Vào khoảng tám giờ sau khi trận Trân châu cảng xảy ra, một chiếu chỉ của Nhật Hoàng được công bố cho toàn thể dân chúng Nhật biết trận thử thách lớn nhất trong lịch sử dân tộc đã xảy ra, Tờ chiếu viết như sau :
«Nhờ Hoàng Thiên và hồng đức của Tổ Tiên, Trẫm là Thiên Hoàng nước Nhật, ngồi trên ngai vàng, nối ngôi Tiên Đế từ ngàn xưa truyền lại, ngày hôm nay long trọng tuyên chiến với Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, và Đế quốc Anh cát lợi, Những quốc gia này từ lâu đã có tham vọng đô hộ Á châu, bất kể những lời khuyên can qua đường lối và phương tiện ngoại giao của Nhật Bản, Ngoài ra, hai nước này ngày nay lại có nhiều hành động đe dọa nền an ninh của nước Nhật. Vì sự sống còn của dân tộc, nước Nhật buộc lòng phải xử dụng đến những phương tiện chiến tranh...»
Những chiếu chỉ của Nhật Hoàng đọc trong các dịp này thường thường chỉ là một thông lệ, có tánh cách nghi lễ cũng giống như bài diễn văn Vua nước Anh đọc khi khai mạc Thượng viện, không bao giờ phản ảnh trung thực ý nghĩ thực sự của Nhật Hoàng. Tuy nhiên, lần này, trong câu cuối cùng của chiếu chỉ, người ta thấy Ngài đã thực sự gởi gắm tâm sự của mình trong đó ;
«Chiến tranh cuối cùng buộc lòng phải xảy ra, mặc dầu lòng Trẫm không bao giờ muốn như vậy. Vì danh dự và sống còn, Nhật Bản phải rút gươm, đọ sức với Anh,
Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, Tổng Thống Roosevelt nói trước Thượng viện : «Trận đánh bất ngờ, không tuyên chiến trước của Nhật, đã xảy ra vào một ngày sẽ còn được ghi nhớ mãi mãi trong lịch sử. Thực là một hành động ô nhục. Nhưng sự thực là như vậy, chúng ta đang phải đương đẩu với một cuộc chiến tranh lối mới theo khuôn mẫu của Đức quốc xã. Chúng ta không bao giờ muốn dây dưa vào một cuộc chiến bẩn thỉu như thế này, chúng ta không khiêu khích, không tạo ra, nhưng giờ đây chúng ta đã mắc vào giữa cuộc chiến đó, và chúng ta sẽ chiến đấu với tất cả sức mạnh chúng ta hiện có trong tay. »
Thủ Tướng Churchill tuyên bố tại Hạ viện : «Tất cả những mánh lới gian giảo của dân Nhật đang được xử dụng để chống lại chúng ta. Nhưng dù sao chúng ta cũng còn may mắn, là lúc này nước Anh không còn ở vào thế yếu như thời kỳ sau trận Dunkirk hay vào những ngày trong năm 1940.»
Trong phiên họp đặc biệt tại Quốc hội Hitler lên tiếng tố cáo : «Tâm trí bênh hoạn của Roosevelt đã cồ tình lôi cuốn Nhật Bản vào chiến tranh. Đồng minh của nước Đức tại Viễn Đông vừa giáng cho bọn Mỹ một đòn chí tử, vì chúng đã có những hành động bẩn thỉu.» Và tại Ý Mussolini đứng trên bao lơn của điện Pahzzo Venecia tuyên bố với đám đông đang hoan hô nhà độc tài ở bên dưới: «Hôm nay là một ngày quan trọng đáng ghi nhớ trong lịch sử nước Ý. Đồng minh của chúng ta tại Á châu vừa giáng lên đầu kẻ thù chung một đòn đích đáng. Từ nay những chiến sĩ của xứ Mặt Trời mọc sẽ cùng sát cánh với nước Ý chiến đấu.»
Sau khi thông điệp của Nhật Hoàng được tuyên đọc, Thủ Tướng Tojo tuyên bố trên đài phát thanh : «Nhật Bản luôn luôn có những hành động ngăn cản chiến tranh. Nhưng trong lịch sử 2600 năm nay của Nhật, chúng ta chưa bao giờ thất trận. Tôi đoan chắc với mọi người chiến thắng cuối cùng sẽ về tay chúng ta.»
Mặc dầu báo chí và đài phát thanh từ lâu đã tiên đoán một cuộc đụng độ sẽ xảy ra giữa Nhật và Mỹ, người dân Nhật hình như rất lấy làm ngạc nhiên, hơn cả những người Mỹ, trước trận đánh bất ngờ tại Trân châu cảng. Họ đón nghe từng giờ, từng phút các bản tin chiến thắng của quân đội trên đài phát thanh. Kèm theo những tin chiến thắng là các bản nhạc hùng được cho phát thanh đã nâng cao tinh thần binh sĩ đến tột độ. Nhiều bài hùng ca từ thời Minh Trị, trong dịp chiến thắng trong trận đánh Nga - Nhật năm 1905, lại được hát vang lên khắp nơi. Một bản dân ca nhan đề «Boku no Tojo» (Tojo của chúng ta) cũng được phổ biến. Ở trường học, đường phố, thôn quê, đâu đâu dân chúng cũng nô nức với các tin chiến thẳng. Sự phấn khởi dâng cao, tràn ngập khắp nơi.
Tờ Nhật Bàn Thời Báo viết rằng chỉ trong một buổi sáng, Hải quân Mỹ tại Thái binh dương đã bị hạ xuống hạng ba. Hiện nay, quân thủ đang run rẩy, lúng túng, chưa biết làm gì. Sự quỵ ngã của Anh Quốc tại Bỉ, Hòa Lan, Tiệp Khắc, Ba Lan và Pháp, bây giờ lại lôi Hoa Kỳ té theo tại Viễn Đông. Phát ngôn viên của. Hải quân Hoàng gia Nhật là Đại úy Hirade tuyên bố : Toàn thể binh sĩ Hải quân đang nôn nóng được ra trận. Ông ta cũng đưa ra lời tiên đoán khi được phỏng vấn trên đài phát thanh, rằng đến nông nỗi này, Mỹ chỉ còn một cách là đầu hàng. Những biến chuyền trên chiến trường những tuần lễ sau đó cho thầy lời tiên đoán của ông ta không phải là vô lý.
Trong vòng 48 giờ sau khi trận đánh Trân châu cảng xảy ra, quân Nhật lần lượt đánh chiếm Mã Lai, Phi Luật Tân, Hồng Kông và những đảo của Mỹ tại Thái bình dương. Đâu đâu quân Nhật cũng chiến thắng một cách dễ dàng, với kế hoạch đã được hoạch định tỉ mỉ chu đáo từ trước. Hình như không còn một sức mạnh nào có thể ngăn nổi bước tiến của các chiến sĩ xứ Mặt Trời mọc.
Hồng Kông vừa được tăng cường các toán quân Gia Nã Đại và Ấn Độ, bị Nhật tấn công vào ngày 8 tháng Chạp. Quân Nhật từ Trung Hoa tràn ngập Kowloon, vượt qua eo biển hẹp đổ bộ lên Hồng Kông. Ngày 25 tháng Chạp, sau khi đài phát thanh Tokyo kêu gọi các binh lính Anh trú phòng tại Hồng Kông đang chiến đấu can đảm hãy đầu hàng vì cuộc chiến đấu này vô ích, viên Toàn quyền người Anh được các cố vấn quân sự hải và lục quân cho biết không còn cách gì chống cự, đã xin đầu hàng quân Nhật.
Tại đảo Wake, một căn cứ quân sự của Mỹ, hai chiến đấu cơ trong tổng số 12 chiếc đã bay thoát lên được và chạy trốn. Những chiếc còn lại bị quân Nhật phá hủy trên mặt đất. Sau khí bắn nhau với các máy bay Nhật một cách anh dũng, hai chiếc này rốt cuộc cũng bị bắn hạ, và sau đó quân Nhật đổ bộ lên đảo. Bốn trăm Thủy quân lục chiến Mỹ sau 14 ngày chiến đấu anh dũng, cuối cùng đã bị quân Nhật tràn ngập sau những trận pháo kích kinh hoàng.
Tại Mã Lai, quân Nhật khơi sự tấn công sáng sớm ngày 8 tháng Chạp, Khi những trận đánh bắt đầu, hai chiến hạm tối tân có hỏa lực hùng hậu của Anh là chiếc “Prince of Waíes» và chiếc «Repulse» từ ngoài khơi tiến vào tấn công các quân vận hạm và tàu đổ bộ của Nhật. Vì không có phi cơ hộ tống, nên hai chiến hạm Anh nhờ vào các đám mây bao phủ bên trên để lần trốn. Nhưng qua một lỗ hở của màn mây, phi cơ trinh sát Nhật đã tìm thấy hai chiến hạm này ; lập tức các máy bay thả thủy lôi đặt căn cứ ở Đông Dương, cách đó 400 dặm, được gọi tới đế tấn công tàu Anh. Phi cơ Nhật đánh rất trúng đích bằng nhiều đợt oanh tạc và thả thủy lôi.
Sau khi mất hai chiến hạm này, quân Nhật tự do đổ bộ lên bờ biển Mã lai, đầy lui quân trú phòng đang cố lập một phòng tuyến chống đỡ, nhưng không thực hiện nổi. Cuộc hành quân phổi hợp của địch với máy bay yểm trợ đã đẩy quân Anh lần xuống phía cuối của bán đảo và sau cùng ngừng lại tại Singapore. Trung Tướng Percival, chỉ huy liên quân Anh, Ấn và Mã, tuyên bố : « Trận Mã lai như vậy là xong. Bây giờ là Singapore, chúng ta phải cố giữ để chờ viện binh tới.»
Từ ngày 1 tháng Giêng năm 1942, những cuộc pháo kích dữ dội của quân Nhật từ đất liền bắn tới. Phần lớn nhằm vào phi trường, vì có một số máy bay vẫn còn hoạt động.
Sau đó, truyền đơn từ trên không rót xuống loan tin : quân Mỹ đã xin thương thuyết; và hỏi các binh sĩ Anh, tại sao các bạn chịu khổ cực ở rừng Mã lai đầy muỗi này chỉ để phục vụ cho bọn quý phái ở Anh quốc ?
Một tuần sau đó, quân Nhật vượt qua eo biển hẹp Johore tấn công Singapore với những đơn vị thiện chiến nhất, trong đó có cả một toán quân tinh nhuệ thuộc ngự lâm quân của Nhật Hoàng. Quân Nhật cứ việc tiến bừa lên bất kể các tổn thất. Ngày 15 tháng Hai, gần hai tháng sau khi các trận đánh tại Mã lai bắt đầu, và trước kỳ hạn Bộ Tham mưu Nhật dự định cho chiến dịch đánh chiếm địa phương này một tháng, Tướng Percival xin đầu hàng với một trại quân 60.000 binh sĩ. Thế là căn cứ lớn nhất của Anh tại Đông Nam Á bị mất Những họng súng lớn của quân Anh đặt dọc theo bờ biển Singapore vẫn còn đó, chưa bắn một phát nào. Họ tưởng sẽ bị tấn công từ mặt biển, nhưng không ngờ quân Nhật lại đánh từ phía đất liền. Trong số hơn sáu chục ngàn binh sỉ đầu hàng, có nhiều người thuộc các đơn vị tăng cường cho bán đảo này mới được gởi tới từ lúc các trận đánh khởi sự.
Tại Hạ viện Anh, Thủ Tướng Winston Churchill tuyên bố : « Đêm nay là đêm chiến thắng của quân Nhật. Nhưng rồi, một ngày kia, chúng sẽ thua một cách đau đớn.» Tướng Tojo xuất hiện tại Quốc hội Nhật cùng với các dân biểu hô lớn ba lần « Banzai » (chiến sĩ muôn năm) và tuyên bố, với việc chiếm xong Mã lai, từ nay vùng Đông Nam Ấ hoàn toàn nằm gọn trong tay Nhật. Ông đề nghị chọn ngày hôm sau làm « Ngày chiển thắng tại Mã lai. » Nhật báo Kokamin tường trình các trận đảnh ở Singapore cho rằng tới đây quân Nhặt mới tiến được nửa đường. Còn phải đi thêm nữa để hợp tác với các đồng minh của Nhật tại Âu châu về cả hai phương diện quân sự và kinh tế. Sau một thời gian ngắn kể từ lúc Nhật tham chiến, triển vọng Đức và Nhật sẽ gặp nhau tại vịnh Ba Tư rất có thể diễn ra như lời Shigemitsu tiên đcán trước đây. Số phận của Tân Tây Lan và Úc đại lợi hầu như đã được định đoạt; không thể nào thoát khỏi tay Nhật. Tojo cảnh cáo hai nước đó, đừng trông mong vào sự cứu giúp của Anh và Mỹ nữa. Giờ đây an ninh của hai quốc gia này tùy thuộc vào thái độ hiểu biết của họ đối với Nhật Bản.
Nước Nhật từ nay trở đi được đổi lại là Dai Nippon có nghĩa là Đại Nhật Bản. Mã lai cũng được đổi là Shonan, có nghĩa : « Ánh sáng Miền Nam. » Tương tự như vậy tất cả các thuộc địa của Tây phương trước kia mang tên Anh và Pháp đều được đổi lại bằng tên Nhật. Tiếng Nhật từ trước tới nay có xen lẫn chừng một ngàn những tiếng nguyên là Anh ngữ, nay bị cấm xài các danh từ đó; vì cho rằng như vậy là thiều tinh thần ái quốc, bất xứng đối với danh dự của Tổ quốc.
Đối với quần đảo Đông Indies tại Thái bình dương; nơi có nhiều dầu rất cần cho Nhật trong lúc này; Nhật không khai chiến vội; vì có ý chờ viên Toàn quyển Hòa Lan ở đây tỏ ra hiểu biết, noi gương viên Toàn quyền người Pháp ở Đông Dương, tự ý đem trao cho Nhật. Nhưng chờ mãi, viên Toàn quyền người Hòa Lan, quê quán hiện đã nằm dưới sự kiểm soát của Đức quốc xã, vẫn không thấy hành động nhượng bộ, hơn thế ông còn tham chiến với Anh để chống lại quân đội Nhật ở Mã lai, nên buộc lòng Nhật phải hành động vào tháng Giêng năm 1943. Nhật rất thận trọng vi sợ các cơ sở lọc đẩu tại đây bị phá hoại.
Ngày 27 tháng Hai, Đô Đốc Doorman, người Hòa Lan, cầm đầu một Hạm đội hỗn hợp gồm nhiều chiến hạm của Anh, Úc, Mỹ và Hòa Lan tuần tiễu xung quanh các đảo chánh, và thình lình nhận thấy một hạm đội khổng lồ của Nhật đang tiến tới gần đảo Java. Mặc dầu lực lượng chênh lệch rất nhiều so với Hạm đội địch, tổng số lên tới gần một trăm tàu lớn, nhỏ, nhưng Đô Đốc Doorman vẫn xáp vào hỗn chiến. Phi cỡ Nhật lập tức can thiệp, nhào lộn trên không hướng dẫn cho hải pháo bạn, và thả thủy lôi tiêu diệt các chiến hạm địch. Sau hai ngày rưỡi chiến đấu tuyệt vọng vì thiếu không trợ, Hạm đội của Đô Đốc Doorman bị đánh tan. Thanh toán xong lực lượng này, quân Nhật tự do đổ bộ lên bờ biển, đầy lui quân trú phòng một cách dễ dàng. Đồng thời lính dù Nhật bất thần nhảy xuống giữa các xưởng lọc dầu, chiếm đóng ngay mọi cơ sở, vì vậy các nhà máy không bị phá hủy, hầu như vẫn còn nguyên vẹn.
Ngày 12 tháng 3 năm 1942 được chọn làm Ngày Chiến Thắng Thứ Hai của quân đội Nhật khi họ chiếm xong Nam Dương (Đông Indies) và Miến Điện. Quân Nhật từ Thái Lan tiến vào Rangoon, Thủ đô của Miến, đánh tan quân Tàu do Tướng Mỹ Stilwell chỉ huy để cố giữ đường xe lửa Ngưỡng quang tiếp tế cho Tưởng Giới Thạch. Thái Lan thoát khỏi chiến tranh, vì xứ này khôn ngoan tự đặt mình dưới quyền bảo hộ của Nhật. Tojo được Vua Thái ban thường Huy chương cao nhất nước, đó là 3 Bạch Tượng Bội Tinh. »
Quân Nhật bắt đầu gặp sức chống cự mạnh kể từ lúc Tướng Alexander của Anh được gởi sang mặt trận Miến Điện. Viên Tướng Anh này sau trở nên sáng chói tại mặt trận Trung Đông và Ý đại lợi, với những chiến công rực rỡ. Thành phố Mandalay, mãi ngày 6 tháng 5 năm 1942, quân Nhật mới lấy được. Báo chí Nhật thuật lại quang cảnh thành phố, chỉ còn là một đống gạch vụn. Anh sợ Nhật thừa thẳng xông lên đánh thẳng sang Ấn độ, nhưng may là họ đã ngừng lại tại Assam, một vùng ở biên giới Ấn Miến. Quân Nhật ngừng lại không phải vì sức chống cự của quân Anh, nhưng vì tương đối họ đã tiến quá xa và quá nhanh, nên các phương tiện tiếp liệu, liên lạc không thiết lập kịp. Thời giờ lúc này là vàng bạc, quân Anh lợi dụng để tăng cường, củng cố lại hạm đội Viễn Đông của họ đặt căn cứ ở Tích Lan, và chuẩn bị đẩy lui quân Nhật nếu đánh sang An.
Mặc dầu sau khỉ chiếm xong Miến Điện, Thủ Tướng Tojo khoe khoang từ nay Tường Giới Thạch hết trông mong vào đồ tiếp tế của Tây phương, nhưng trên thực tế Mỹ vẫn dùng máy bay, bay ngang qua Hy mã lạp sơn để thả đù tiếp liệu cho quân Tàu, Mặt trận Phi Luật Tân kéo dài với sự chống cự mãnh liệt của Tướng MacArthur và quân địa phương tại các pháo đài ở Corregiđor, chận đường quân Nhật tiến tới Manila, Thấy dằng dai đã hơn ba tháng trời mà vẫn chưa chiếm xong Phi luật tân, Bộ Tư lệnh Viễn Đông của Nhật liền gởi Tướng Yamashita, nổi danh là « con cọp Mã lai » tới. Với những mũi dùi tấn công mãnh liệt vào các pháo đài của quân Mỹ - Phi bằng xe tăng, Cuối cùng các pháo lũy tại Corregidor lần lần phải sụp đổ. Được lệnh chạy về Úc đại lợi, MacArthur đang đêm phải đưa vợ con xuống một chiếc thuyền máy âm thầm bỏ trốn, để lại Tướng bộ hạ là Wainwright cầm cự được ngót một tháng nữa thì bị quân Nhật bắt sống.
Trang nhất của các nhật báo tại Tokyo không ngớt loan tin chiến thắng bên cạnh chiếu chỉ tuyên chiến của Nhật Hoàng được in lại hàng ngày. Chiếm xong Phi luật tân, báo chí Nhật viết : « Suốt vùng Đông Nam Á bây giờ mặt đất đã rung chuyển dưới gót giày của quân đội Thiên Hoàng, và không trung đầy dẫy phi cơ của không quân Hoàng gia Nhật » Những lời khoe khoang đó không phải là bịa đặt. Quả thực, quân đội Nhật đã hoàn thành một cuộc chinh phục vĩ đại ở Viễn Đông và Thái bình dương. Tất cả các quần đảo Solomons, New Britain, và một phần lớn Tân Guinea đã lọt vô tay họ. Quân Nhật cũng đã chiếm suốt một vùng chạy dài từ phía Bắc Miến Điện xéo qua hải cảng Akyab ở phía Tây, quần đảo Andaman, toàn vùng Nam Dương, một phần phía Bắc Tân Guinea thuộc Úc, đảo Solemons, Gilbert, và quần đảo Marshall, cho tới đảo Wake và cuối cùng là quần đảo Aleutians, chỉ cách Alaska có một khoảng đường ngắn.
Nhật tha hồ khai thác tài nguyên và nhiên liệu ở những vùng đầt rộng lớn đã chiếm đóng, để bảo đảm nguồn tiếp tế cho kỹ nghệ của mình càng ngày càng trở nên giàu mạnh. Câu hỏi đặt ra cho các Tướng lãnh và chánh khách Nhật lúc này là liệu họ có tiến xa hơn nữa từ những vùng đó hay không ?