Tháng Hai năm 1942, trong lúc các sư đoàn của Nhật tiến vô Mã lai, thế mạnh như vũ bão, Tướng Tư Lệnh Nhật đã cho rải truyền đơn, kêu gọi các binh sĩ Anh ra đầu hàng trong tinh thần thượng võ, và ông ta hứa sẽ đối xử với những người đầu hàng như các chiến sĩ.
Một tháng sau đó, ngoại trưởng Anh Anthony Eden đã tố cáo trước dư luận thế giới, điếu mà Nhật gọi là “ tinh thần thượng võ » chỉ là bộ mặt đạo đức giả đáng ghê tởm. Sự thực cho thấy sau khi đầu hàng, các tù binh cũng như thường dân đểu bị đối xử vô cùng dã man, tàn nhẫn. Cảnh tượng diễn ra tại Hồng Kông sau khi quân Nhật chiếm được thành phố, ghê tởm như những cuộc chém giết, hãm hiếp ghê rợn từng diễn ra tại Nam Kinh năm 1937... Chánh phủ Nhật từ chối không dám để đại diện quốc tế tới thăm Hồng Kông.
Đó là những lời phản đối đầu tiên của nhiều loạt phản đối của Đồng minh về việc đối xứ dã man với tù binh, bất chấp quy ước quốc tế, của quân Nhật. Chánh phủ do Tojo lãnh đạo vẫn làm ngơ trước những lời phản đối đó. Hai năm sau, ngoại trưởng Eden nói trước Hạ viện Anh : Có tất cả 140.000 binh sĩ thuộc khối Cộng đồng Anh bị rơi vào tay Nhật. Họ bị ngược đãi trong những trại tù binh giữa rừng rậm nhiệt đới. Người nào người nấy chỉ còn da bọc xương, và còn bị bắt hành hạ, làm việc cho tới chết. Quần áo gần như trần truồng, đầu tóc dài lê thê trông như người tiền sử.
Sau này tại Tòa án xử tội phạm chiến tranh tại Viễn Đông, Tojo và đồng bọn đã bị buộc tội nhiều nhất vì những hành động dã man đối xử với tù binh và dân chúng tại vùng chiếm đóng. Tòa án đã đưa ra hai tài liệu chánh thức về vần đề này. Theo đó kể từ năm 1931 đến năm 1945, quân đội Nhật đã giết hơn một triệu người bằng cách đối xử dã man, không cho thuốc men. Trong đó có 302.000 trường hợp điển hình đặc biệt của những nạn nhân bị tra tấn, hãm hiếp, và đối xử nhiều cách dã man khác...
Hành động đối xử một cách dã man với tù binh của các binh sĩ Nhật hình như do ảnh hưởng của những phương pháp huấn luyện tinh thần mà quân đội Nhật đã đào tạo cho họ Quân đội Nhật dạy cho binh sĩ của họ rằng một người lính khi đã đầu hàng thì không còn danh dự, không đáng sống nữa. Chính vì vậy, con số tù binh Nhật bị bắt tại mặt trận Thái bình dương rất ít so với tổng số binh sĩ tham dự vào những trận đánh đó. Khi không thể chiến đấu được nữa, họ thường tìm cách tự tử hơn là để bị bắt, Nhiều người tự mở lựu đạn cho nổ banh xác, cũng có người tự mổ bụng hay cắt cổ tự tử.
Những ai đã từng phải đánh nhau với quân Nhật không thể nào quên được sự chiến đấu điên cuồng theo lối đánh tự sát của họ khi biết rằng không có cách gì thắng nổi đối phương. Tại Tân Guinea, quân Úc lấy làm ngạc nhiên khi thấy một căn cứ của Nhật, các binh sĩ người nào cũng đều mang mặt nạ, mặc dầu lúc đó lính Úc không hề xử dụng hơi độc. Mãi sau này khi đã tiêu diệt hết căn cứ đó, quân Úc mới khám phá ra : sở dĩ lính Nhật đeo mặt nạ là vì xác chết của binh sĩ họ không chôn, nhưng đem xếp làm hàng rào chắn đạn. Tại mặt trận Thái binh dương, rất nhiều thủy quân lục chiến Mỹ trong lúc định giúp đỡ những lính Nhật bị thương đã bị họ vùng dậy bắn chết. Trong trận chiến ghê rợn tại quần đảo Solomons với hàng trăm ngàn binh sĩ như vậy, mà Mỹ chỉ bắt được vỏn vẹn có 450 tù binh Nhật. Phần lớn số tù binh này đều muốn tự tử, chớ không muốn trở về nước. Hình như họ cho rằng bị lọt vô tay quân thù như vậy là điều nhục nhã, không còn đáng sống nữa.
Tinh thần chiến đầu can đảm của binh sĩ Nhật vốn có từ ngàn xưa, đó là điều không ai phủ nhận. Nhưng riêng việc đối xử với tù binh, theo lời ngoại trưởng Anh Anthony Eden, trong trận chiến tranh Nga - Nhật và Thế chiến 1 các binh sĩ Nhật tỏ ra tử tề và đối xử rầt nhân đạo với tù binh, khác hẳn thái độ của bỉnh lính Nhật trong Thế chiến II. Chính vì vậy, tại Tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh, ngươi ta đã cho rằng «việc đối xử tàn nhẫn với tù binh không phải do bản tính tự nhiên của người lính Nhật, nhưng là một chánh sách có tính toán và huấn luyện của nhà cầm quyền Nhật.»
Bắt đầu từ năm 1930, quân Nhật bắt đầu học cách chiến đấu một cách tàn ác và đối xử dã man với tù binh; Thời Đệ nhất Thế chiến, khi chiến đấu cạnh nước Anh và các Đồng minh Tây phương, lính Nhật đã tỏ ra rất tôn trọng tinh thẩn mã thượng. Nhưng tại Mãn châu, năm 1931, đạo quân Kwangtung không còn giữ được tinh thần thượng võ như những lính Nhật của Tướng Nogi năm xưa. Họ trở nên hung hãn và có nhiều hành động man rợ. Những lời phản đối của Tây phương hình như càng làm cho họ trở nên hung hăng hơn, vì lính Nhật cảm thấy người Tây phương chỉ phản đối suông bằng lời nói mà không làm gì được họ. Dần dần họ trở nên coi thường dư luận thế giới.
Trong trận chiến tranh Nga - Nhật năm 1905, binh sĩ Nhật đã tỏ ra có lòng nhân đạo đặc biệt đối với các đồng bào Á đông của họ. Khi hải cảng Arthur bị vây hãm, người Nhật đã tỏ ra tôn trọng tánh mạng và tài sản của dân chúng địa phương. Nhưng tới năm 1931, họ bất chấp tình đồng chủng da vàng, cứ mặc sức chém giết những kẻ yếu đuối hơn họ.
Trong trận tàn sát dã man tại Nam Kỉnh năm 1937, lính Nhật có những hành động vô luân, dã man như quân rợ thời Trung cổ. Ngược lại, người Nhật cũng bị quân Tàu đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo không kém. Cả hai cùng tàn nhẫn, phô bày hết cái man rợ của bản tánh Á đông. Trong khi đó hai bên không ngừng tố cáo lẫn nhau. Năm 1942, những lính Nhật từng tham dự trận đánh Nam Kinh năm xưa còn tỏ ra tàn nhẫn hơn nữa khi họ gặp người da trắng, những người mà họ có đầy đủ lý do để căm hận hơn quân Tàu năm xưa.
Chính Thủ Tướng Tojo cũng đã có lần tuyên bố :
Chính phủ ông không bị ràng buộc bởi quy ước chiến tranh của Tây phương. Trong một văn thơ gởi cho các chỉ huy trưởng điều khiển trại giam tù binh, Tojo viết : «Chúng ta có những quan niệm và những ý tưởng khác đối với vấn đề tù binh. Do đó cách đối xử phải khác Âu, Mỹ.» Ngày 20 tháng 3 năm 1942, Tổng trưởng Hải quân Nhật là Đô Đốc Shimada tuyên bố : «Nhật không cần phải tuân theo quy ước quốc tế về tù binh. Lý do là vì nước Anh đã phát động một cuộc chiến thù hận, nên Nhật phải đối phó bằng những luật lệ chiến tranh riêng của mình.»
Để đánh tan mặc cảm tự ti của người Á Đông đối với dân da trắng, Tướpg Itagaki khi chỉ huy tại Triều Tiên đã bắt một số tù binh Anh, Mỹ gầy ốm, bệnh hoạn, quần áo rách rưới, đi diễu ngoài đuờng phố để dân Đại Hàn trông thầy và nhận ra người da trắng không hơn gì họ;
Vì ý muốn hành hạ dân da trắng để người da vàng trông thấy, tại Bataan, Phi luật tân, sau khi quân Mỹ đầu hàng tại các pháo lũy cuối cùng, quân đội Nhật đã bắt họ sắp hàng đi bộ dưới trời nắng để tới trại giam cách đó một trăm cây số...
Tướng Tojo nhân có biết chuyện đó, và khi đi kinh lý tại Phi luật tân, ông có hỏi Tướng Homma, Tư Lệnh quân đội Nhật tại đây về điều đó. Nhưng Tojo không nhận trách nhiêm, vì ông cho rằng trong quân đội Nhật, khi các sĩ quan được giao phó một nhiệm vụ, họ hoàn toàn tự do hành động theo ý riêng của mình để hoàn thành điều đã được giao phó. Hai Tướng Homma và Yamashita đối diện trước Tòa án quốc tế cũng bào chữa bằng luận cử tương tự như vậy trước những lời buộc tội không ngăn ngừa binh lính trong các hành vi vô nhân đạo.
Đầu năm 1942, Thống Tướng Terauchi, chỉ huy chiến trường Đông Dương và Mã lai, nhận được lệnh cung cấp tù binh để làm con đường xe lửa từ Thái Lan đi Miến Điên dài 400 cây số. Thông thường một con đường dài như vậy phải làm trong sáu năm mới xong. Nhưng Nhật ra lệnh phải hoàn tất trong vòng mười tám tháng. Để thực hiện dự án này, tất cả tù binh toàn vùng Đông Nam Á đều được tập trung về để phụ lực với các dân công địa phương, Bồn mươi sáu ngàn tù binh trong suốt thời gian làm con dường xc lửa chết chóc này bị đối xử rất dã man, và sinh sống trong những điểu kiện không ai có thể tưởng tượng nổi. Kết quả, sau khi đường làm xong thỉ có một phần ba số tù binh đã bỏ mạng. Tính ra trung binh cứ mỗi cây số của «con đường chết chóc» này phải đánh đổi bằng mạng sống của 40 tù binh, và 120 cu li dân bản xứ.
Trước Tòa án quốc tế, Tojo chỉ nhận một phần nào trách nhiệm trong việc đối xử dã man với tù binh, Ông ta lý luận rằng vỉ không có mặt tại chiến trường, nên không thể kiểm soát hết được. Nhưng chính lời nói của ông ta trước đây đã phản lại luận cứ này. Số là vào tháng 5 năm 1942, chính Tojo có gợi cho các vị Tư Lệnh một chỉ thị, nguyên văn như sau : «Hoàn cảnh hiện tại của quốc gia không cho phép bất cứ cá nhân nào ăn không, ngồi rồi... Đối với tù binh, cũng phải kiếm công việc cho họ làm.» Khi ra trước tòa, Tojo cãi : Ông chỉ bảo kiếm việc cho họ làm, chớ không bảo phải hành hạ, đối xử dã man với tù binh. Nhưng binh sĩ thuộc quyền đã căn cứ vào mệnh lệnh đó để đặt ra nguyên tắc «không làm, không ăn» đối với mọi tù binh, bất kề các trường hợp bệnh hoặn, đau ốm. Về sau nghe lời khuyên của ngoại trưởng Shigemitsu, Tojo có ra lệnh lập một ủy ban điểu tra về vụ làm đường xe lửa ở Thái lan. Các viên chức trong ủy ban này xác nhận là tù binh bị ngược đãi, bắt làm việc trong khi đau ốm, thiếu ăn, nên một số lớn đã chết. Nhận được phúc trình này, Tojo chỉ chuyển giao cho giới chức liên hộ, và không có một hành động nào cụ thể. Kết quả là chỉ có một sĩ quan Đại Đội Trưởng bị đưa ra tòa án quân sự. Thực là chuyện quá dễ dãi, lơ là đối với cái chết của hàng vạn người.
Những tù binh Mỹ bị quân Nhật đối xử tàn nhẫn dã man, nhất là các phi công bị bắn hạ trong chuyến thả bom Tokyo lần đầu tiên ngày 18 tháng Tư năm 1942. Hôm đó một đoàn phi cơ Mỹ cất cánh từ hàng không mẫu hạm Hornet do Thiếu Tướng Doolittle dẫn đầu, đã bầt thần bay tới oanh tạc Thủ Đô Tokyo bằng loại máy bay B-25. Vì khoảng đường từ hàng không mẫu hạm tới Tokyo quá xá, nên oanh tạc xong, các phi công Mỹ phải hạ cánh xuống một phi trường ở Trung Hoa. Trong số 80 nhân viên phi hành, có tất cả 64 người bị lạc vô vùng do Nhật kiểm soát. Tuy vậy, họ được dân chúng Trung Hoa có cảm tình đem đi trốn tại các địa điểm an toàn. Chỉ có tám phi công lọt vô tay quân Nhật.
Chủ ý của Mỹ trong cuộc oanh tạc này là muốn cho Nhật thấy rằng họ có thể bị oanh tạc bất cứ lúc nào. Trận đánh thành công một cách bất ngờ đã khiến quân Nhật tức lồng lộn. Theo đài phát thanh Đông Kinh, các chỉ huy trưởng đơn vị phòng vệ lãnh thổ đều bị cắt chức và đưa ra tòa án quân sự về tội lơ là nhiệm vụ, không ngăn chận được máy bay địch. Trong khi đó, Nhật ra thông cáo lên án máy bay Mỹ đã thả bom «các mục tiêu dân sự như trường học, nhà thương, rạp chiếu bóng, giết hại đàn bà, trẻ con, bệnh nhân...» Thông cáo này kết luận: «người Mỹ không còn một chút nhân đạo nào.» Trong khi đó, sự thực là máy bay Mỹ đã oanh tạc đúng nhà máy kỹ nghệ của Nhật.
Người bực tức nhất trong vụ thả bom bất ngờ này là Tướng Sugiyama, tham mưu trưởng Lục quân. Chính ông ta trong phiên họp tại Hoàng cung trước đây đã hô hào chiến tranh, và bảo đảm rằng Nhật sẽ không bao giờ để cho địch dội bom Thủ đô Tokyo. Sau khi sự việc xảy ra, Tướng Sugiyama đích thân tới yêu cầu Thủ Tướng Tojo đem các phi công Mỹ bị bắt ra xử như các tội phạm chiến tranh, chớ không cho hưởng quy chế tù binh. Thủ Tướng Tojo đồng ý, và ngay sau đó, ký một sắc lệnh có tánh cách hồi tố, cho phép xử tử những người vi phạm sắc lênh này. Sẳc lệnh được gởi tới Tướng Hata, Tư lệnh Các lực lượng Nhật tại Trung Hoa, nơi những phi công Mỹ bị giam giữ.
Ngày 19 tháng 10 năm 1942, đài phát thanh loan tin các phi công bị bắt trong cuộc dội bom ngày 14 tháng Tư năm 1942 đã bị đem xét xử tại Thượng Hải, và «trừng trị theo quân luật mới ban hành.» vẫn theo đài phát thanh thì những phi công này đã thú nhận tội lỗi trong việc dội bom vào các «bệnh viện», «trường học» và «nhà cửa dân chúng.» Tất cả đều bị án tử hình, nhưng có năm tên được Thủ Tướng Tojo ân giảm xuông còn khổ sai chung thân, ba tên còn lại vì phạm tội thả bom vào «trường học» nên đã bị hành quyết. Sau đó, đài phát thanh phổ biến thông cáo của các Tư lệnh quân đội, cảnh cáo tất cả các phi công địch trong tương lai phạm vào những «hành động dã man, vô nhân đạo» như vậy trong các cuộc oanh tạc trên đất Nhật hay tại các lãnh thồ chiếm đóng của Nhật, sẽ phải lãnh hình phạt tương tự.
Sau này khi chiến tranh kết liễu, Ngoại trường Shigemitsu có viết lại rằng những cách đối xử tàn tệ với tù binh thời đó một phần là do hoàn cảnh thiếu thốn của chiến tranh và sự suy sụp của bộ máy hành chánh gây ra, nhưng đồng thời cũng phải công nhận một phần là do ảnh hưởng của chánh sách tuyên truyền gây căm thù với quân Mỹ của Chánh phủ. Những chuyện ghê gớm được kể lại trong dân chúng, và binh sĩ Nhật xôn xao bàn tán về các hành động tàn bạo của người Mỹ đối với dân Nhật. Có những câu chuyện nói rằng trẻ con Mỹ chơi đồ chơi làm bằng xương của lính Nhật, và các vị anh hùng Nhật bị đem ra chế diễu. Chính những lời lẽ tuyên truyền gây căm thù một cách khôn khéo đó khiến lính Nhật trở nên hung hãn với tù binh Mỹ.
Cựu ngoại trưởng Nhật, sau khi công nhận tất cả những hành động tàn ác của lính Nhật, đã đặt câu hòi: Liệu người ta có quyền căn cử vào những hành vi của binh sĩ Nhật trong thời kỳ này để kết luận rằng dân Nhật là một giống dân ác độc hay không ? Câu hỏi thoạt nghe thấy có vẻ ngây thơ, nhưng quả thực chúng ta cẩn phải suy nghĩ lại về quan niệm đó. Tất cả những ai từng có dịp gặp cựu ngoại trưởng Nhật Shigemitsu đều nhận thấy không những ông là một nhà ngoại giao thông minh, một nhà ái quốc, mà ông còn là con người đầy tình nhân đạo. Những ai đã có dịp sống chung với người Nhật đều phải công nhận lòng tốt, ngay thẳng của họ và không thể nào quan niệm được rằng họ là một giống dân thâm hiểm, ác độc.
Dù sao người ta cũng phải công nhận rằng Nhật đã không gây ra những vụ tàn sát có kế hoạch ti mỉ, giết hàng năm sáu triệu người như Đức quốc xã. Những vụ đối xử tàn nhẫn, giết chóc tù binh, chỉ xảy ra một cách riêng rẽ ở nhiều địa phương, chớ không có kế hoạch thống nhất, với những phương pháp khoa học, những cơ sở và nhân viên giết người tối tân như quốc xã Đức đã tổ chức. Và cuối cùng ở Nhật cũng không có một nhân vật nào giống như kiểu Himmler, kẻ chuyên ngồi nghĩ ra cách giết làm sao cho được nhiều người. Những đối xử tàn bạo với tù binh thật là khác hẳn với những cử chỉ hiền hòa người Nhật thường có trước khi chiến tranh xảy ra. Trên đây là những nhận xét của một nhà văn Tây phương, ông John Morris.
Học giả Eric Linklater, khi bàn về những vụ tàn sát của quân Nhật tại Trung Hoa, đã nói : Có thể đó là một trạng thái tâm lý mâu thuẫn của người Nhật. Sau nhiều thế kỷ sống dưới những chế độ chuyên chế, áp bức của thời phong kiến, lúc này dân Nhật với những khí giới tối tân trong tay, tự nhiên họ muốn vùng lên chém giết cho hả. Hơn nữa trong những tiếp xúc với văn minh cơ giới Tây phương, họ chưa có thời giờ dung hòa sức mạnh cơ giới với nền văn hóa dân tộc. Chính vì vậy họ đã xử dụng sức mạnh của các vũ khí tối tân một cách say sưa như người vừa tìm thằy thứ rượu ngon, mải miết uống thử. Người Nhật quả thực là dân tộc cổ nhiều mâu thuẫn, một đàng họ rất tế nhị, thanh tịnh, thích chơi hoa ; và mặt khác, họ lại tỏ ra hung hãn, cuồng tín và chỉ thích tự tử.
Một học giả khác, ông D. J. Enright, trong một cuốn sách nghiên cứu về dân tộc Nhật, có nói: «Dân Nhật hình như có nhiều đặc tính trái ngược với các dân tộc khác, chẳng hạn họ luôn luôn có một quan niệm tự trọng rất khắt khe, khó tha thứ. Chính quan niệm này tạo ra những vụ giết chóc không ngừng trong suốt lịch sử hàng ngàn năm của nước Nhật.» Tác giả Fosco Maraini thì nhận xét rằng trong suốt lịch sử văn học bi đát của Nhật, luôn luôn có những «cái chết bi thảm đẫm máu để hy sinh cho một lý tưởng.» Một ví dụ điển hình là trong thời kỳ nhà Mạc Phủ cấm đạo Thiên Chúa, nhiều giáo dân bị bắt, luôn luôn chi muốn tự tử như người có dịp tham gia một nghi lễ quan trọng. Tác giả Reginald Hargreaves viết về cuộc chiến Nga - Nhật năm 1905 như sau : «Mọi người chỉ nô nức mong có dịp được chết trong nhiệm vụ hy sinh cho Tổ quốc. Họ coi đó là một sự sung sướng cực độ và là sự hoàn thành cuộc sống.»
Mặt khác, người Nhật cũng luôn luôn nhắc tới những hành động tàn ác quân Đồng minh đã đối xử với họ. Phẩn lớn các tài liệu này đã được in thành sách hay đăng trên các báo trong lúc Đồng minh còn đang chiếm đóng nước Nhật. Theo quan điểm của họ, không có hành động nào ác độc hơn, tàn nhẫn hơn, vô nhân đạo hơn là hai trái bom nguyên tử Mỹ đã thả xuông đất nước họ.
Người Mỹ thường lý luận : Dù sao thì cũng tại Nhật đã gây ra chiến tranh trước. Nhưng Hideki Tojo đã từng nói : Tâm lý và quan niêm về cách đối xử của người Mỹ và người Nhật khác nhau, nên bên nào cũng cho là đối phương tàn nhẫn hơn mình. Chẳng hạn một vị Giáo sư Sử học tại Đại học đường Kyoto, trong khi bị động viên và chiến đấu ở mặt trận Miến Điện bị quân Anh bắt cầm tù, đã viết một cuốn sách nổi tiếng với nhan để « Tù nhân của quân Anh. » Trong đó, tác giả nhận xét người Anh cũng tàn nhẫn không kém, nhưng cách tàn nhẫn của họ thường được suy tính cặn kẽ, và thi hành làm sao để che đậy được tánh cách độc ác, khiến không ai nhìn vào có thể bắt bẻ được. Họ không cần đánh đập, hành hạ tù nhân, nhưng có những cách khác khiến cho kẻ bị giam cảm thấy khốn khổ hơn là đánh đập nhiều : đó là sự hành hạ bằng những phương pháp tâm lý, khiến tù nhân trở thành hoảng hốt, sợ sệt đủ mọi thứ. Họ có kế hoạch thi hành những phương pháp hành hạ tù nhân rất khoa học và lạnh lùng, không có vẻ gì là tức giận, nóng nảy, như khi người lính Nhật đánh đập một tù binh Mỹ. Nhưng theo một quan niệm nào đó, thì sự hành hạ tâm lý có khoa học kia là điều đáng ghê sợ kinh tởm và vô nhân đạo hơn tất cả mọi lối hành hạ khác.
Tiêu biểu nhất là câu chuyên sau đây do Lewis Bush kể lại khi ông bị quân Nhật giam tại nhà tù Omori gần Tokyo. Câu chuyện đã nói lên sự khác biệt sâu xa về quan niệm tàn ác của người Nhật và người Tây phương.
« Quy luật tại nhà giam Omori rất tàn nhẫn. Trong khi điểm danh mà không đứng nghiêm, hay gặp bất cứ người Nhật nào mà không chào, tù nhân cũng có thể bị đem xử bắn ngay. Đặc biệt hôm nay có một tù binh bị phạt làm lao dịch và đeo một tầm bảng ở cổ có viết hai thứ chữ Anh, Nhật : « Tôi là thằng ăn cắp ». Trong khi có nhiều tù binh khác bị đánh ngất xỉu, hay chính các đồng đội của họ bị giộng báng súng vô lưng, những người lính gác vẫn không mảy may thương hại, nhưng họ chỉ nhìn Tommy với tấm bảng đeo ở cổ và tỏ ý thương hại hắn rất nhiều, về sau tên lính gác vì quá thương hại Tommy nên hối hận, hẳn nhịn và nhường đồ ăn của mình cho Tommy, đang cười lên hô hố một cách thích thú. »
Fosco Maraini, người từng chịu đựng những cảnh tàn nhẫn trong thời kỳ chiến tranh tại Nhật, đã đưa ra kết luận cuối cùng về những hiên tượng cư xử tàn bạo trong quân đội Nhật như sau :
« Các Tướng lãnh Nhật muốn huấn luyện quân đội của họ trở thành một đoàn võ sĩ đạo lấy cái chết làm tiêu chuẩn chứng tỏ lòng hy sinh cho đất nước. Nhưng một đoàn võ sĩ đạo chỉ là một nhóm người ít ỏi, sống chung, và được huấn luyện từ nhỏ, nên mới giữ được kỷ luật nghiêm minh. Còn đàng này cả một đạo quân đông đảo hàng triệu người, với đủ mọi thành phần, cá tính khác nhau, mà lại lấy cái chết để làm tiêu chuẩn cho hành động, và tuyên truyền đề cao, thì làm sao tránh được những hành động tàn ác, dã man đương nhiên phải xảy ra. »
Trong lúc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt, ngoại trưởng Anh Eden có nhắc nhở các nhà lãnh đạo Nhật « hãy kịp thời ý thức rằng các hành động dã man của quân đội Nhật sẽ được ghi nhớ mãi mãi. » Nhưng lúc đó, chắc chắn không có một người Nhật nào — nhất là Thủ Tướng Hideki Tojo — lại nghĩ rằng Nhật sẽ bại trận, và sẽ phải ra trả lời trước một tòa án quốc tế vế những hành động họ đang làm.
Mặc dầu vẫn tin tưởng ở chiến thẳng, nhưng lúc đó Nhật cũng đã bắt đầu nếm mùi thất bại kể từ tháng 5 năm 1942. Ngày 6 tháng Sáu Hạm đội của Đô Đốc Nagumo phải rút lui một cách thảm bại sau một trận hải chiến dữ dội với hạm đội Mỹ tại Thái bình dương. Kể từ đó, không khí chiến thắng của trận Trân châu cảng bắt đầu lùi xa dần.