chiến tranh. Mọi người đều phải làm việc suốt tuần không nghỉ. Hạn tuổi hành nghề theo luật lao động được giảm bớt. Nhiều kế hoạch quy mô được hoạch định để xử dụng phụ nữ. Các nhà hát ả đào geisha và phòng trà từ trước tới nay vẫn phát triển mạnh trong chiến tranh bây giờ có lệnh phải đóng cửa. Thông điệp của Nhật Hoàng gỏi toàn dân trong dịp áp dụng những biện pháp khẩn cấp này mô tả tình hình quốc gia là «thực sự nghiêm trọng.» Những lời lẽ đó không phải có tánh cách phóng đại để thúc đẩy sự làm việc, nhưng chính là thực trạng của quốc gia lúc này.
Vào tháng Sáu, một thông cáo của Bộ Chỉ huy Tối cao cho biết «quân Anh - Mỹ sắp gia tăng những trận tấn công đại quy mô». Tiếp theo đó nhiều biến cố đã diễn ra trên mặt trận Thái Bình Dương. Mỹ chiếm đảo Tân Georgia. Không quân Mỹ bắn phá các đoàn tàu chở quân tăng viện của Nhật, gây ra những tồn thất nặng nề cho Hải quân. Lúc này máy bay đồng minh hoàn toàn làm chủ không phận, bắt buộc tàu Nhật phải di chuyển lén lút trong đêm tối trong vùng Tân Guinea và Solomon. Căn cứ quan trọng tại Tân Guinea là Lae thất thủ vào tháng chín. Các biến cố xảy ra trong tháng 11 lại còn trầm trọng hơn nữa. Vào đầu tháng, một trận không hải chiến lớn nhất kể từ sau trận Midway, xảy ra khi quân Nhật tấn công một hạm đội của Mỹ bị coi là đang đe dọa các căn cứ quan trọng nhất của Nhật ở Truk. Những cuộc di chuyển này của hải quân Mỹ báo hiệu cho những trận tấn công đổ bộ thực sự xảy ra một tuần sau đó. Lực lượng hành quân lớn lao của Mỹ có thiết giáp yểm trợ tấn công các đảo Tarawa và Makin thuộc quần đảo Gilbert. Các cuộc tấn công đổ bộ này là kiểu mẫu thí nghiệm cho những trận đánh dự định đổ bộ lên các hòn đảo chánh của nước Nhật trong tương lai. Binh sĩ tham dự được tiếp tế đầy đủ do một căn cứ lưu động trên mặt biển, Tarawa bị mất sau những trận đánh khủng khiếp «chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh, với những cuộc oanh tạc ghê gớm hơn cuộc oanh tạc thành phố Bá Linh.» Đó là những, lời thuật lại trong một bản thông cáo của quân đội Mỹ. Quân Nhật chiến đấu như điên cuồng, không kể sống chết, Nhưng ngày 25 tháng l1, Gilbert vẫn bí chiếm trọn «với một số ít lính Nhật còn sống sót trên đảo.»
Cũng trong tháng này, Churchill và Roosevelt gặp nhau tại Cairo, thủ đô Ai Cập. Sau cuộc gặp gỡ này, một bản tuyên ngôn loan báo vào tháng chạp tước bỏ hết quyền bảo hộ của Nhật đổi với toàn thể các đảo ở Thái bình dương được giao phó cho Nhật kể từ chiến tranh 1914, cũng như các lãnh thổ Nhật đã chiếm cứ của Trung hoa., Mãn châu, Kim môn, Pescadores được giao hoàn cho Chánh phủ Trung hoa dân quốc, Nhật bản cũng sẽ bị trục xuất ra khỏi các thuộc địa đã chiếm được. Dân chúng những nơi đó sẽ được sống trong tự do, độc lập.» Bản tuyên ngôn của Đồng minh xác nhận:«Những cuộc hành quân mở rộng sẽ tiếp tục diễn ra cho tới lúc Nhật Bản chịu đầu hàng vô điều kiện,. Trên đài phát thanh quốc gia, Thủ tướng Tojo gọi bản tuyên ngôn này là «trò con nít buồn cười ngu xuẩn, nhắm mục đích tuyên truyền để che đậy những thất bại nặng nề của chúng.» Theo Tojo, quân đội Thiên hoàng vẫn đang gặt hái «những chiến công lẫy lừng tại quần đảo Gilbert cũng như các nơi khác trên chiến trường.» Ông nói thêm : «Dĩ nhiên các sĩ quan và binh sĩ của quân đội. Thiên hoàng, tất cả đều «muốn được hy sinh cho Tổ quốc ngay trên chiến trường.» Đối với dân chúng Nhật, ông nói : «phải củng cố sự đồng tâm nhất trí đã có từ hai năm trước... Chiến thẳng không thể tới với những người chỉ ngồi yên khoanh tay chờ đợi.»
Không đầy một tuần sau đó, quân Mỹ lại đổ bộ lên New Britain. Kế tiếp, Bộ Tư lệnh Tối cao tại Tokyo xác nhận chiến thắng tại quần đảo Gilbert mà Thủ tướng loan báo trước đây thực ra là một thất bại nặng nề. Binh sĩ tại các căn cứ Tarawa và Makin «đã hy sinh anh dũng tới người cuối cùng.» Thủ tướng Tojo tuyên bố tại ủy ban ngoại giao Thượng viên : «Chiến tranh thực sự bây giờ mới bắt đầu.»