Bốn ngày đầu năm mới là dịp dân chúng Nhật Bản tống táng chuyện cũ, đón mừng cái mới. Mọi người lo hoàn tất công việc dở dang, thanh toán nợ nần trong năm cũ, sửa soạn trở thành một con người mới để ăn bữa tiệc đầu năm o-mochi với món bánh chưng đặc biệt. Ai ai cũng mong mỏi thoát khỏi những chuyện xui xẻo trong năm cũ. Sang năm mới mọi người đều hy vọng sửa chữa những lỗi lầm đã qua để tiến tới tương lai tốt đẹp. Những ước vọng này thường được dân Nhật ghi vào những cuốn nhật ký cất giữ rất thận trọng. Những trang nhật ký của Ngài Bá tước Chưởng ấn Hoàng gia Kido ghi vào những ngày đầu năm 1944 cho thấy viễn vọng thất trận đã tới gần, và càng ngày ông càng tìm cách đưa nước Nhật ra khỏi chiến tranh.
Đây không phải là lần đầu ông có những tư tưởng như vậy. Từ năm trước, có lần ông đã bàn với Hoàng thân Konoye về tình hình chiến cuộc. Hai người đều đồng ý viễn vọng chiến thắng đã bị tiêu tan, và Hoàng thân Konoye như thường lệ, rất lo sợ trước viễn tường một kiểu cướp chánh quyền giống như Cộng sản sẽ xảy ra sau khi bại trận. Người bạn già của Kido là Mamoru Shigemitsu từ Mãn châu trở về giữ bộ ngoại giao khiến ông có người để thỉnh thoảng bày tỏ tâm sự về việc tìm cách kết thúc chiến tranh. Những cuộc nói chuyên như vậy được giữ hoàn toàn bí mật. Nếu bị tiết lộ ra ngoài, các phần tử mưu tìm hoà bình sẽ bị vô tù hoặc ám sát ngay bởi phe chủ chiến cực đoan. Đạo quân Hiến binh tăng cường thêm nhiều nhân viên, ráo riết hoạt động, không kiêng nể bất cử viên chức cao cấp nào. Sự kiện Benito Mussolini bị lật đổ khiền Kido lo ngại không biết tình hình sẽ ra sao nếu Thủ tướng Tojo cũng bị hạ bệ tương tự như vậy. Theo ông nghĩ, chuyện này rất có thể xảy tới, cùng với viễn tượng sụp đổ của nước Đức dự đoán xảy ra trong năm 1944. Một lần nữa, vấn đề có thể lại được đặt ra trước Hội đồng các vị cựu Thủ Tướng để tìm người có thể thay thể Tojo, Tới lúc đó, ông cho rằng nhân vật nào có khả năng đem lại hòa bình cho nước Nhật trong thời hạn và hoàn cảnh khả quan nhất sẽ là người cầm đầu nội các trong tương lai, Giống như những nhân vật cao cấp khác của nước Nhật, ông hoàn toàn bác bỏ lời kêu gọi Nhật «đầu hàng vô điểu kiện» của Đồng minh. Ông hy vọng rằng, qua sự trung gian của Tàu hoặc Nga sô, Nhật có thể điều đình với Đồng minh để kết liễu chiến tranh trước khi «bị cô lập và tấn công bởi tất cả các cường quốc trên thế giới.» Những nhận xét trên đây được tìm thấy trong nhật ký của ông, Tuy nhiên, những biến cố sau đó đã xảy tới quá nhanh, vượt ra ngoài sự tiên liệu của Kido.
Tháng giêng năm 1944, Thủ tướng Tojo đã nói lên sự thực khi ông tuyên bố trước Thượng viện : «Thắng bại chỉ còn cách nhau trong đường tơ kẽ tóc» và kêu gọi quốc dân sẵn sàng đối phó với mọi khó khăn «càng ngày càng trầm trọng» của đất nước. Vào tháng mười trước đó, một hội nghị Hoàng gia đã được triệu tập khi quân Nhật bị đánh bại tại các hòn đảo thuộc phòng tuyến phía ngoài. Sau nhiều giờ bàn cãi kịch liệt giữa Hải và Lục quân, hội nghị đi tới quyết định phải thiết lập một phòng tuyến mới chạy dài từ Miến điện ngang qua quần đảo Andaman, Phi luật tân, Carolines, Marianas, Marshalls, Ryukyu, Iwo Jima, Okinawa, Kuriles, cho tới phía Bắc Nhật bản,
Ngày 1 tháng 2 quân Mỹ chọc sâu vô phòng tuyến mới của Nhật khi cho một lực lượng hùng hậu đổ bộ lên quần đảo Marshall. Lần đầu tiên Tojo thú nhận trước Quốc hội : «Kẻ thù đã thực sự tấn công vào lãnh thổ Nhật.» Ngày 20 tháng 3, các chiến lũy cuối cùng của quần đảo Marshall tại Kwajalein bị quân Mỹ thanh toán hoàn toàn. Tojo nắm trọn quyền kiểm soát Quốc gia bằng cách kiêm nhiệm luôn chức vụ Tổng tham mưu trưởng. Đồng thời, cộng sự viên thân tín của ông, Đô đốc Shimada, nắm chức Tư lệnh hải quân thay Đô đốc Nagano.
Không phải chỉ có những viên chức dân sự cao cấp như Kido và Shigemitsu mới nghĩ rằng cần phải kết thúc chiến tranh. Trong giới Hải quân, nhiều sĩ quan cao cấp cũng cho rằng Nhật không thể nào thắng nổi, mặc dầu những ý nghĩa thẩm kín đó họ không bao giờ dám hé ra cho ai biết. Trước đây Đô đốc Tagaki theo lệnh của Tổng trưởng Hải quân là Đô đốc Shimada, đã thiết lập một bản nghiên cứu tình hình chiến tranh. Kết quả của bản nghiên cứu quá thất vọng đến nỗi Tagaki không dám trình lên cho Thượng cấp. Tài liệu này được soạn thảo xong vào tháng Hai năm 1944 Trong đó Tagaki đề nghị Nhật triệt thoái khỏi các lãnh thổ chiếm đóng,
Bản nghiên cứu lúc này được Tagaki quyết định trao cho cựu Thủ tướmg Yonai. Vì Tagaki sợ rằng nếu để lọt vô tay Đô đốc Shimada, có thể ông ta sẽ trình lên Thủ tướng Tojo, và chắc chắn bị ỉm đi, đồng thời các Sĩ quan ủng hộ lập trường của Tagaki trong tài liêu nghiên cứu đó có thể bị trả thù. Tagaki hy vọng rằng tài liêu nghiên cứu này sẽ được cựu Thủ tướng Yonai trình lên Nhật hoàng.
Điều lo sợ Đô đốc Tagaki đã tiên liệu trở thành sự thực hiển nhiên khi ông ta được cựu Thủ tướng Yonai cho biết Tojo đã tỏ ra vô cùng tức giận trong lúc Đô đốc Okada và một số các vị cựu Thủ Tướng khác bày tỏ mối lo ngại của họ trước tình hình chiến cuộc ngày nay. Tojo cho rằng họ đang âm mưu lật đổ ông ta.
Trong hàng ngũ Lục quân, cũng có nhiều Sĩ quan bắt đầu nghi ngờ sự thắng lợi của cuộc chiến hiện tại. Tại khách sạn Sanno ở Tokyo, Đại tá Matsutani thường hội họp với một nhóm sĩ quan trẻ trong bộ tham mưu để thảo luận về tình hình đất nước. Đại tá Matsutani trước đây từng là Tùy viên Quân sự ở Anh quốc, hiện nay vẫn còn giữ liên lạc với Bộ Ngoại giao. Vì vậy ông hiểu rõ tình hình chiến tranh hơn bất cứ một Sĩ quan nào khác trong Lục quân.
Matsutani soạn riêng một tài liệu, đề nghị Nhật rút ra khỏi chiến cuộc. Sau đó ông đích thân trình tài liêu này lên Thủ Tướng Tojo. Kết quả là ngay ngày hôm sau Matsutani nhận được lệnh thuyên chuyển tới mặt trận Trung hoa.
Những tuần lễ sau đó các căn cứ quân sự tại Truk bị hàng trăm máy bay Mỹ oanh tạc, gây nhiều tồn thất nặng nề cho tàu bè Nhật đậu tại đây. Tiếp theo quân Mỹ lại đổ bộ lên quần đảo Admiralty, và Thủy quân Lục chiến tấn công lên New Britain. Ngày 24 tháng Tư, căn cứ Hollandia của Nhật tại Tân Guinea lọt vô tay quân Mỹ. 250.000 lính Nhật đóng tại đây từ trước để dự định đổ bộ Úc đại Lợi, được Tướng MacArthur tuyên bố là đã bị «vô hiệu hóa».
Nhật chỉ còn đạt được vài chiến thắng tại các mặt trận Trung Hoa và Miến Điện. Một cuộc tấn công vô các căn cứ Không quân Mỹ tại Trung hoa đã thành công.
Nhưng càng ngày quân du kích Cộng sản Tàu của Mao Trạch Đông càng trở nên nguy hiểm, hơn cả những đạo quân chánh quy của các Tướng lãnh Trung Hoa Dân Quốc. Tại Miến Điên, quân Nhật mở cuộc tổng tấn công trong chiến dịch «tiến tới Tân đề Ly» kiểm soát được các căn cứ của Anh tại Kohima, Ukhrul, Imphal, thuộc mặt trận Assam, tạo một hy vọng tiến sang Ấn Độ. Quân Nhật tham dự chiến dịch này đều là những đơn vị tinh nhuệ, chiến đấu trong rừng rất giỏi.
Nhưng sau đó không bao lâu, Lộ quân 14 của Liên quân Anh - Ấn do Tướng Slim chỉ huy vừa chận bước tiến của quân Nhật, vừa đánh chiếm lại những căn cứ quan trọng đã rơi vào tay quân Nhật. Những tháng sau đó, lực
lượng Nhật bị vây hãm tại Imphal và Kohima. Đồng thời một lực lượng chiến đấu đặc biệt của Mỹ bất thần đánh chiếm Myitkyina, một tỉnh địa đầu có đường xe lửa chạy tới Mandalay. Quân tăng viện của Nhật bị chận lại gần Chindits, trong lúc liên quân Anh - Ấn do Tướng Wingate chỉ huy đổ bộ xuống phía sau quân Nhật.
Ở Thái bình dương, quân Mỹ đẩy mạnh các cuộc tấn công đổ bộ lên đảo Biak, một căn cứ được coi là điểm địa đầu bảo vệ cho quần đảo Phi luật Tân. Vào tháng Sáu những thất vọng lan rộng trong giới viên chức cao cấp Nhật, khi các tin tức bại trận của phe Trục ở Âu châu dồn dập đưa tới. La mã thất thủ ngày 4 tháng Sáu, và hai ngày sau đó là cuộc tấn công đổ bộ vĩ đại của Anh - Mỹ tại bờ biển Normandy càng làm cho quân Nhật thêm hoảng sợ. Toshikazu Kase viết: «Chúng tôi cảm thầy tinh hình tuyệt vọng, vì bờ biển nước Nhật còn dễ đổ bộ hơn Âu châu.»
Cuộc đổ bộ vĩ đại tại Âu châu không làm cho Mỹ giảm bớt các hoạt động ở Thái bình dương. Ngày 15 tháng Mười, cuộc oanh tạc đại quy mô các nhà máy thép, do pháo đài bay Mỹ đặt căn cứ ở Trung Hoa thực hiện, khiến Tojo phải vội vã họp Hội đồng Nội các tìm cách đối phó. Cùng ngày hôm đó đảo Saipan thuộc nhóm đảo Marianas bị dội bom và hải pháo liên tiếp trong năm ngày liền trước khi lực lượng Mỹ đổ bộ lên đảo.
Ngày 9 tháng Bảy, tin thất bại trong cuộc tổng tấn công qua Ấn Độ tới cùng một lúc với tin đảo Saipan bị lọt vô tay quân Mỹ. Trận đánh Saipan khiến cả hai bên đều tổn thất nặng nề. 25 ngàn quân Nhật bị chết hầu như không còn một người nào sống sót. Trong số đó có cả Đô đốc Nagumo, người đã chỉ huy lực lượng hành quân tấn công Trân châu cảng. Hạm đội Nhật tìm cách tăng viện cho Saipan cũng bị đánh tan luôn. Phía Mỹ phải trả 15 ngàn mạng. Với việc mất Saipan, kể như quân Mỹ đã thọc sâu vô tuyến của Nhật tại Thái bình dương, vì hòn đảo này vẫn được coi là bất khả xâm phạm. Một số quân Nhật còn lại trên đảo, bị đồn tới mỏm đất ở phía Đông Bắc, cố gắng mở cuộc phản công cuối cùng một cách tuyệt vọng. Các đơn vị Hải quân Mỹ tiến vô các Hải cảng có mực nước sâu trên đảo. Vài ngày sau, các oanh tạc cơ ào ào bay tới hai phi trường ở Saipan, để từ đó bay đi dội bom những đảo chánh của nước Nhặt cách xa hai ngàn cây số. Với những dao động tinh thần do cuộc đổ bộ Saipan gây ra trong tháng năm và tháng sáu, phong trào vận động chấm dứt chiến tranh bắt đầu phát triển thành những âm mưu tìm cách hạ bệ Tojo. Công việc phải hoàn toàn bí mật và thận trọng, vì Tojo không dễ dàng nhượng bộ, ông ta còn đang được sự ủng hộ của quân đội. Các Sĩ quan trẻ hô hào đòi tái chiếm Saipan. Cựu Thủ tướng Okada đề nghị cứ để cho họ thực hiện một cuộc phản công, và sau khi thất bại họ sẽ nhận định ra sự thực. Cuộc phản công chắc chắn sẽ thất bại, vì lực lượng Hải quân đã bị đánh bại. Hoạt động của các nhóm chủ trương hòa bình gặp rất nhiều nguy hiểm do sự theo dõi của cảnh sát mật vụ. Toshikazu Kase và Konoyc cho biết cả hai đều bị mật vụ để ý. Kase kể lại: «Tôi biết điện thoại tôi bị nghe lén, và hàng ngày nhiều người tới gợi chuyện nói về chánh sách theo đuổi chiến tranh một cách «Tàn bạo» của Thủ tướng Tojo : nhiều nhân vật bị rớt vô bẫy này và bị bắt sau đó».
Dân chúng Nhật bắt đầu phản đối chiến tranh. Cuộc oanh tạc tại Kyushu mở đầu cho những trận mưa bom của Mỹ trên các thành phố Nhật, càng ngày càng ác liệt thêm khi không quân Mỹ có được những căn cứ gần đất Nhật hơn. Tình hình quốc nội cũng như quốc tế đều cho thấy chiến tranh không còn kéo dài được bao lâu nữa.
Đối phó với tình thế trước mặt, Tojo tự biết mình không thể trút bỏ trách nhiệm cho ai khác, nhất là từ khi một mình ông đảm nhiệm nhiều chức vụ then chốt trong Chánh phủ cũng như Quân lực. Nhưng đồng thời, ông cùng tỏ ra bướng bỉnh, nhất định không chịu thú nhận sự thất bại của mình.
Ông liền đề nghị với Ngài Chưởng ấn Kido tâu xin Thiên Hoàng ra một chiếu chỉ nhận định lại tình hình chiến cuộc, và không quy trách nhiệm cho ông, để ông nhân cơ hội này sắp xếp lại thành phần Nội các. Tojo lập luận : việc thay đổi chánh phủ giữa lúc tình hình nguy hiểm này sẽ không tránh được một cuộc khủng hoảng. Tojo kêu gọi các vị cựu Thủ Tướng tiếp tay ùng hộ ông, và bằng lòng hy sinh Shimada để nhường bộ Hải quân cho Đô đốc Yonau Ngoài ra, Tojo hứa từ nay ông sẵn sàng nghe theo các lời chi điểm của những vị cựu Thủ tướng, và hợp tác với các vị đó một cách chặt chẽ trong tương lai.
Lập tức Tojo được các vị cựu Thủ Tướng đáp lại lời yêu cầu đó bằng một thỉnh nguyện thơ gởi lên Nhật hoàng qua sự trung gian của Hoàng thân Kido, nhận định rằng Tojo không còn thích hợp trong chức vụ Thủ Tướng. Thỉnh nguyện thơ này được Đô đốc Okada trao cho Hoàng thân Kido ngày 17 tháng Bảy, trong đó có câu : «Muốn cứu vớt sự sống còn của đất nước, việc sắp xếp lại thành phần nội các chưa đủ.»
Bất chấp sự chống đối đó, Tojo vẫn giữ ý định cải tổ nội các. Ồng vội vàng triệu tập phiên họp các Tổng Bộ trưởng, và nhận thấy ngay trong Nội các, ông cũng bị nhiều người chống đối. Shimada đã từ chức Tổng trưởng Hải quân, nhưng Đô đốc Yonai không nhận lời tham gia nội các, nên chức vụ này được giao cho một Đô đốc khác. Tojo không có ý định hy sinh Shigemitsu trong chức vụ Tổng trưởng ngoại giao, nhưng chính ông này — do lời khuyên của Hoàng thân Kido — lại khuyên toàn thể nội các nên từ chức cùng với Thủ Tướng. Tổng trưởng Canh nông Uchida, một chánh trị gia nhà nghề, đồng ý với ý kiến của Shigemitsu. Thủ Tướng Tojo trở nên bực tức khi nhận thấy Kishi — một đàn em của ông xưa kia được ông nâng đỡ kể từ những ngày còn ở Mãn châu — cũng không chịu từ chức. Kishi cho biết ông chỉ từ chức khi toàn thể nội các cùng từ chức. Ông này nhất định giữ lập trường trên, bất chấp những lời kêu gọi thống thiết của Tojo.
Sáng hôm sau, 18 tháng Bảy, trước khi rời dinh Thủ tướng, Tojo nói với Phu nhân : «Có lẽ anh hết chịu đựng nổi rồi. Minh nên thu xếp để chuẩn bị trở về nhà.» Bà Tojo lấy làm ngạc nhiên hỏi lại: «Nếu anh rút lui lúc này thì để trách nhiệm lại cho ai ?» Tojo trả lời : «Anh không trốn tránh nhiệm, Anh đã làm tất cả những gì có thể làm được. Nhưng những điều kiện hiện nay khiến anh không thể nào tiếp tục ngồi ở chức vụ này được nữa». Lúc đó bà nhìn thấy ông có vẻ rất mỏi mệt và thất vọng,
Từ tư dinh, ông đi thẳng tới đài phát thanh, đọc bài diễn văn cuối cùng gởì quốc dân, xác nhận Saipan đã bị mất. Ông nói : «Tôi vô cùng đau đớn vì sự thất bại này đã khiến Thiên Hoàng phải quan tâm,,, Nhưng thế địch quá mạnh, chúng phóng ra liên tiếp nhiều đợt phản công, Chúng ta sẽ chờ CO’ hội để đẩy lui chúng.» Vậy là xong, Tojo định thu xếp để tới Hoàng cung đệ đơn từ chức của ông và Nội các lên Nhật Hoàng vào buổi trưa, Ngài Chưởng ấn Kido đã thông báo cho Tojo biết, ông sẽ được Thiên Hoàng tiếp kiến. Tojo cho rằng chính Kiđo là người đã tìm cách hạ ông khỏi chức vụ hiện tại.
Tojo rời Hoàng cung để trở về tư dinh Thủ tướng lần cuối cùng; Tại đây Tojo phu nhân đã chuẩn bị sẵn sàng để dọn trở về nhà riêng tại ngoại ô Tokyo, Tojo đi chào từ biệt và cám ơn toàn thể nhân viên. Nhiều năm sau, một viên cảnh sát cho biết trong ba chục năm gác tại tư dinh Thủ tướng, Tojo là vị Thủ tướng được mọi người có cảm tình nhiều nhất trong số rất nhiều vị Thủ tướng khác. Buổi trưa hôm đó, trong lúc Tojo thư dọn giấy tờ, thì đài phát thanh quốc gia loan báo : «Sau khi vận động mọi phương tiện, Nội các hiện tại vẫn cảm thấy không thể hoàn tất được các mục tiêu đề ra, nên đã quyết định rút lui để tiện cho việc thành lập một Nội các mới đối phó với chiến cuộc một cách hữu hiệu hơn.»