Tojo Người Hùng Thái Bình Dương

Lượt đọc: 1305 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VII

Kiến thức thiếu sót của Tojo về thế giới Tây phương đã ảnh hưởng nhiều tới công việc ông làm sau này. Nhiều người có cảm tưởng rằng ông chưa hề bước chân đi xa hơn nước Tàu. Trong cuộc thẩm vấn trước Tòa án xử tội phạm chiến tranh của Đống minh, Tojo đã tỏ ra hoàn toàn không biết gì về thế giới bên ngoài Á châu. Tuy nhiên vào những năm đầu trước khi tham gia các hoạt động chánh trị, Tojo thực ra đã từng sống ở ngoại quốc ba năm, và có lần ông đã đi qua Mỹ.

Bắt đầu từ năm 1919, ông được cử làm Tùy viên quân sự ở Thụy sĩ ít lâu, và sau đó thuyên chuyển sang Đức. Quân đội Nhật được tổ chức theo khuôn mẫu của quân đội Đức. Những sĩ quan ưu tú hầu hềt đều được gởi qua Đức nghiên cứu. Thân phụ của Tojo cũng vậy, nên lần này tới Đức, Tojo coi đây là một cuộc hành hương đầy ý nghĩa. Mặc dầu nước Đức lúc đó vừa bị thất trận, nhưng Tojo vẫn thấy phục quốc gia này. Đời sống khắc khổ của Đức sau chiến tranh rất hợp với tinh thần tự chế của truyền thống samurai mà Tojo đã hấp thụ. Ông rất thán phục tinh thần chịu đựng can đảm của dân tộc Đức trước những tàn phá, đau khổ sau chiến tranh, và thường nói : «Dân Nhật cần phải bắt chước nhiều điểm của người Đức.» Đối với một sĩ quan, chắc hẳn Tojo đã không thấy được gì nhiều về nếp sống của người Tây phương trước một nước Đức bị tàn phá. Ngoài ra một sự kiện là quân đội Đức phục hồi nhanh chóng. Không bao lâu họ đã cùng cố lại hàng ngũ và trở thành công cụ hữu hiệu của Hitler sau này..

Kiến thức về Âu Châu đã hẹp hòi qua việc nhận xét quá mau về quân đội Đức, tới lúc qua Mỹ, Tojo cũng lại chỉ nhìn thấy một vài sự kiện bề ngoài, và hầu như không biết gì tới tâm tính của người Mỹ, cũng như lối sống của họ. Năm 1922 trên đường từ Âu châu về nước, Tojo có ghé qua Hoa Kỳ. Những gì ông nhìn thấy tại đây, là một nước Mỹ giàu có, không lo chiến tranh, dân chúng sống hoàn toàn tự do theo cá nhân chủ nghĩa, nhiều khi trở thành thiếu cả tự trọng, và tất cả đều chỉ lo làm giàu. Những nhận xét vội vã nông cạn đó đã đưa tới những hậu quả tai hại cho xứ sở của ông sau này. Người Mỹ dưới con mắt ông là một dân tộc giàu có, nhưng tinh thần không có gì đáng kề. Đó quả là một quan niệm nguy hiểm đem tới những lầm lẫn quan trọng. Nhưng với một người luôn luôn mang trong người một tinh thần võ sĩ đạo, cộng thêm với sự làm việc quá hăng say, thì không thể nào tránh khỏi những ý nghĩ khinh khi vật chất như vậy.

Lúc trở về tới Nhật năm 1922, Tojo đã trở thành một Thiếu tá bốn chục tuổi, nhưng nhìn vẻ người ông già hơn nhiều. Đầu đã bắt đầu hói, và trong bộ quân phục, nhìn vầng trán của ông càng cao thêm nhiều. Bộ râu mép của ông để từ ngày còn trẻ đã dài phù cả môi trên và đổi thành màu xám. Cặp mắt cận thị với cái nhìn sắc như dao qua cặp kiếng gọng đồi mồi khiến người đối diện vói ông có thể cảm thấy sợ. Chính vì vậy, người ta đặt cho ông cái .ngoại hiệu là «Kamisori», nghĩa là «Lưỡi dao cạo Tojo». Bộ quân phục của ông trông không được vừa vặn cho lắm. Những nét hăng say của tuổi trẻ giờ đây đã được che dấu một cách kín đáo bên trong cái vỏ bề ngoài khắc khổ, nghiêm trang, của một quân nhân tuân theo kỷ luật tới mức tối đa. Càng ngày, ông càng có giọng nói mạnh mẽ đến độ hầu như quát tháo, nhiều khi khiến người quen có cảm tưởng ông đã đổi tánh nết thành một con người khác.

Ông thường nói : «là một quân nhân, tôi phải làm việc hai mươi bốn giờ một ngày;» Do đó, nhiều khi mọi người đã về hết, nhưng đèn trong phòng Thiếu tá Tojo vẫn còn bật sáng. Ở nhà, ông luôn luôn đem theo giấy tờ, sách báo quân sự về để nghiên cứu không ngừng. Thỉnh thoảng rảnh rỗi một vài giờ thì ông quây quần bên cạnh vợ con. Ông hoàn toàn không cỏ một thú vui sở thích nào. Ông thường nói : «Thú vui sở thích của tôi là làm việc.» Ông luôn luôn tỏ ra khó tánh với chính mình. Chẳng hạn ông rất thích thử bánh khảo của Nhật, nhưng nỗi lấn chỉ ăn hai cái, vì ông cho rằng ăn nhiều đồ ăn quá sẽ sanh ra buồn ngủ không tốt. Thứ nước ông thích uống nhất là cà phê. Bà Tojo thường mang cho ông tới sáu ly, mỗi lần ông thức làm việc ban đêm. Một điều ông không kiểm soát được mình, đó là tật hút thuốc. Ông hút tới sáu chục điếu mỗi ngày, và mỗi điếu chỉ hút vài hơi là ông đã dụi bỏ. Thấy vậy, bà Tojo thường phàn nàn, cho là phí phạm và có hại cho sức khỏe, nên đã khuyên ông bổ thuốc. Có lần ông đã bỏ được một năm không hút nữa. Nhưng một hôm đột nhiên, ông hút trở lại, và nói với vợ : «Đó là cái thú duy nhất của anh trên đời nầy.»

Suốt đời ông chỉ có hai người bận thân kể từ khi còn ở quân trường. Hai người đó là Tetsuzan Nagata và Hisao Watari, cả hai sau này đều trở nên Tướng lãnh, nhưng một người bị ám sát chết, và người kia bỏ mình vì bệnh sưng phổi trong khi chiến đấu tại Mãn châu. Những liên hệ giao thiệp của ông với các nhân vật khác trong giới quân sự đều đặt trên căn bản đồng liêu, cộng tác và không bao giờ thân mật, suồng sã. Với các nhân vật dân sự, ông ít tiếp xúc, mặc dầu sau này ông điều khiển nhiều người trong Chánh phủ do ông đứng đầu. Thời gian này, ông thường thảo luận với một bình luận gia của báo chí muốn tìm hiểu về cuộc sống trầm lặng của Tojo. Mãi về sau này, ông mới quen thân với một triết gia mà ông rất phục, đó là học giả Giichi Miura. Tojo thích bàn với Triết gia nầy về một thứ triết lý gọi là Kokatai, đặt căn bản trên những huyền thoại nguồn gốc thần tiên của dân tộc Nhật.

Cặp mắt cận thị của Tojo có thể chữa được bằng cặp kiếng cận, nhưng sự thiển cận tinh thần của ông là một tai hại không có cách gì chữa nổi. Ông luôn luôn có thanh kiến, cho rằng phải tiếp tục cuộc chiến tranh Nga — Nhật còn dở dang từ ngày trước. Tojo chủ trương nhất quyết phải chiến đấu cho tới lúc toàn thắng, để Nhật đạt được vai trò lãnh đạo ở Á châu, đó là sứ mạng linh thiêng của dân tộc Nhật. Vì vậy, Nga là kẻ thù đầu tiên và cũng là kẻ thù cuối cùng của Nhật.

Những năm đầu khi ông mới tham dự vào sinh hoạt chánh trị, Tojo tỏ ra thông cảm với các nước đi chiếm thuộc địa trước kia. Ông chấp nhận những bành trướng quân sự và kinh tế của họ. Nhưng trường hợp của Hoa Kỳ cứ tìm cách xía vô các nước Á châu một cách mập mờ khiến ông không thể nào chịu được. Ông không sao hiểu nổi tại sao một nước như Hoa Kỳ, vừa mói thực hiện xong những bành trướng thế lực tại Cuba, Mexico, Hawaii, và Phi luật tân lại có thể đứng ra xía vào cản đường sự bành trướng của nước Nhật, trong khi Nhật không hề can thiệp vào những việc làm của Mỹ. Những mục tiêu của Mỹ tại Á Đông, vừa muốn đề cao các lý tưởng vừa dòm ngó các triển vọng thương mại, đã khiến Tojo coi đó là một thái độ đạo đức giả. Sự nghi ngờ thiện chí của Mỹ càng gia tăng khi người Mỹ tỏ vẻ kỳ thị chùng tộc đối với dân Nhật.

Sự tự hào về nguồn gốc chủng tộc thần tiên đã có đối với dân Nhật từ lâu đời, chớ không như Hitler và thuyết thuần chùng, mới chỉ có từ thế kỳ 19. Hồi Hitler còn là một chú cai vô danh thi hành quân dịch, anh ta đã biết quái gì về thuyết thuần chủng của dân tộc Đức đâu. Ngược lại, giữa Mỹ và Nhật vấn đề phân biệt chủng tộc đã đặt ra từ lâu.

Ngay khi vừa ớ Mãn châu trở về, Tojo đã tin chắc rằng chính vì sự can thiệp ngầm của Mỹ mà Nhật phải nhả miếng mồi ngon đó ra. Tiếp theo đó, Quốc hội Mỹ lại bàn về đạo luật cấm dân Nhật di cư qua Mỹ, càng khiến cho dư luận Nhật nổi lên nguyền rủa Mỹ không tiếc lời: Mặc dầu sau này đạo luật đó đã được bãi bỏ, nhưng cũng đủ gây sự căm thù Mỹ đến tột độ.

Khi từ Mãn châu trở về, Tojo thấy nước Nhật đã được tổ chức cai trị theo nề nếp dân chủ Tây phương, với một hệ thống Quốc hội lưỡng đảng, Đó là di sản do Minh Trị để lại. Kế vị Minh Trị là Thiên Hoàng Yoshihito, ông này sức khỏe suy kém cả tinh thần lẫn thể xác. Quan Tướng quốc Genro lo phò Đông Cung Thái Tử Hirohito lên kế nghiệp để cai trị. Hirohito là một thái từ tuổi còn trẻ, nhưng chắc chắn tham vọng nắm quyền bính của ông không phải nhỏ. Sở thích riêng của ông là nghiên cứu hải sinh vật, nhưng chắc chắn mộng chánh trị của ông đã lớn hơn căn phòng thí nghiệm nhiều. Nước Nhật lúc này đã trở thành một cường quốc kỹ nghệ phát triền mạnh sau chiến tranh.

Theo nhận xét của Tojo thì một chánh phủ dân sự, cai trị bởi những nhân vật không thuộc dòng dõi quý phái, lần lần sẽ đưa nước Nhật tới một tình trạng chỉ phát triển mạnh về vật chất mà không có tinh thần như ông đã nhìn thấy tại Hoa Kỳ. Trong thời gian làm huấn luyện viên giảng dạy tại Trường Tham mưu gần Tokyo, Tojo đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến hệ thống tổ chức chánh trị đó của Nhật. Theo ông, những phát triển kinh tế đó, không những không có lợi gì cho quân đội mà còn làm cho uy tín của quân đội bị suy giảm. Hơn nữa, còn thêm một điều tệ hại là những chi tiêu của quân đội bị phe dân sự đòm ngó, và cần có sự chửng minh những chi tiêu đó là chánh đáng. Theo Tojo, phương thức điều hành như vậy không thể nào cho phép quân đội hoàn thành những chiến thắng lớn lao và vẻ vang như trong trận chiến Nga — Nhật năm 1904.

Trong thế chiến I, quân đội Nhật không tham gia nhiều, nhưng kỹ nghệ Nhật đã nhân dịp này bành trướng mạnh. Bốn đại công ty của Nhật thi nhau nhận phiếu đặt hàng của các nước Âu Châu đang tham chiến. Hàng đặt gốm có tàu biển, quân trang, quân dụng. Ngoài ra, kỹ nghê Nhật còn bành trướng qua những thị trường kỳ cựu đang mở mang tại Á châu. Bị thu hút ở các lãnh vực hoạt động kỹ nghệ và thương mại, thanh niên từ nay không còn quan tâm tới cái lon sĩ quan nữa. Họ đồ xô vô các ngành dân sự, với số lương hậu hĩ gấp mấy lần lương của sĩ quan. Các quân nhân cảm thấy buồn, vì lương của một sĩ quan chỉ hơn lương của một thơ ký chút đỉnh tại các đại công ty.

Nhưng không bao lâu, sau ngày Tojo từ Mãn Châu trở về, kinh tế Nhật bắt đầu gặp khó khăn. Với một khối dân gia tăng gần gấp đôi con số năm mươi bốn triệu khi Minh Trị Thiên Hoảng bắt đầu cải cách, và hàng năm còn tăng thêm một triệu miệng ăn nữa, nước Nhật không còn đủ sức tự thỏa mãn nổi lương thực cho dân chúng. Chiến tranh kết thúc, các giao kèo đặt hàng chấm dứt theo. Ngoài ra, các nước Âu châu bây giờ được rảnh tay, đang tỉm cách chiếm lại các thị trường ở Á châu trước đây. Kỹ nghệ Nhật bị ngưng trệ một cách nghiêm trọng. Thêm vào đó, Thiên nhiên cũng tiếp tay hành hạ Nhật bằng trận động đất bắt đầu từ trưa ngày I tháng 9 năm 1923 và kéo dài trong suốt một tuần, giết hại trên một trăm ngàn dân Nhật. Các thành phố Tokyo, và Yokohama hầu như bị tàn phá hoàn toàn.

Trước thiên tai thảm khốc đó, cả thế giới đổ dồn tới giúp đỡ Nhật. Trong đó nước Mỹ là quốc gia mau mắn và trợ giúp nhiều hơn cả. Dịp này quân đội Nhật cũng tỏ ra rất hữu hiệu trong việc giúp đỡ dân chúng. Đây cũng là cơ hội tốt để binh sĩ có những việc làm tích cực hơn là cứ ăn rồi tập luyện quân sự. Những giúp đỡ của quân đội cũng làm cho dân chúng có cảm tình với họ nhiều hơn là việc đàn áp biểu tình, bạo động. Nhưng sau này khi nhìn lại những hành động đáng lấy làm hãnh diện đó của mình, quân đội cũng như những người bạn Hoa Kỳ nhận thấy dân Nhật đã quên họ một cách nhanh chóng.

Hầu hết những thiện chí người Mỹ đã chứng tỏ trong việc giúp đỡ Nhật giữa thiên tai năm 1923 đều bi tiêu tan trong vòng một năm sau đó, khi một nhóm dân biểu trong Quốc hội Hoa Kỳ hoàn tất đạo luật hạn chế di dân sang Mỹ. Nhiều chánh khách Mỹ có khuynh hướng tự do đã phản đối đạo luật đó, vì nó làm nổi bật tánh cách kỳ thị chủng tộc giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ. Theo luật mới này, người Nhật bị hạ xuống ngang hàng với bọn cu li

Trung Hoa và cầm di cư vào Mỹ. Đó thực là một sự lăng nhục đối với nước Nhật. Cũng lúc đó, Tojo còn được nghe nói rằng những người Nhật di dân sang Mỹ tại các nông trại đã bị ghen ghét vì họ chịu khó hơn các trại chủ người Mỹ. Ông ta đưa ra kết luận : « Điều đó cho ta thấy lý lẽ của kẻ mạnh. Nước Nhật, nêu muốn sống còn, cũng phải trở nên mạnh như vậy. »

Những nỗ lực tái thiết kinh tế đang xuồng dốc sau trận động đất đã đưa tói vấn để cắt giảm ngân khoản của quân đội. Mặc dầu có sự phản đối dữ dội của nhóm ái quốc quá khích, và những tuyên truyền nấy nọ cho rằng Nhật đang bị bao vây bới một thế giới thù nghịch và bị Mỹ đe dọa, ngân sách quốc phòng vẫn bị cắt giảm bốn sư đoàn.

Điều đó đủ chứng tỏ phe quân nhân bị lép vế và phe dân sự hoàn toàn kiểm soát chánh phủ. Tệ hơn nữa là phe dân sự, sau khi thắng thế, lại đòi đem vấn đề bang giao với Trung Hoa ra xét lại. Chánh phủ và các giới thương mại nghĩ ngờ rạng việc chiếm giữ Mãn châu không có lợi lộc gì nhiều và là nguyên nhân gây ra mối thù nghịch với Trung quốc. Cuối cùng phe dân sự đánh một đòn chí tử vào phe quân sự với lý luận rằng nếu bỏ Mãn châu, ngân sách sẽ bớt được một gánh nặng tốn kém trong việc duy trì đoàn quân viễn chinh Kwangtung tại đó.

« Lùi
Tiến »