Tojo Người Hùng Thái Bình Dương

Lượt đọc: 1306 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VIII

Cảm tưởng cho rằng giữa Trung Hoa Và nước Nhật cần phải có sự liên hệ, hợp tác chặt chẽ, luôn luôn được nêu lên trong chánh giới ở Nhật. Ngay cả thời kỳ có sự thù nghịch cao độ nhất giữa hai nước — thời gian 1894 — nhiêu chánh khách Nhật vẫn cho rằng có thể cải thiện mối bang giao Hoa - Nhật bằng cách làm cho người Trung Hoa hiểu được rằng họ cần phải có sự giúp đỡ của nước Nhật.

Tình hình lúc này cho thấy những lý luận trên có vẻ đúng. Thị trường của Nhật đang bị các nước Âu châu cạnh tranh ráo riết ở khắp nơi, và Trung Hoa lại phát động phong trào tẩy chay hàng hóa Nhật khiến kinh tế Nhật càng lâm vào cảnh khốn đốn. Triển vọng giảng hòa với Trung Quốc tại Mãn châu để vừa cứu vãn được thị trường nước Tàu, vừa bớt gánh nặng ngân sách cho đạo quân viễn chinh lại được sáng giá. Từ tháng 7 năm 1929, Thủ Tướng Hama- guchi, cầm đầu Chánh phủ, bắt đầu một chánh sách thân thiện với Trung Hoa. Và sau đó có tin của chánh phủ Trung Hoa Dân quốc từ Nam Kinh cho hay đang chuẩn bị những cuộc thảo luận về vấn đề này.

Dư luận Nhật có nhiều nơi nổi lên chống lại việc làm này của Thủ Tướng Hamaguchi, không những trong chánh giới mà cả ở nhiều giới khác. Họ đòi hỏi Chánh phủ phải bảo đảm người Tàu đã hoàn toàn quên đi những mối hận do Nhật gây ra và tha thứ cho Nhật. Nếu không thì làm sao có thể thân thiện được ?

Một lý luận chống đối việc cải thiện bang giao với Trung Hoa nguy hiểm hơn nữa là lý luận của bọn ái quốc quá khích, căn cứ vào những huyền thoại cổ xưa cho rằng nước Nhật có sứ mạng cao cả cầm đầu Á châu. Những kẻ nào đi ngược lại đường lối đó là bọn phản quốc, Luận cứ như vậy được tuyên truyền công khai và bí mật trong quần chúng Nhật.

Đảng Hắc Long do Mitsuru Toyama cầm đầu ngấm ngầm hỗ trợ cho chiến dịch tuyên truyền này, Toyama là lãnh tụ của những nhóm cực đoan, và tổ chức của ông ta được lập từ thời Minh Trị, liên lạc nhiều với các viên chức cao cấp trong Chánh phủ Nhật. Vậy mà không biết vì lý do gì ông ta không bị đem xét xử trước tòa án tội phạm chiến tranh. Tổ chức Hắc Long chuyên môn ám sát những nhân vật nào chống đối chánh sách bành trướng Đế Quốc Nhật vào lục địa châu Á, cho tới tận bờ sông Amur.

Giữa những nhóm cực đoan đó, xuất hiện một nhân vật nửa đùa, nửa thật, đó là Bác sĩ Shumei Okawa. Ông ta là tác giả của cuốn « Hổ Thư » — sách của ông Cọp — giống như một loại kinh thánh, nói về nguồn gốc thần bí và các sứ mạng cao cả của dân tộc Nhật Bản. Trước đây ông ta được Công ty xe lửa Nam Mãn châu tài trợ đi Mãn châu để thực hiện một cuộc nghiên cứu cho chánh sách tuyên truyền của công ty. Khi về nước, ông ta tiếp tục được tài trợ dồi dào để tiếp tục làm việc đó.

Thêm vào đó một nhân vật thứ hai nữa, là Thiếu tá Kingoro Hashimoto, làm tùy viên quân sự ở Thổ nhĩ kỳ vừa trở về nước, sau này trở thành Đại Tá. Ông này bị ám ảnh bởi những công việc cải cách của nhà lãnh tụ Thổ Kemal Ataturk với những tổ chức « Thanh niên Thổ » và muốn rằng Nhật cũng phải có những tổ chức tương tự như vậy. Hashimoto cho rằng chánh quyền dân sự quá yếu, cần phải có một chánh phủ mạnh do quân nhân nắm quyền, để thực hiện những công việc vĩ đại, biến nước Nhật trở thành cường quốc lãnh đạo Á châu. Ông ta lập ra một hội gọi là « Hội Anh Đào » để kết nạp những người đồng chí hướng với minh. Nhiều nhân vật tai mắt trong chánh giới đã có chân trong hội này, như Bác sĩ Okawa, đã giữ liên lạc chặt chẽ với Hashimoto trong nhiều năm. Hội Anh Đào quy tụ một số các sĩ quan cùng xuất thân ở Trường Tham mưu trong tinh thần đồng chí rất thắm thiết. Những sĩ quan này sau đó đều nắm nhiều chức vụ then chốt trong đạo quân Kwangtung ở Mãn châu.

Tình hình Mãn châu lúc này khiến công việc cải thiện bang giao giữa Hoa và Nhật không tiến triển được chút nào. Trước hết là kể từ khi chiến tranh xảy ra năm 1905, nhiều nỗ lực phát triển và đầu tư đã đổ vào vùng đất này số tiền quá lớn. Công cuộc phát triển kỹ nghệ đã được thành lập với hàng ngàn gia đình Nhật đi cư tới. Nhiều xí nghiệp công đã được thiết lập, tiêu biểu nhất là đường xe lửa Nam Mãn Châu. Chủ tịch Công Ty này là một nhân vật quan trọng. Ông hành động độc lập, hầu như bất kể tới các viên chức lãnh sự do Chánh phủ ở Tokyo bổ nhậm. Những người đã tới lập nghiệp ở Mãn Châu hy vọng vào sự phồn thịnh tương lai của vùng đất mới này, chủ trương Mãn Châu không thể nào tách rời khỏi Nhật Bản. Những người này thuộc giới thợ thuyền cũng có, và cả binh sĩ nữa. Sau hơn một phần tư thế kỷ chiếm đóng và củng cố tình trạng an ninh tại đây, họ có cảm tưởng như xứ này đã trở thành một thuộc địa vĩnh viễn của Nhật.

Phía Nga sô lúc này do Stalin Cai trị, còn đáng sợ hơn gặp mấy lần các Nga hoàng trước, vì ông ta là con người tàn bạo không ai bằng. Chánh quyền Sô viết đã lập một đạo quân khổng lồ ở phía Bắc Mãn châu, gọi là Lộ quân Viễn Đông. Nhưng quân lính Nga lại không nguy hiểm bằng những cán bộ cộng sản, mà Nga gởi đi từ Mạc tư khoa tới khắp vùng Viễn Đông, hợp với các phần tử cách mạng địa phương để phá hoại chánh sách cai trị của Nhật. Nhật đặc biệt quan tâm tới sự kiện Nga đã gởi những chuyên viên quân sự tới giúp Thống Chế Tưởng Giới Thạch và Chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc. Nhật sợ rằng sự trợ giúp đó chắc chắn rồi đây sẽ đưa tới một ảnh hưởng sâu rộng, và Nga sẽ thống trị Trung Hoa. Nhưng sự thực sau này cho thấy người Tàu không hề bị ảnh hưởng bởi sự thi ân đó của Nga.

Về phía người Trung Hoa, phe quốc gia cũng như phe nổi loạn, đều đẩy mạnh áp lực đòi Nhật phải trả lại Mãn châu. Những áp lực này gia tăng mạnh mẽ khi Tưởng giới Thạch thanh toán xong gần hết các sứ quân, và tiến tới sào huyệt của Chang Tso-lin. Trên giấy tờ, viên tướng cáo già này vẫn còn được coi là Tổng đốc Mãn châu của Trung Hoa. Một số lớn quân Tàu vẫn còn hiện diện tại Mãn châu, và chưa chịu chấm dứt việc đòi hỏi chủ quyền tại đó. Chánh phủ Nam Kinh dùng mọi phương tiện, ngoại trừ chiến tranh, để làm lay chuyển vị trí của Nhật tại đó.

Trên chánh trường quốc tế, người Tàu tổ chức nhiều phong trào ủng hộ lập trường đòi Mãn châu một cách khéo léo và dựa vào quyền lợi riêng của các nước Tây phương đang lăm le nhảy vô vùng đất đó. Chẳng hạn người Tàu bất kể tới các phản đối của Nhật, đã ký nhượng cho nhiều nước khác các quyền lợi khai thác Mãn châu. Trong số các nước ủng hộ Trung Hoa nhiều nhất, phải kể tới Hoa Kỳ. Vì vậy Nhật càng nghi ngờ Mỹ đứng ra làm thầy dùi cho Tàu để trục lợi. Sự nghi ngờ càng có lý do khi một hãng thầu lớn được Chánh phủ Mỹ yểm trợ đề nghị với Trung Hoa khai thác Mãn châu. Thế là Nhật càng tin chắc chủ trương đạo đức giả của Mỹ, giả vờ ủng hộ chánh nghĩa để nhảy vô kiếm chác.

Các chánh khách ở Nhật muốn thực hiện chương trình giám bớt lực lượng quân sự tại Mãn châu. Nhưng các giới quân sự chánh trị tại Mãn châu cực lực phản đối ý định đó. Những người này chủ trương phải giữ Mãn châu với bất cứ giá nào. Tinh trạng thật là y hệt như phe quân nhân Pháp đòi giữ vững thuộc địa Algérie sau này. Hiện tượng đó không lạ gì, vì nhóm người Nhất tại Mãn châu đương nhiên phải hành động để bảo vệ những quyền lợi của họ đã tạo được tại đó.

Quân đội Nhật tại Mãn châu có một địa vị quan trọng và được kính nể, khác hẳn với những đơn vị đóng trong nước. Điều dễ hiểu là tại vì nơi đó, sự hiện diện của họ rất cần thiết để bảo đảm đời sống cho mọi người. Còn những đơn vị đóng trong nước thì hết bị giới dân sự và doanh thương chỉ trích, lại tới dân chúng có cảm tưởng xấu cho rằng lính chỉ ăn không ngồi rồi, không có việc gì làm. Nhiều sĩ quan từ Nhật tới trấn nhậm tại Mãn châu đã cảm thấy một sự thay đổi sung sướng và đâm ra mê xứ này. Họ có ý định biến Mãn châu thành một tiểu bang của Nhật, độc lập, và không dính dáng gì chánh phủ dân sự trong nước. Ý kiến này đã được binh sĩ hoan nghênh nhiệt liệt, vì phần lớn họ đều xuất thân từ bọn nghèo đói, không có đất làm ăn ở Nhật.

Dân số tại các vùng quê luôn luôn quá đông đảo, không có đủ đất đai cho họ cày cấy. Vì vậy, số người thặng dư này là tài nguyên dồi dào để các nhà giàu tuyển làm đầy tớ, các kỹ nghệ gia tuyển làm lao công và các thiếu nữ thì dành quyền xử dụng cho các nhà thổ và xóm cô đầu ở Đô thị lớn. Thanh niên chỉ còn một cách là nhào vô lính. Chính đám dân quê này là thành phần đông đảo trong đám binh lính và hạ sĩ quan của quân đội Nhật.

Những thanh niên xuất thân từ các gia đình chài lưới hay nông dân nghèo khổ, ở nhà cực khổ, họ muốn vô quân đội để trốn tránh, nhưng nhiều khi cảm thấy đời sống quân ngũ cũng không phải là dễ dàng. Dưới thời Minh Trị, nhiều phái đoàn đã được phái ra ngoại quốc để tìm hiểu các quy chế tổ chức công quyền của các nước tân tiến. Trong đó các quy chế quân sự được đặc biệt chú ý. Sau cùng phái đoàn đã nhận thấy, về hải quân, mẫu mực của Hải quân Anh thích hợp cho Nhật hơn cả. Nhưng thêm vào đó, đời sống của một quân nhân hải quân Nhật còn phải chịu nhiều kỷ luật khắc khổ hơn đối với hải quân Anh rất nhiều. Sau đây chúng ta hãy nghe kể một trong những chi tiết tập luyện tại Trường Hải quân Hoàng gia Nhật Etajima :

«Các sinh viên sĩ quan thức dậy trước rạng đông. Sau khi chào cờ, họ chạy lên đỉnh núi, và trở về dùng điểm tâm gồm có cơm với muối. Bốn giờ sau mới được dùng cơm trưa, gồm cơm với muối nữa. Luyện tập tới tối họ được ăn cơm với đậu nành. Nếp sống như vậy kéo dài trong suốt bốn năm trời.»

Về Bộ Binh, kỷ luật còn khắt khe hơn nữa. Thoạt đầu Lục quân Nhật tổ chức theo khuôn mẫu của Pháp. Nhưng sau đó thầy Pháp bị quân Phổ đánh tan tành, Nhật bèn cải tổ quân đội lại theo lối Đức. Binh sĩ Bộ Binh Nhật phải chịu những kỷ luật khắt khe nhất, kèm thêm tinh thần của một võ sỉ đạo. Các sĩ quan trước khi ra trường đều. phải qua những cuộc thi chạy bộ rất gay go. Chính Tojo cũng từng trải qua những cuộc thi đó, để thử sức chịu đựng tinh thần cũng như thể chất. Cuộc tuyển chọn binh sĩ Nhật được đặt trên một nguyên tắc rất khó khăn, với mục đích đào tạo cho quân đội những người lính hạng nhất thế giới. Sau đây là một phương pháp tuyển lính mới bằng phương pháp khổ nhục đã được tác giả Hanama Tasaki mô tả trong cuốn Đương trường luyện tập của quân đội Thiên Hoàng như sau :

«Năm binh sĩ tiến tới hàng lính mới. Không một lời, họ dơ tay tát mạnh vô mặt từng người. Những ai không đứng yên được ở thế nghiêm khi bị tát sẽ bị đánh nhiều hơn. Sau đó, một Trung sĩ hỏi từng chú lính mới ! Anh nghĩ tại làm sao anh đã bị đánh ? Mỗi người đều có một câu trả lời khác nhau, và sau đó lại bị đánh tàn nhẫn hơn nữa. Cuối cùng có một người trả lời : «Tôi không nghĩ gì hết.» Viên Trung sĩ gật đầu : «Đúng lắm. Các anh không cần phải suy nghĩ gì hết mỗi khi bị đánh. Muốn trở thành binh sĩ của Thiên Hoàng, các anh không cần để ý tới bất cứ ý kiến hay tư tưởng chánh trị nào, nhưng chỉ biết có nhiêm vụ và lòng ái quốc. Nhiệm vụ của chúng ta là phụng sự Tổ Quốc và Thiên Hoàng. Cứ việc làm theo mệnh lệnh, không cần biết gì khác hơn mênh lệnh.»

Cách đối xử giữa sĩ quan và binh sĩ Nhật tương tự như cách đối xử của ông chủ và gia nhân. Đó là một truyền thống đã có từ lâu đời ở Nhật. Ông chủ phải chăm lo cho gia nhân của minh về mọi phương diện, và ngược lại gia nhân phải tuyệt đối tuân lệnh của chủ. Khi mới tới chỉ huy một Trung đoàn năm 1928, Tojo họp tất cả sĩ quan trong Trung đoàn lại và tuyên bố : «Chỉ huy trưởng Trung đoàn là người cha, các sĩ quan là những người mẹ, và binh sĩ là con. Vì vậy mọi sĩ quan có bổn phận phải chăm lo cho binh sĩ của mình về mọi phương diện, kể cả những khó khăn kinh tế họ gặp phải». Bà Tojo kể lại, có lần một Trung úy tới hỏi mượn Tojo ba chục yên, lúc đó tương đương với khoảng sáu ngàn đồng VN, nhưng ông không có và phải chạy đi mượn người láng giềng. Nhưng khi đưa tiền cho Trung úy, ông vẫn nói : «Nếu cần nữa, cứ việc cho hay.» Theo Tojo, việc trừng phạt binh sĩ bằng lối tát vô mặt như vậy là một truyền thống giáo dục trong giới bình dân Nhật. Đó cũng là một phương pháp để giáo dục binh lính.

Tojo không hề dính líu vào các hoạt động chánh trị của một số sĩ quan trong đạo quân Kwangtung đóng ở Mãn Châu, như phần đông các sĩ quan khác phục vụ tại đó. Tuy nhiên, ông vẫn theo dõi tình hình chánh trị tại đó qua lời thuật chuyên của bạn bè. Nhưng lúc nầy là một sĩ quan cao cấp đã gần bốn chục tuổi, nên Tojo chăm chú vào việc phục vụ binh nghiệp, vì vậy ít để ý tới các ý kiến về những vấn đề chánh trị đó. Tuy nhiên, tình hình biến chuyển nhiều về kinh tế, và tới lúc này Tojo mới nhận thấy binh sĩ của ông gặp những khó khăn mà ông không thế giải quyết nổi trong phạm vi quân sự.

Cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới năm 1929, Nhật phải gánh những hậu quả trầm trọng nhất. Cảnh thê thảm diễn ra không kém gì cảnh tượng sau trận động đất sáu năm trước đó. Những hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế lần này còn lâu lắm mới có thể hàn gắn được. Chỉ có vài triệu người có lẽ không bị khổ sở vì những hậu quả của nó. Nhiều lãnh vực hoạt động bị ảnh hưởng một cách rất trầm trọng. Trong lãnh vực canh nông chẳng hạn, quá nửa số nông dân tham gia vào công cuộc sản xuất tơ lụa. Nhưng lúc này thị thường vải, lụa không còn chỗ để tiêu thụ. Thị trường tiêu thụ chánh là Hoa Kỳ đã hoàn toàn đóng cửa. Thêm vào đó là nạn mất mùa, cảnh đói sắp sửa diễn ra. Những thảm trạng xã hội trở nên trầm trọng hơn cả. Nhiều người, mặc dầu đã phải bán cả con gái cho phòng trà, hay nhà thổ, mà vẫn không đủ tiền trả nợ hay kiếm sống hằng ngày.

Những hậu quả trầm trọng này đã làm cho các sĩ quan như Tojo, từ trước tới nay không hề để ý tới các vấn đề chánh trị và kinh tế, lúc nầy cũng phải để tâm suy nghĩ, vì những chuyện đau thương hàng ngày đập vào mắt, nhất là những vụ tự tử vì quá đói khổ. Nhiều quân nhân cho rằng những cảnh đói khổ mà toàn quốc đang phải chịu này là do lỗi ở các nhân vật chánh trị và kinh tế gây ra. Ngoài ra, họ cũng quy trách nhiệm cho Mỹ và các nước Tây phương, vì quá bo bo giữ quyền lợi của mình khiến cho nước Nhật phải chịu cảnh đói khổ.

Những khốn đốn do kinh tế khủng hoảng gây ra không từ một ai. Nhiều xí nghiệp lớn phải đóng cửa, ngân hàng phá sản. Số người thất nghiệp nhiều chưa từng thấy bao giờ ở bất cứ một nước Tây phương nào. Những chánh khách lúc trước chủ trương thương thuyết ôn hòa với Trung Hoa giờ đây đều trở nên cứng rắn, vì họ nhận thấy thị trường Trung Hoa lúc này không còn phải là điều mong muốn, nhưng đã trở thành điều kiện thiết yếu để cứu vãn nước Nhật. Không những Mỹ và các nước Tây phương ngăn chận hàng hóa Nhật, mà họ còn đóng cửa thị trường cùa hàng hóa Nhật ở các thuộc địa của họ nữa.

Chánh sách thân thiện với Trung Hoa hoàn toàn sụp đổ khi Thủ Tướng Hamaguchi, người cầm đầu bảo trợ cho chánh sách nầy bị đảng viên Đảng Hắc Long ám sát ngay tại nhà ga Tokyo, sáng ngày 14 tháng II năm 1930. Bị tuyên truyền vói những luận điệu chống Chánh phủ, dân chúng Nhật nhất định không thèm thương thuyết với bọn Trung Hoa cứng đầu nữa. Đạo quân Kwangtung ở Mãn châu lúc này đã quyết định phải hành động để tiêu diệt hết guồng máy chánh trị và các chánh khách Trung Hoa tại đây.

Những sĩ quan trong Bộ Tham mưu ở đây đã quyết định hành động một cách khẩn cấp để đối phó với tình hình mà họ cho là sắp tuyệt vọng. Năm 1928, quân của Thống chế Tưởng Giới Thạch tiến tới biên giới Mãn châu, Viên Thống chế bù nhìn của Nhật là Chang Tso-lin bắt đầu bị Nhật nghi ngờ. Thế là ông ta bị một đơn vị quân Nhật cho nổ sập cầu khi đoàn xe lửa chở ông vừa trờ tới, Quân Nhật nghi ngờ viên Thống chế bù nhìn này đã có những liên lạc, thương thuyết ngầm với họ Tưởng, nên họ cần thanh toán ông trước. Con trai của Chang Tsolin được Nhật đưa lên kế vị làm bù nhìn cai trị Mãn châu, Nhưng một lần nữa quân Nhật lại thất vọng, vì người này cũng không hăng hái làm bù nhìn hơn cha của ông ta.

Tổng lãnh sự Nhật ở Mãn châu điện về cho Thủ Tướng Baron Wakatsuki ở Tokyo, người kế vị Hamaguchi, cho biết : «biến cố lớn có thể xảy tới» Bức điện được đánh đi ngày 18 tháng 9 năm 1931, tức là ngày quân đội Nhật bắt đầu có những cuộc điều động trong vùng Mukden, nhưng chỉ tới tay Thủ Tướng Nhật mười ngày sau đó, làm cho Chánh phù trở nên bối rối. Tổng Trưởng chiến tranh, Tướng Minami, vội vã gởi một phái đoàn tới Mãn châu để để phòng mọi rối loạn.

Mười giờ đêm 18 tháng Chín, một tiếng nổ lớn phát ra trên đường xe lửa gần trại quân Trung Hoa. Một toán tuần tiễu Nhật «vô tình» ở gần đó, và đã tới nơi mở cuộc điều tra. Viên sĩ quan chỉ huy toán tuần tiễu báo cáo, đường ray bị đặt mìn và lính của ông ta bị quân Tàu bắn. Thế là họ liền được lệnh tấn công vào trại binh Trung Hoa và tràn ngập trại này. Cùng đêm đó, một cuộc tấn công vào Mukden đồng thời xảy ra, và sáng hôm đó cả thành phố cũng như phi trường đều ở trong tay quân Nhật. Có rất nhiều bằng cớ cho thấy rõ ràng biến cố tình cờ này đã được quân Nhật chuẩn bị từ trước, với những khẩu trọng pháo đã được di chuyển tới vị trí tấn công từ nhiều ngày trước. Cuộc hành quân này Chánh phủ Tokyo không hề được báo trước, và về sau người ta khám phá ra, Chánh phù này cũng không có hành động gì tích cực để ngăn cản.

Một viên chức. dân sự thuộc Tòa Tổng lãnh sự được triệu tới Bộ Tư Lệnh ở Mukden và được thông báo cho biết quân đội đã nắm quyền tại đây. Viên chức này phản đối, và cho biết cần phải tiếp tục dàn xếp với chánh quyền Trung Hoa. Đại Tá Itagaki cho ông ta biết chính quân Tàu đã tấn công trước. Vì danh dự của quân đội và của nước Nhật, bắt buộc ông phải hành động. Viên chức Tòa Lãnh Sự tiếp tục phản đối, và Đại Tá Itagaki đã hỏi có phải ông muốn xiá vô việc quân sự không, đồng thời một sĩ quan khác rút kiếm ra khỏi vỏ.

Đặc phái viên của Tổng Trưởng Minami là Thiếu Tướng Tatekawa tới Mukden trưa ngày 19 tháng 9, và thay vì đến thẳng Bộ Chỉ Huy, ông ta lại được Đại Tá Itagaki đưa về một khách sạn, nói là để nghỉ ngơi. Sau này ông ta kể lại: «Tại khách sạn tôi đã được nhiều cô gái chiêu đãi và nghe thấy tiếng súng vọng lại xa xa. Sau một đêm ngủ ngon lành, tôi mới chợt tỉnh dậy.» Và sau đó, ông ta điện về Tokyo báo cáo, theo sự nhận xét tại chỗ của ông thì quân đội Nhật tại Mãn châu chỉ có những hành động tự vệ.

Tổng Trưởng chiến tranh bị giữ lại tại Tokyo. Tháng Giêng năm 1932, quân Nhật từ Mãn châu đã tiến tới chân Vạn lý Trường Thành được dựng lên từ nhiều thế kỷ trước để ngăn rợ hung nô. Vài tháng sau đó, Đại Tá Doihara, một bạn thân của Itagaki được cử làm Tổng đốc Mãn châu. Vậy là xứ này từ nay hoàn toàn nằm trong tay đạo quân Kwangtung, trở thành một tiểu quốc độc lập dưới sự bảo hộ của Nhật.

« Lùi
Tiến »