Tojo Người Hùng Thái Bình Dương

Lượt đọc: 1318 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XIX

SAU khi nhận chiếu chỉ của Nhật Hoàng về việc thành lập Chánh phủ ngày Mười, Tojo vội vàng rời Hoàng cung tới Đền thờ Minh Trị Thiên Hoàng để lạy tạ ơn. Sau đó ông tới Đài Kỷ niệm Đô Đốc Togo, vị anh hùng chiến thắng trong trận chiến tranh Nga-Nhật năm 1905, và đền Yasukuni kỷ niệm Tướng Nogi và các chiến sĩ Nhật, dâng hương. Hôm sau, Tojo được vinh thăng Đại Tướng thực thụ, và ông bắt đầu công bố thành phần trong tân Chánh phủ .

Bộ Hải quân dĩ nhiên phải giao cho một sĩ quan Hải quân, là Đô Đốc Shimada, đã từng chiến thắng tại Trung Hoa khi chỉ huy Hạm đội tại đây năm 1940. Bộ Kế hoạch giao cho Tướng Suzuki. Cũng giống Tojo, ông Tướng này trước đây từng ở trong Phòng Tổng vụ Lục quân và là người thảo kế hoạch cho Nội các của cựu Thủ Tướng Konoye. Bộ Ngoại giao do cựu Đại sứ Nhật tại Nga nắm. Shigenori Togo là nhà ngoại giao từng có nhiều công trạng trong việc đưa Nhật tham gia khối Trục. Tojo và ông ta gặp nhau lần đầu khi cả hai cùng phục vụ tại Âu Châu sau Thế chiến I. Tuy theo phe Trục, nhưng Togo là người hiểu rõ tình hình Nga, với những kinh nghiệm thâu thập được trong thời gian ông làm Đại sứ tại Mạc tư khoa từ năm 1939 đến năm 1940. Trước khi bằng lòng nhận giữ Bộ này, Togo đòi hai điều kiện : một là Nội các này không có mục địch gây ra chiến tranh, hai là Quân đội không được cố chấp trong lập trường cứng rắn bất di bất dịch về vấn để rút quân ra khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên, sau này khi không được thỏa mãn điều kiện thứ hai, ông vẫn tiếp tục ở chức vụ, mãi cho tới năm 1942 mới từ chức để phản đối việc Tướng Tojo rút quyền quản trị các lãnh thổ chiếm đóng khỏi Bộ ngoại giao.

Ngoài ra, trong Nội các mới còn có hai nhân vật dân sự khác nữa, Một là Naoki Hoshino, người từng gíup Tojo cai trị tại Mãn châu trước đây. Sau này, ông ta nhận xét rằng Tướng Tojo lúc đó không thực sự hoàn toàn là một vị Thủ Tướng. Ông ta được gọi từ Mãn châu về để giữ chức Bộ Trưởng tại Phủ Thủ Tướng. Ông ta là người dân sự duy nhất được Tướng Tojo tin tưởng. Và cũng chỉ có một mình ông cho rằng Tướng Tojo là một người rất dễ chịu. Thỉnh thoảng Tojo thường tâm sự với Hoshino. Bà Tojo có kể lại, chồng bà thường nói : «Ông ta có thể nói bất cứ chuyện gì với anh, vì anh biết ông ta luôn luôn có ý muốn bảo vệ anh và anh hoàn toàn tin tưởng ông ta.» Nhân vật dân sự thứ hai là ông Nobusuke Kishi, nắm Bộ Thương mại và Kỹ nghệ. Õng nầy đã tỏ ra là người có tài chánh trị. Sau khi chiến tranh chấm dứt, ông bị lên án tội phạm chiến tranh, nhưng sau đó lại được tha và trở thành Thủ Tướng trong Chánh phủ thân Mỹ thời hậu chiến. Một mình Tojo giữ hai Bộ Nội vụ và Chiến tranh. Ông cho rằng mình cần phải nắm vững tình hình an ninh trong nước và kiểm soát chặt chẽ quân đội. Sau này ông nói, ông muốn giữ Bộ nội vụ vì triển vọng hòa bình nhiều hơn chiến tranh. Như vậy những chuyện lộn xộn có thể xảy ra, và ông sẽ phải lo đối phó.

Trưa hôm đó, sau khi Nội các mới ra mắt, lẩn đầu tiên Tojo đọc một bài diễn văn được truyền thanh. Đó là một bài diễn văn khuôn mẫu thường dùng, đại khái kêu gọi dân chúng đoàn kết, tự tin, để «cương quyết góp phần xây dựng nền Hòa bình thế giới». Ông tuyên bố trong chiều hướng mưu tìm hòa bình, nước Nhật sẽ ổn định «vần đề Trung Hoa» và thiết lập một khu vực thinh vượng chung trong chánh sách Đại Đòng Á. Sau đó ông phải tới Đền thờ Thái Dương Thần nữ ở Hoàng cung để tạ ơn. Tại đây, sau khi hoàn tất các nghi lễ, Tojo thốt lên : «Thực là một vinh dự, khả năng của tôi chưa xứng đáng».

Nhưng còn cảm động hơn nữa trong buổi họp mặt với hơn hai trăm kỹ nghệ gia tại Trung tâm kỹ nghệ của Nhật là thành phố Osaka, khi ông đứng lên tuyên bố : «Chánh sách của Nhật phải được thực hiện trong sự đồng tâm, nhầt trí. Chúng ta không biết được những gì đang chờ đợi trong tương lai, chiến tranh hay hòa bình, nhưng dù sao đi nữa với sự đồng tâm nhất trí của một trăm triệu dân ta, thì việc gì cũng phải xong ; dù có chiến tranh, chúng ta cũng chiến thắng một cách dễ dàng. Toàn dân phải đồng tâm, hiệp lực và hoàn toàn tin tưởng vào Chánh phủ, giống như người khách đi trong xe taxi tin tưởng ở tài xế.» Câu ví của Tojo thật là gợi hình, dễ hiểu, nhưng rủi thay, ông đã chọn một hình ảnh có lẽ không thích hợp cho lắm, vì bất cứ ai từng có dịp đi taxi ờ Nhật đều nhận thấy tài xế lái bạt mạng, và nhiều khi không biết hành khách muốn đi đâu.

Với những lời lẽ như trên của Tojo trước công luận, các nhà ngoại giao Nhật đang thương thuyết tại Hoa thịnh đốn cho rằng ông Tướng này đã thiết lập một Chánh phủ hoàn toàn độc tài tại Nhật. Đối với thế giới, vừa trải qua cuộc chiến tranh do Hitler phát động với các khẩu hiệu «giành đất sống», «trật tự mới», «giòng giống chánh», bây giờ lại phải nghe thêm những lời lẽ khoa trương của Nhật như «Đại Đông Á đồng phát,» mọi người đều cảm thầy ghê tởm. Nhất là khi Tojo cho rằng Nhật có sử mạng lãnh đạo các dân tộc Á châu, thì không ai tin được vào thiện chí Hòa bình của họ. Bên trời Âu, cái gương «được đàng chân, lân đàng đầu» của Hitler ăn hiếp các nước láng giềng còn sờ sờ ra đó. Không có nước nào ở Á châu tin rằng Nhật muốn giúp họ trở nên thịnh vượng trong cuộc sống chung hòa bình.

Việc thành lập tổ chức chánh trị «Hiệp Hội Công Dân» dưới thời Thủ Tướng Konoye đã đưa nước Nhật tới chỗ quốc gia độc đảng. Thực vậy, hầu hết quân nhân, công chức và các nhân vật chánh trị đều là đảng viên của Hiệp hội Công dân. Những biện pháp cai trị độc tài lần lần được thành hình như : kiểm duyệt báo chí, hóa giá hàng,

phân phối nhiên liệu, ra sắc luật canh chừng, theo dõi những người bị gọi là thành phần «có tư tưởng nguy hại cho quốc gia.» Việc động viên toàn quốc được thực hiện triệt để. Công dân, thợ mỏ củng được võ trang để biến thành lực lượng nhân dân tự vệ.

Về y phục, đàn ông đua nhau mặc một kiểu áo cao cổ bốn túi nhà binh. Còn đàn bà thì tầy chay phong trào mặc theo lối đầm Tây, đầm Mỹ, nhưng họ không quay về với bộ áo truyền thống kimono vì cho rằng nó quá rườm rà, bất tiện. Ngược lại họ mặc một loại quần gọi là mompei, và áo kimono ngắn cũn cỡn ngang mông cho tiện việc trong xưởng thợ cũng như ngoài đồng áng.

Bà Thủ Tướng Tojo đứng ra thành lập Hội các bà mẹ yêu nước. Hội này nêu khẩu hiệu «người đàn bà có con là người đàn bà duyên dáng nhất» để phát động phong trào gia tăng mức sinh sản. Có lẽ Nhật cho rằng muồn bành trướng Đế quốc, cần phải có người thật đông nên không ngần ngại phát động phong trào đẻ thật nhiều trên đât. Tiêu chuẩn trung bình cho mỗi phụ nữ là phải sản xuất đủ bảy đứa con mới gọi là xứng đáng với tinh thần người phụ nữ yêu nước, Hội Phụ nữ yêu nước đứng từng nhóm phân phát truyền đơn, trương biểu ngữ tại các nhà ga, quyên tiền giúp chiến sĩ, tổ chức các cuộc vui hỗ trợ tinh thần động viên toàn quốc.

Phong trào bài Tây phương được đẩy mạnh. Dân chúng được chỉ dạy cách đề phòng người Tây phương làm gián điệp, ăn cắp tài liệu, bí mật quốc gia. Hiến binh bắt giữ một thông tín viên của Hãng tin Reuter. Sau đó cảnh sát cho biết ông này «tự tử» bằng cách nhảy từ lầu cao ba tầng xuống đất. Luân đôn cực lực phản đối vụ này, và chánh quyền Nhật trả lời,: «thông tín viên đó có những hoạt động gián điệp.»

Đài phát thanh và báo chí Nhật đua nhau tố cáo các hành động đàn áp dân thuộc địa một cách dã man của Anh và Pháp. Người Mỹ bị chửi về tội kỳ thị chủng tộc, màu da, Những môn thể thao phát xuất từ Tây phương, như môn choi golf đều bị tẩy chay. Trước đây Hoàng thân Konoye rất thích môn này và thường chơi với Đại sứ Mỹ, bây giờ cũng thôi. Những cuộc tiếp xúc chỉ còn hoàn toàn có tánh cách chánh thức, trong nghi lễ,

Phong trào Thần đạo được phát động và trở thành thứ quốc giáo, Các đạo trường được trợ cấp của Chánh phủ như công chức. Tại trường học, học sinh được giáo dục với tinh thần tuyệt đối thờ kính Thiên Hoàng, Sau mỗi buổi chào cờ đều có hát bài Suy tôn Thiên Hoàng. Trước mỗi buổi học, thầy trò đều họp tại Phòng Thiên Hoàng, với bức ảnh lớn của Nhật Hoàng, để bày tỏ các nghi thức tôn kính.

Lý thuyềt ái quốc cực đoan được giảng dạy tại các trường học. Lịch sử thần thoại về nguồn gốc dân tộc Nhật và nước Nhật được làm sống lại từ những chuyện Thái Dương Thần nữ tạo ra nước Nhật từ hai ngàn năm trước, và chuyện truyền kỳ của Tổ tiên cho rằng Bốn phương, Tám hướng trên thể giới cuối cùng đều hợp nhất tại Nhật dưới cùng một mái đình, Các trẻ em tiểu học đều tập quân sự với những súng cây nhỏ. Còn học sinh trung học thì được học quân sự do các hạ sĩ quan lục và hải quân dạy.

Không khí chuẩn bị chiến tranh bao phủ khắp nơi. Đi tới đâu, người ta cũng nghe thấy những tiếng hô «chiến sĩ muôn năm!» vang lên từ những đoàn quân hay học sinh đang học quân sự.

Thượng và Hạ viện cũng sặc mùi chiến tranh do những lời lẽ dao to búa lớn của những nhân vật chủ chiến, ái quốc cực đoan, quá khích như Hamada, Nakano. Hai nhân vật này được coi là những thành phần lãnh đạo đảng phát xít Nhật. Nakano đòi quân đội Nhật phải đánh thốc tới Singapore, thẳng sang vịnh Ba tư để bắt tay với đảng phát xít Đức. Shimada thì lớn tiếng cảnh cảo Mỹ hãy mau mau rút ra khỏi Thái bình dương để nhường chỗ cho nước Nhật tung hoành trong trận thánh chiến hoàn thành sứ mạng cao cả ở Â châu, nếu không người Mỹ sẽ phải gánh những hậu quả tai hại, vì lúc này Nhật đã «có con dao lớn trong tay.»

Các dân biểu và nghị sĩ hiếu chiến đến nỗi. theo lối một ký giả lúc đó thuật lại, Chánh phủ tương đối còn ôn hòa hơn.

Thiên Hoàng cũng như Ngài chưởng ấn Hoàng gia Kido đều muốn làm nổi bật lễ tân phong chức vị Thủ Tướng cho Tojo, và có ý ngầm bảo rằng ông ta được toàn quyền hành động với tất cả sự cho phép của Nhật Hoàng. Trước đó, Hoàng thân Konoye cố tâu cho Nhật Hoàng hay Hải quân không muốn có chiến tranh, nhưng không thể tuyên bố trong phiên họp Đại Hội Đồng Hoàng gia trước đây. Sau đó, Thiên Hoàng triệu Tojo tới, và ông này cam kết sẽ tìm mọi cách để kết hợp những hoạt động của Hải quân và Lục quân cho ăn khớp với nhau. Nhật Hoàng tỏ vẻ rất hài lòng về điều cam kết đó của Tojo. Ngài cho biết sẽ triệu Đô Đốc Oikawa tới để nhấn mạnh cho ông ta thi hành triệt để điều này. Ngài chưởng ấn Kido lại cho Tojo biết ông có bổn phận phải xem xét lại tình hình tổng quát trong nước, và không nhất thiết phải tuân theo nghị quyết của Hoàng gia trước đây trong phiên họp ngày 6 tháng Chín. Đó là ý muốn của Thiên Hoàng.

Tojo trình lại là ông đã cam kết thực hiện điều đó với Thiên Hoàng. Hải quân và Lục quân hiên đã nhất tâm, hợp tác chặt chẽ với nhau. Nhưng sự thực là những lời cam kết của Đô Đốc Oikawa, cam kết và bảo đảm với Tojo, không hoàn toàn có giá trị tuyệt đối, vì lúc này Oikawa với chức vụ Hội Viên Hội Đồng Tối cao chiến tranh, không còn trực tiếp chỉ huy Hải quân nữa. Nhưng thực quyền hiện nằm trong tay Đô Đồc Yamamoto, chỉ huy liên hạm đội Thái bình dương, và Đô Đồc Nagano, Tổng Tham mưu trưởng Hải quân. Ông này đang tính từng ngày cho tới lúc số dầu dự trữ của Hải quân bị hết hoàn toàn.

Vói sự cho phép của Nhật Hoàng, Tojo cho rằng ông có quyền dời kỳ hạn chót để quyết định hòa bình hay chiến tranh tới ngày 30 thảng Mười thay vì ngày 15 như đã định trước đây. Do đó, những cuộc dàn xếp tại Hoa thịnh đốn đước lệnh tiếp tục cho tới ngày 30.

Tất cả những thay đổi đó hình như khiến cho Tojo trở nên khó chịu. Đối với ông ta lúc này, tất cả những gỉ có tánh cách cản bước tiến của chiến tranh đều làm ông không bằng lòng. Theo sự quan sát của bà Tojo trong thời kỳ này thì chồng bà luôn luôn cáu kỉnh. Sự đe dọa và phong tỏa kinh tế của Mỹ đối với Nhật, Tojo cho là một hành động dã man. Chắc chắn là Mỹ muốn Nhật rút khỏi Trung Hoa. Nhưng điều đó, theo Tojo, không bao giờ Nhật chịu lùi bước. Nếu Mỹ đòi hòi các vấn đề khác thì ông có thể cứu xét được, chớ rút khỏi Trung Hoa thì nhất định không.

Rồi kỳ hạn 30 tháng Mười qua đi mà vẫn chưa có quyết định gì về chiến tranh. Lúc này kế hoạch tấn công của Bộ chỉ huy Tối cao Nhật kể như đã sẵn sàng, chỉ còn chờ một mệnh lệnh là có thể phóng ra. Hai ngày sau đó Tojo tuyên bố trên đài phát thanh : «Đất nước đang trải qua những giờ phút nguy nan nhất trong lịch sử.»

Tojo nhận định danh dự nước Nhật đang bị thử thách trước trách nhiệm trong vùng Đông Á. Dù muốn dù không Nhật phải hoàn thành sứ mạng trong Cộng đồng Đại Đông Á. Ông cảnh cáo quốc dân : «con đường của dân tộc đang tiến tới, không phải đầy hoa hồng, nhưng có rất nhiều chướng ngại vật do địch liệng ra.» Khi Tojo đọc bài diễn văn này thì Chánh quyền Anh tại Thượng Hải thông báo cho kiều dân Anh hãy tới ghi tên để được đưa về nước trong vòng mười hai ngày. Quá thời hạn này, những ai chưa ghi tên sẽ coi như có ý định ở lại đó luôn. Trong tương lai khó thể thực hiện được một cuộc di tản như vậy khi các biến cố nghiêm trọng xảy ra. Lệnh trên đây cũng được Chánh phủ Mỹ ban hành cho kiểu dân Mỹ tại đó.

Trong một phiên họp giữa các Tướng lãnh thuộc Bộ Tư Lệnh Tối cao và Nội các vào ngày 2 tháng Mười Một, haỉ vị Tổng Trưởng ngoại giao Togo và Tổng trường tài chánh Kaya đã đặt cân hỏi : Liệu Nhật có nên chờ thêm để đợi các biến chuyển của tình hình quốc tế trở nên thuận lợi cho quốc gia hơn, ngay cả trường hợp cuộc dàn xếp với Mỹ hiện nay bị thất bại, trước khi phát động chiến hay không ? Tham mưu trưởng Hải quân, Đô Đốc Nagano trả lời : Nếu đợi lâu quá cuối tháng Mườỉ Một thì Nhật Bản không cần đánh cũng tự nhiên phải đầu hàng. Ông ta hoàn toàn tin tưởng vào kế hoạch tấn công của Hải quân. Đại diện Lục quân còn hăng hơn nữa. Các Tướng lãnh này cho rằng phải mau mau tấn công trước khi Anh và Mỹ kịp thời tăng cường lực lượng của họ tại Viễn Đông. Tojo đúc kết lập trường của quân đội lúc này là «thà đánh để phá vòng vây, còn hơn cứ khoanh tay ngồi chờ chết. Lúc này không còn cách nào khác hơn là phải liều, họa may tìm được một con đường sống.»

Hôm sau Tojo tâu lên Thiên Hoàng, những nỗ lực dàn xếp với Mỹ vào giờ chót đang được thực hiện. Nhưng nếu thất bại thì Nhật Bản bắt buộc bị dồn vào chỗ phải phát động chiến tranh. Theo lời Tojo thuật lại thì Thiên Hoàng ban chỉ dụ nếu không còn con đường nào khác hơn thì cứ chuẩn bị chiến tranh. Nhưng trong khi chờ đợi, hãy tìm hèt cách để dàn xếp với Hoa Kỳ theo đúng nguyên tắc «còn nước, còn tát.»

Ngày 5 tháng Mười Một, Bộ Ngoại giao Nhật gửi một chuyên viên giàu kinh nghiệm ngoại giao là ông Saburo Kurusu bay gấp tới Hoa thịnh đốn để giúp Đại sử Nomura trong các cuộc dàn xếp với Hoa Kỳ. Nomura đã hai ba lần xin từ chức, và chỉ lưu lại nhiệm sở vì sợ rằng trong lúc gay go này, việc trở về nước của ông sẽ gây ra những ngộ nhận cho cả hai phía Nhật-Mỹ. Việc gởi chuyên viên ngoại giao Kurusu tới Hoa thịnh đốn chỉ trước trận đánh Trân châu cảng có vài tuần khiến sau này Hoa Kỳ cho rằng đó là một đòn gián điệp có ý đánh lạc hướng đề phòng của Mỹ. Nhưng nều quả thực đó là một chuyện đánh lừa của Chánh phủTojo thì tại sao nước Mỹ lại có thể rơi vào một cạm bẫy như vậy ? Ngay từ năm 1933, Đại sứ Mỹ ở Nhật là ông Grew đã nhiều lần trình lên Chánh phủ Mỹ rằng trong tương lai những cuộc xung đột giữa Mỹ và Nhật ở Viễn Đông khó thể tránh được. Năm 1940, Đại sứ Grew trong báo cáo về Hoa thịnh đốn có viết: «Ngoại trừ Hoa Kỳ rút ra khỏi vùng Đại Đông Á của Nhật, nếu không thì không thể nào tránh được một cuộc xung đột với Nhật Bản.» Rõ ràng hơn thể nữa, trước khi trận Trâu châu cảng xảy ra một tháng, Đại sứ Grew đã trình cho ngoại trưởng Mỹ hay, một nhà ngoại giao Peru có cho tin rằng một viên chức Nhật có tiết lộ với ông trong trường hợp xảy ra chiến tranh, Nhật Bản sẽ mở một trận tấn còng bất ngờ vào Trân châu cảng. Đạì sứ Grew trình thêm rằng mặc dầu tin này có vẻ táo bạo, nhưng ông đã phối kiểm với nhiều nguồn tin khác và thấy có thế tin được, nên vội vàng trình cho Bộ ngoại giao hay.

Rõ ràng hơn nữa, những nguồn tin tình báo đã biết chắc thế nào Nhật cũng sắp sửa tấn công. Từ lâu, Hải quan Mỹ đã tìm được cách mở các khóa mật mã của những điện văn do Nhật đánh đi, nên đọc được rất nhiều tin tức thuộc loại mật. Chính nhờ vậy mà tháng 7 năm 1941, tình báo Mỹ đã cho Chánh phủ Churchill của Anh biết trước: những cuộc điều động của Hải quân Nhật về phía Nam để chuẩn bị tấn công các thuộc địa của Anh. Trong lúc Kurusu tới Hoa thịnh đốn thì tình báo Mỹ bắt được điện văn của Chánh phủ Nhật gởi cho Đại sứ Nhật tại Hoa thịnh đốn là Đổ Đốc Nomura, bảo hãy đình chỉ các cuộc thương lượng với Hoa Kỳ.

Không biết việc gởi Kurusu đi Hoa thịnh đốn có phải thực là cái bẫy hay không, nhưng cùng ngày hôm ông ta lên đường, ngày 5 tháng Mười Một, Thủ Tướng Tojo trong cuộc yết kiến Thiên Hoàng đã tâu rằng Nhật đang chuẩn bị để phát động chiến tranh sau ngày 30 tháng Mười Một. Lệnh di chuyển tới vị trí chiến đấu đã được Đô Đốc Yamamoto chỉ thị cho các hạm đội Nhật nhằm tấn công Mỹ, Anh và Hà Lan. Ngày 10 tháng Mười Một, trong lúc Kurusu đang được Tổng Thống Mỹ tiếp kiến thì các lực lượng tấn công của Nhật đã sẵn sàng đánh vào hạm đội Mỹ tại Thái bình dương.

« Lùi
Tiến »