Tojo Người Hùng Thái Bình Dương

Lượt đọc: 1325 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN BA
CHƯƠNG XXV

Từ lâu trước khi chiến tranh xảy ra, Đô Đốc Yamamoto từng nói, trong trận chiến tương lai ở Thái bình dương, các hàng không mẫu hạm sẽ là « Bà Chúa trên mặt biển.» Ông nói : «Chiến hạm chỉ còn là dấu vết vàng son của thời quá khứ, giống như thanh báu kiếm của các võ sĩ đạo, đối với khí giới tối tân bây giờ, chỉ còn là những vật cổ tánh cách trang hoàng để tăng thêm uy tín. » Với quan niệm đó, ông đã dồn hết nỗ lực vào việc phát triển không lực hạm đội của Hải quân Nhật. Tiếc thay trong trận tấn công Trân châu cảng, Đô Đốc Yamamoto đã không đạt được mục đích tối hậu là tiêu diệt các hàng không mẫu hạm của Mỹ.

Hôm đó, ngày 7 tháng Chạp ở Mỹ (nhằm ngày 8 tháng Chạp tại Hawaii), khi căn cứ Trân châu cảng bị tấn công, thì tình cờ cả ba chiếc hàng không mẫu hạm của Mỹ đều không có mặt trong căn cứ. Chiếc « Saratora » đang đậu tại một hải cảng ở miền Tây Hoa Kỳ. Hai chiếc Lexington và Enterprise thì đang đi giao phi cơ cho các hải đảo trên Thái bình dương. Ba hàng không mẫu hạm này, sau được tăng cường thêm hai chiếc Wasp và Hornet đã trở thành lực lượng nòng cốt của Hạm đội Thái bình dương của Hoa Kỳ, Trong cuộc săn đuổi các hàng không mẫu hạm này, bộ tướng của Yamamoto là Đô Đốc Nagumo đã bị thất trận tại Thái bỉnh dương,

Trước trận đánh này, Hải quán Nhật vẫn chiếm ưu thế trên mặt biển Thái binh dương với tám hàng không mẫu hạm, khiến Đồng minh phải nể mặt, Tuy nhiên kề từ đó, Đô Đốc Yamamoto bắt đầu gặp nhiều khó khăn, không bao giờ tìm thấy những chiến thắng vẻ vang như trận Trân châu cảng nữa, và cuối cùng đã đi đến cái chết của ông 1 . Trận hải chiến tại biển Java, Nhật cố tìm cách loại hạm đội Viễn Đông của Anh rạ khỏi vòng chiến, Hạm đội Anh lúc này do Đô Đốc Sir James Somerville chỉ huy và đặt căn cứ tại Tích Lan, Phi cơ từ các hàng không mẫu hạm của Đô Đốc Nagumo bay tới tấn công hải cảng Colombo, gây thiệt hại cho một số chiến hạm và cơ sở phụ thuộc, Tuy nhiên trên đường trở về, phi cơ Nhật bị các máy bay Hurricane của Không lực Hoàng gia Anh chận lại tấn công. Kết quả, Nhật bị hạ hai mươi bốn chiếc ; Anh mất mười bốn. Hai thiết giáp hạm của Anh; chiếc Dorsetshire và Cornwall, xông ra tấn công hạm đội Nhật và cả hai đều bị đánh chìm. Từ đó, Đô Đốc Somerville tránh không giao chiến với Hải quân Nhật. Ông đưa lực lượng rút về quần đảo Maldive.

Nagumo bực minh vì không biết rõ lực lượng địch còn bao nhiêu và hiện ở đâu, ông ta liền cho hạm đội tiến dọc theọ duyên hải và phái phi cơ vào đánh phá các hải cảng Anh tại Trincomalee, đánh chìm thêm bốn chiến hạm nữa gồm cả hàng không mẫu hạm hạng nhẹ. Sau bốn ngày đánh phá, vẫn không tìm thấy lực lượng của Đô Đốc Somerville, Nagumo liền rút khỏi Ấn độ dương, và cũng từ đó không bao giờ ông còn có dịp trở lại nữa. Việc đánh Ấn độ, nếu xảy ra, sẽ do Bộ binh từ Miến điện tấn công qua.

Những tranh chấp ngấm ngầm từ lâu giữa Hải quân và Lục quân Nhật lúc này đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các cuộc hành quân. Sau chiến tranh, Tojo đã thú nhận : « Bộ chỉ huy tối cao bị chia rẽ giữa hai phe Hải và Lục quân, Họ không thể nào hợp tác với nhau một cách chặt chẽ đước. » Kế hoạch hành quân dự định từ trước để đổ quân lên phía Bắc Úc đại lợi không thực hiên được, vì Bộ binh từ chối cung cấp thêm nhiều sư đoàn. Các Tướng lãnh quay về với những kế hoạch hành quân riêng của họ ở lục địa khi nhận thấy Hải quân chỉ mãi mê với các cuộc hành quân riêng của mình.

Trước khi tấn công phía Bắc Úc đại lợi, Nhật định đánh chiếm hải cảng Moresby ở về mạn Nam Tân Guinea thuộc Úc. Nếu chiếm được hải cảng này, quân Nhật không còn sợ các cuộc oanh tạc của không quân Đồng minh đặt căn cứ ở các phi trường tại đó. Và từ Moresby, Nhật có thể thiết lập một căn cứ, phái các lực lượng đi yểm trợ cho các cuộc hành quân quanh vùng này.

Ngày 1 tháng 5 năm 1942, lực lượng hành quân của Nhật đánh chiếm hải cảng Moresby phát xuất từ đảo Rabaul, bị phi cơ Đồng minh phát hiện và tấn công. Vì thời tiết xấu, cả hai bên đều không tìm thấy các hàng không mẫu hạm của nhau. Phi cơ hai bên qua lại tấn công các chiến hạm đối phương. Trận chiến ngang ngửa, vì Mỹ và Nhật mỗi bên đều có ba hàng không mẫu hạm tham dự trận đánh này. Mỹ hơn Nhật vì có máy radar, và Nhật được ưu thế ở chỗ các phi công có nhiều kinh nghiệm chiến đấu hơn. Sáng ngày 8 tháng Năm, phi cơ Mỹ tìm thấy hai chiếc hàng không mẫu hạm của Nhật, đánh chìm một chiếc, chiếc kía bị thương. Đổi lại, hàng không mẫu hạm Lexington của Mỹ cũng bị máy bay Nhật đánh bị thương nặng, các chiến hạm Mỹ phải tự đánh chìm nó, vì sợ để bị lọt vô tay quân Nhật, Chiếc Yorktoivn cũng bị thương, nhưng chạy thoát được.

-----------------------

1. Đọc «Yamamoto» 3 quyển đã xuất bản.

Sau trận hải chiến, sáng ngày 10 tháng Năm, cả hai bên Nhật - Mỹ đều tuyên bố thắng trận. Đối với Nhật, phải kể đây là một đòn nặng, vì họ không còn hy vọng gì đánh chiếm Moresby. Hàng không mẫu hạm Yorktoivn mà các phi công Nhật báo cáo là bị đánh chìm đã chạy về sửa chữa lại tại Hawaii. Nhật chỉ mất một hàng không mẫu hạm nhỏ, nhưng đó là đòn nặng đánh vào tinh thần Hải quân của họ từ trước tới nay vẫn tự hào là vô địch, đồng thời khiến tinh thần Hải quân Mỹ lên cao. Thiệt hại nặng nhất của Nhật trong trận này là bị mất nhiều phi công giỏi. Bộ chỉ huy Hải quân Nhật không biết làm cách nào để bù đắp những phi công bị mất quá nhiều đó, đến nỗi hai hàng không mẫu hặm sống sót sau cuộc hải chiến vì thiếu phi công mà không tham dự được trận đánh quyết định của chiến tranh Thái bình dương xảy ra tại Midway.

Midway, một hòn đảo nằm giữa khoảng đường từ Nhật tới Hawaii, không ngờ đã trở thành hòn đảo định mạng đối với số phận của Hải quân Nhật tại Thái bình dương. Thực vậy, trong lúc Nhật tấn công Trân châu cảng, hai hàng không mẫu hạm của Mỹ nhờ đang đi giao phi cơ tại đảo Midway mà thoát khỏi bị tiêu diệt. Lúc này, vị trí của Midway trờ nên vô cùng quan trọng, nên Mỹ đã cho tăng thêm nhiều Thủy quân lục chiến tới đóng trên đảo. Các đội phòng không và phi cơ cũng đã được tăng cường.

27 tháng Năm, ngày kỷ niệm trận chiến thắng Hải quân Nga của Đô Đốc Togo ba mươi bảy năm về trước. Nhân dịp này, Thủ Tướng Tojo đọc một bài diễn văn trước Thượng viện. Ông hân hoan loan báo « chiến thắng to lớn» tại biển San hô, và cho rằng sau trận đánh này, các lực lượng hải quân địch bảo vệ Úc đại lợi đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Nước Úc bây giờ là một « đứa trẻ mồ côi » giữa Thái bình dương, chỉ còn chờ Nhật tới thanh toán một cách dễ dàng. « Với hoàn cảnh chiến thắng, thuận lợi hiện nay tại quốc nội cũng như hải ngoại, nước Nhật sẽ không bao giờ chịu tra gươm vô vỏ cho tới lúc thanh toán xong tận gốc rễ các ảnh hưởng của Tây phương tại Á châu, và đập tan giấc mộng đô hộ Viễn Đông của Anh - Mỹ. »

Cùng ngày hôm đó, Đô Đốc Yamamoto phái một lực lượng đông đảo đi đánh Midway. Hạm đội tham dự cuộc hành quân này gồm có cả bốn hàng không mẫu hạm, và nhiều hải vận hạm chở binh sĩ đổ bộ lên đảo. Đồng thời, để đánh lạc hướng đối phương, ông cho một lực lượng nhỏ đi đánh quần đảo Aleutian ngoài khơi Alaska. Mục đích của Yamamoto trong viêc phái cả bốn hàng không mẫu hạm đi trong chuyến này, không những nhằm đánh chiếm Midway, nhưng ông còn ngầm tính rằng, nếu muốn giữ Midway thế nào địch cũng phải tung các hàng không mẫu hạm của chúng ra. Và như vậy ông sẽ có dip để tiêu diệt chúng sau khi chúng đã may mắn thoát khỏi tay ông trong trận đánh tại Trân châu cảng.

Nhưng nhờ ở tình báo tinh vi, Hải quân Mỹ đã bắt được các điện văn trao đổi giữa những chiến hạm Nhật và khám phá ra kế hoạch tấn công của địch. Radar và phi cơ Mỹ theo dõi sát nút các cuộc di chuyền của hạm đội Nhật, nhưng Đô Đốc Nimitz vẫn giữ lực lượng chánh của ông ở cách đó năm trăm cây số, khi giai đoạn đầu của trận đánh khởi sự ngày 4 tháng Sáu, với các cuộc oanh tạc của phi cơ Nhật trên đảo. Máy bay của Thủy quân Lục chiến Mỹ đóng trên đảo bay tới tấn công các hàng không mẫu hạm Nhật, nhưng thất bại và bị thiệt hại nặng. Tuy nhiên, nhờ đó, Nagumo, chỉ huy Hạm đội Nhật, chỉ chú trọng tới việc đánh phá các căn cứ không quân trên đảo, mà không lo đề phòng Hạm đội của Đô Đốc Nimitz.

Đúng vào lúc bất ngờ đó, Nimitz phóng các phi cơ thả thủy lôi từ Hạm đội của ông tới đánh các Mẫu hạm Nhật. Mặc dầu được khuyến khích và tác động tinh thần rất nhiều, các phi cơ này vẫn không thành công. Nhưng giữa lúc chiến đấu cơ Zero của Nhật đang mải đuổi đánh các máy bay thả thủy lôi của Mỹ còn sống sót thoát khỏi lưới lửa phòng không của hạm đội Nhật thì các oanh tạc cơ Mỹ bất ngờ ở trên cao nhào xuống thả bom. Trong một thời gian ngắn, cả bốn hàng không mẫu hạm của Đô Đốc Nagumo đều bị đánh trúng và lần lượt bắt đầu chìm dần. Trong khi đó máy bay Nhật cũng đã tìm thấy mẫu hạm Yorktown và đánh chìm được chiếc này. Nhưng khi bay trở về, các phi công Nhật nhận ra tàu mẹ của mình đang bốc cháy và chìm dần trên mặt biển. Họ không biết làm gì hơn là bay quần trên không cho tới khi hết xăng rồi đâm xuống biền, chung một số phận với các thủy thủ của những mẫu hạm khổng lồ bị đánh chìm. Các hạm trưởng đều ghi chặt bánh lái, chìm theo tàu.

Ngày hôm sau Đô Đốc Yamamoto thu thập các chiến hạm còn lại, rút khỏi vòng chiến, và luôn luôn bị săn đuổi bởi các phi cơ và tàu ngầm của Mỹ. Tính ra, trận này đã khiến ông thiệt hại mất phân nửa trong tồng số mẫu hạm.

Ngày 5 tháng Sáu, trong lúc Hạm đội của Đô Đốc Yamamoto đã hoàn toàn rút khỏi chiến trường với sự đắc thắng của Hải quân Mỹ, thì Thủ Tướng Tojo tuyên bố trước một nhóm ký giả quốc tế : «Nhật Bản sẵn sàng chiến đấu trong một trăm năm, chúng tôi sẽ chiến đấu cho tới thắng lợi cuối cùng, và kẻ thù nhất định phải bị tiêu diệt. Vói điều kiện thuận lợi của kinh tế, quân sự, chánh trị hiện tại, chủng tôi nhất định sẽ thắng trận chiến này.» Tojo nói rất tự nhiên, không phải ông muốn che đậy một thất bại nặng nề nhất trong lịch sử chiến tranh của Nhật, nhưng sự thực là ông không hề hay biết gì. Tin tức liên quan tới trận Midway được ém nhẹm rất kỹ, ngay cả các sĩ quan cao cấp tại Bộ Tư lệnh Hải quân cũng không được thông báo.

Ở cương vị Thủ Tướng, Tojo là người tự tin hơn bất cứ chánh khách nào khác. Nhưng lúc này ông bắt đầu cảm thấy bực bội với những hoạt động có tánh cách độc lập của Quân đội, điều mà trước đây ông vẫn đòi hỏi. Tojo thú nhận: «Dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng, những hành động độc lập của Quân đội vẫn diễn ra tốt đẹp. Nhưng lúc này, với tình hình biến chuyển tế nhị, một vị Thủ Tướng hoàn toàn biệt lập với hoạt động quân sự sẽ cảm thấy khó lòng tin tưởng ở chiến thắng của quốc gia.»

Bộ Tư Lệnh Hải quân Nhật đã làm mọi chuyện để giấu nhẹm các chi tiết về trận Midway. Khi chiến hạm về tới căn cử, các thủy thủ bị thương được đưa lên bờ lén lút trong đêm tối. Hạm trường Fuchida, người từng dẫn đầu cuộc oanh tạc Trân châu cảng, bị thương trong trận Midway này, đã được đưa từ tàu lên bệnh viện trên bờ bằng cửa sau vào lúc trời tối, để tránh việc tiết lộ các tin tức tổn thất của Nhật. Mọi tin tức liên quan tới trận đánh này đều bị kiểm duyệt gắt gao, cố tình không cho dân chúng biết tới những thiệt hại nặng nề của Hải quân Nhật.

Tuy nhiên, tới ngày 10 tháng Sáu, các tin tức liên quan tới trận đánh này được lộ ra ngoài dần dần. Trong khi loan tin chiếm quần đảo Aleutian, thông cáo của Hải quân Nhật đã hé lộ những tổn thất tại trận Midway. Ngày hôm sau, trả lời một câu hỏi của ký giả nhật báo Asahi, phát ngôn viên Hải quân tuyên bố : «Dĩ nhiên Hải quân Nhật không thể nào luôn luôn chiến thắng, nhưng cũng có khi phải chịu tồn thất.» Năm ngày sau đó, đài phát thanh Tokyo, nhắc tới các tổn thất này, đã cho rằng đó là : «tổn thất nặng nhất kề từ khi chiến tranh khởi đầu.»

Cũng trong thời gian này, tại Mỹ mọi người nhận được tin một cuộc ám sát Thủ Tướng Tojo đã xảy ra tại Tokyo. Thủ phạm là một thanh niên Triều Tiên, có chân trong tổ chức Liên minh Trung Hoa — Triều Tiên. Cuộc ám sát xảy ra tại cửa Bộ chiến tranh. Thủ phạm bắn hụt Tojo, nhưng cựu Thủ Tướng Hirota đi cạnh ông đã trúng đạn và bị thương nhẹ. Cảnh sát nổ súng giết tên sát nhân và bắn lầm phải một sĩ quan không quân khác. Chuyện này không biết hư thực ra sao, nhưng không bao giờ thấy Chánh phủ Nhật xác nhận hoặc đính chánh.

Nhiều chuyện khác cũng được đồn đại do những người vừa từ Nhật thoát ra ngoại quốc. Chẳng hạn, có người kể hồi tháng 8 năm 1942, khi đi thăm một xưởng máy, Tojo đã bị công nhân liệng đá, vì họ cho rằng ông bất lực, để máy bay Mỹ dội bom nhà máy, giết hại hơn một trăm công nhân. Những lời đồn khác nói càng ngày Tojo càng tỏ ra không coi Thiên Hoàng ra gì. Ông ta củng cố, nắm giữ mọi quyền hành, nhốt Thiên Hoàng trong cung và chỉ cho Ngài đọc báo với các tin tức đã bị kiểm duyệt. Tin này tạo ra hình ảnh của Tojo giống như một vị Tướng quân thời Mạc phủ.

Dân Tây phương được báo chí mô tả Tojo là người hàng ngày có hình xuất hiện trên các nhật báo ở Nhật, khi thì chụp lúc ông đang dắt một bà lão băng qua đường, khi thì đang nói chuyện với sinh viên. Mỗi lần diễn thuyết, Tojo được coi là «người đem hy vọng chiến thắng đến cho nước Nhật.»

Hình ảnh cuối cùng của Tojo được mọi người nhắc nhở trong giai đoạn chiến thẳng của Nhật đang lên cao nhất, là hình ảnh của một người luôn luôn đi khắp đó đây để cổ võ, khuyến khích, dẫn đưa mọi người tới chiến thắng của Nhật Bản. Thực vậy, thời kỳ này, ông ít khi ở trong nhà. Người ta gọi ông là «Vị Thủ Tướng đi nhanh như chớp. Ông cung còn được đặt một tên khác nữa : «Người sắt chân thành. Những lúc không đi kinh lý, lợi dụng một vài giờ rảnh rỗi, Tojo thường cỡi một con bạch mã trong trại lính kỵ binh ở Tokyo để giải tri và luyện tập thân thể. Vì vậy ông còn có biệt hiệu : «Vị Thủ Tướng trên lưng ngựa.» Nhưng thường thường lúc nào người ta cũng thấy ông đi hết xưởng máy này tới khu kỹ nghệ khác. Thậm chí có lúc ông cũng đi ra các khu chợ bán cá để khuyên khích tinh thần làm việc của dân chúng. Thấy các ngư phủ than không có xăng để chạy thuyền đánh cá, ông la lên :

«Xăng, xăng ! Lúc nào cũng xăng. Dậy sớm mà chèo thuyền cũng được vậy, cần gì xăng.»

Cũng có hôm Tojo tới thăm cả trại tù binh ờ Omori. Lewis Bush thuật lại, trong lúc ông đang bị giam ở đây, thì một hôm vào tháng 10 năm 1943, Trung úy trưởng trại Iehimura chạy vô chỗ các tù binh đang tắm, hô lớn : «Nghiêm,» Lúc đó có nhiều, người còn đang ở truồng, đứng sau lưng các sĩ quan,

«Tojo xuất hiện giữa đoàn tùy tùng cùng đi với ông trong bộ đồ xám, nón xám. Ông cầm một cây gây cổ chạm đấu con ngựa bằng sừng ờ chỗ nắm tay. Khi ông tới nơi, tất cả tù binh theo lệnh của Trung úy trưởng trại đều cúi đầu. Tojo đưa tay chào lại mọi người. Sau đó ông đi thăm tất cả mọi nơi trong trại và tỏ cảm tình đặc biệt với những tù binh bị đau ốm, và hỏi han Trung úy Ichimura nhiều chuyên. Sau cuộc thăm viếng này, chúng tôi không còn có cảm tưởng xấu đối với Tojo như trước. Mọi người không còn gọi ông bằng tên «Lão già mắc dịch.» Nhưng đặt cho Tojo cái tên mới: «Lão già lắm chuyện.»

Vàỉ tuần sau khi trận Midway xảy ra, quân Nhật và Úc ghìm nhau trong một trận đánh ác liệt tại Tân Guinea. Các thông tín viên Hoa Kỳ gọi đây là «trận đánh thảm khốc nhất của chiến tranh.» Lúc này không còn hy vọng gì chiếm được hải cảng Moresby bằng hải quân, Nhật liền cho một lực lượng bộ binh đông đảo tiến lên từ Buna, dọc theo bờ biển Tây Bắc Kokoda, để tới dãy núi Owen Stanley. Một tháng sau. đó, vào ngày 9 tháng 8 nám 1942, đài phát thanh Tokyo loan tin : Một trận đánh lớn đã xảy ra tại vùng Solomons giữa quân Nhật và liên hạm đội Mỹ-Úc.

Ba ngày sau, quân Mỹ bắt đầu mở thế công tại Thái bình dương khi Thủy quân Lục chiến đổ bộ lên Guadalcanal thuộc quần đảo Solomons. Trong lúc TQLC Mỹ giữ vững vị trí trước những cuộc phản công tuyệt vọng của Nhật, thì tại Tân Guinea, quân Nhật lại bị quân Úc đẩy lui khỏi vùng Kokoda và bị dồn tới một bãi cát nhỏ tại Buna. Những lính Úc chiến đấu tại mặt trận này phân lớn là các quân nhân giàu kinh nghiệm từng tham chiến ở mặt trận Trung Đông được đưa tới. Tại mặt trận trong vùng Solomons, Mỹ bị mất một hàng không mẫu hạm, đây là chiếc thử bốn của Mỹ bị đánh chìm. Nhưng bù lại, quân Mỹ đã hoàn thành mệnh lệnh của Đô Đốc Halsey là, bằng bất cứ giá nào, ngăn không cho quân Nhật tăng viện thêm tại Guadalcanal.

Vào tháng 11 năm 1942, sau khi Rommel bị quân Anh đánh bại tại El Alamein, và Mỹ đổ bộ lên Bắc Phi thuộc Pháp, Trung Tướng Horii liền lo cùng cố phòng tuyển cuối cùng của quân Nhật tại Buna, nơi mà trước đó họ đã bị quân Úc đuổi dồn tới. Trong tháng đó, Nhật mở một cuộc phản công chót, nhằm chiếm lại Guadalcanal, nhưng bị thất bại trong trận đánh ngày 16 tháng Mười Một. Lúc này quân Nhật quá rối loạn, có khi tàu của họ bắn lầm vào nhau.

Khi phe Trục bắt đầu bị đánh bại với những cuộc phản công thẳng lợi của Đồng Minh tại khắp các mặt trận, Tojo vẫn còn lạc quan. Trong thông điệp gởi cho Hitler ngày 13 tháng Chạp năm 1943, ông nói : « Lúc này, mọi người đã nhận rõ rằng một thế giới sáng lạn trong tương lai chỉ có thể có được với sự hoàn tất chiến thắng của các quốc gia Đức, Ý và Nhật chúng ta. Một lần nữa, tôi long trọng tuyên bố trước thế giới, lực lượng của ba nước này sẽ sát cánh chiến đấu bên nhau, cho tới thắng lợi hoàn toàn mới thôi.»

Tuy nhiên, trong bài diễn văn đọc tại Thượng viện ngày 28 tháng Chạp năm 1942, những lời lẽ lạc quan của Tojo giảm bớt một cách có ý nghĩa rõ rệt. Ông nói: «Trong hạ bán niên vừa qua, chiến tranh đã ở vào thế giằng co. Nhiều chuyển động trong chiến lược mới khiến người ta có cảm tường chiến tranh thực sự giờ này mới xảy ra.» Sau đó Tojo cho biết tình hình vẫn khả quan, ngoại trừ tại Guadalcanal, nơi một đơn vị nhỏ của Hải quân đang phải chiến đấu dưới những điều kiện không thuận lợi. Cuối cùng, ông kết luận : « Tôi đoán chắc rằng quân đội chúng ta, dưới quyền điểu khiển tồi cao của Thiên Hoàng và sự hỗ trợ của một trăm triệu dân Nhật, cuối cùng sẽ hoàn tất nhiêm vụ và đưa quốc gia tới chiến thắng cuối cùng. » Trong lúc Tojo tuyên bố những câu trên thì nhiều đơn vị phòng không Nhật đang phải chống đỡ với các đợt oanh tạc của Mỹ.

Cũng trong phiên họp này, Tổng trưởng Hải quân là Đô Đốc Shimada, người trước kia đã tuyên bố « Hải quân Mỹ ở Thái bình dương chỉ là bọn du kích. » giờ đây lên tiếng báo động : « Chiến tranh đã bước vào giai đoạn quyết định. Địch quân, lợi dụng sức mạnh sản xuất to lớn của kỹ nghệ, đang bắt đầu mở các cuộc phản công. » Năm 1943, đúng như lời Tojo nói trước Thượng viện một tháng sau đó, sẽ là « năm của những trận đánh quyết định. »

Tuyết Sinh (dịch)
Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »