“Nô công”, từ ngữ này đã bao năm rồi chưa từng xuất hiện từ miệng của người đàn ông mang danh Thiên tử.
Kể từ sau thời Xuân Thu, giai cấp địa chủ đã thay thế tầng lớp chủ nô, trở thành giai cấp thống trị tại Trung Quốc.
Từ đó về sau, các nước đều bước vào thời đại nhân đạo chủ nghĩa.
Nô lệ dần dần rút khỏi dòng chảy chính của xã hội, tá điền và nông dân tự canh trở thành giai cấp bị thống trị mới.
Từ đó, “Nhân nghĩa đạo đức” trở thành cửa miệng của những kẻ cầm quyền.
Đến thời Hán, các đời Thiên tử lại càng đặc biệt coi trọng sự sinh tồn và an toàn của tầng lớp nông dân tự canh cùng địa chủ nhỏ, nghiêm khắc hạn chế và ức chế việc nuôi nô lệ.
Luật Hán quy định rõ ràng, thuế thân của nô tỳ đánh từ mức năm toán trở lên, mưu đồ thông qua thuế nặng để hạn chế và ức chế các thế gia đại tộc, quý tộc nuôi nô lệ từ phương diện kinh tế.
Thế nhưng, chẳng có tác dụng gì cả. Các sĩ đại phu, huân quý chỉ cần có cơ hội là sẽ liều mạng nuôi nô lệ.
Nô tỳ và gia nhân trong nhà một số đại hộ được tính bằng đơn vị hàng nghìn.
“Phú chí đồng thiên nhân” (giàu có đến mức có nghìn nô bộc) đã thực sự trở thành tiêu chuẩn để đánh giá một gia tộc có phải là kẻ giàu sổi hay không.
Còn về các Liệt hầu? Trong phong quốc của ai mà chẳng có vài trăm nô tỳ, vài chục ca cơ, cả nghìn tá điền?
Kiếp trước, Lưu Triệt từng tận mắt chứng kiến cảnh ngộ bi thảm của nô tỳ trong các gia đình quý tộc đại hộ ở Hà Gian quốc.
Đặc biệt là những nô bộc canh tác cho các đại hộ quý tộc, cảnh ngộ và đãi ngộ còn thê lương hơn cả xã hội nô lệ mấy trăm năm trước.
Họ bị coi là công cụ và súc vật, phải đeo xiềng xích làm việc, ngay cả khi nghỉ ngơi cũng không được phép tháo ra.
Nô tỳ trong nhà Liệt hầu thì đãi ngộ khá hơn một chút.
Ít nhất, các Liệt hầu còn biết giữ mặt mũi, không dám ngược đãi quá mức để tránh bị người khác công kích.
Nhưng cũng chẳng khá hơn là bao.
Ví dụ như câu chuyện của Vệ Thanh đã nói lên rất sinh động về cảnh ngộ của nô tỳ trong nhà quý tộc là như thế nào.
Mẹ của Vệ Thanh cùng mấy người chị của ông, tất cả đều là công cụ để gia tộc Bình Dương hầu dùng để chiêu đãi khách khứa.
Nói không khách sáo, vào thời điểm này, nữ nô trong nhà quý tộc chính là kỹ nữ do quý tộc nuôi dưỡng. Đừng nói là khách khứa, ngay cả sai dịch hay quan lại địa phương cũng có thể tùy ý chọn lấy một người để hành lạc.
Kể từ khi lên ngôi, Lưu Triệt vô cùng phản cảm với tình trạng này.
Ông tin tưởng sâu sắc rằng: Lấy đồng bào làm nô lệ không chỉ vô đạo đức mà còn cực kỳ nhục nhã và đáng thương.
Có bản lĩnh thì nên đi nô dịch người Di Địch ngoại tộc.
Đúng như người da trắng ở Âu Mỹ thời hậu thế vậy.
Ức hiếp đồng bào, chỉ giỏi bắt nạt người nhà, thì tính là anh hùng hảo hán gì chứ?
Vì vậy sau khi lên ngôi, Lưu Triệt đã lập pháp tuyên bố: Nô tỳ là người Hán đánh thuế năm toán, nô tỳ là người Di Địch đánh thuế một toán, hy vọng từ góc độ kinh tế để dẫn dắt mọi người nuôi dưỡng nô tỳ người Di Địch, đừng tiếp tục nô dịch đồng bào ruột thịt nữa.
Đáng tiếc, vẫn chẳng có tác dụng gì.
Địa chủ, hào cường, huân quý trong thiên hạ vẫn cứ làm theo ý mình.
Điều này khiến Lưu Triệt hận đến nghiến răng nghiến lợi mà không có cách nào giải quyết.
Lần này nhân cơ hội này, Lưu Triệt quyết định tự mình đứng ra dạy cho đám cặn bã này một bài học.
Nô lệ xung quanh Trung Quốc vốn rất rẻ.
Lấy ví dụ về nô lệ Bộc (Bác nô) đang bị thổi giá lên tận trời ở Trường An, mỗi người thường xuyên có giá mười vạn tiền hoặc hơn.
Theo tình hình Lưu Triệt biết được từ Hứa Cửu, tại Bộc quốc ở Tây Nam Di, một nô lệ Bộc đã được huấn luyện chỉ cần vài xấp lụa cộng thêm ít đồ đồng là có thể mua được. Giá thành tính ra cùng lắm chỉ vài nghìn tiền, dù hiện tại giá nô lệ Bộc có tăng cao thì cũng tối đa là một vạn tiền.
Nếu đặt hàng số lượng lớn, ví dụ như hàng trăm người, còn có ưu đãi.
Ngoài ra, hai vị nhạc phụ của Lưu Triệt là Trác Vương Tôn và Trình Trịnh Anh, hai năm gần đây chủ yếu mua nô công từ các nước Tây Nam Di.
Nô lệ nước Điền rẻ nhất, một xấp lụa là có thể mua được một người...
Thật sự là quá rẻ mạt. Sau khi có Lưu Triệt làm chỗ dựa, Trác Vương Tôn và Trình Trịnh Anh liều mạng nhập khẩu nô lệ từ Tây Nam Di, coi như hàng tiêu dùng, kết quả là lợi nhuận tăng vọt...
Chỉ trong vòng ba năm, Trác Vương Tôn và Trình Trịnh Anh đã mở thêm ba mỏ khoáng sản, tất cả đều dùng nô công Tây Nam Di để khai thác, liều mạng bóc lột — dù sao chết cũng chẳng thấy xót.
Mà hai nhà tư bản lớn là Trác Vương Tôn và Trình Trịnh Anh, sau khi có Lưu Triệt bảo chứng, đã thể hiện đầy đủ cho các nước Tây Nam Di thấy thế nào là bản chất của nhà tư bản.
Họ khuấy động gió mưa ở khắp các nước lớn tại Tây Nam Di như Dạ Lang, Điền quốc và các nước Bộc, Tạc.
Lúc thì bảo với Dạ Lang Vương: "Bộc quốc đang mài gươm luyện ngựa, chuẩn bị đối phó với quý quốc, chúng tôi thực sự lo lắng cho quý quốc. Với tư cách là bạn bè quốc tế, chúng tôi xin tiến cử cho quý quốc vũ khí chiến tranh mạnh nhất, lựa chọn số một để phòng thủ và mở rộng — đó là nỏ máy “chế thức” của quân Hán cùng trường kích, qua mâu và khóa tử giáp, giá cả hợp lý, mua nhiều ưu đãi".
Quay đầu lại chạy đi nói với Bộc Vương: "Dạ Lang quốc đã mua nỏ máy và trường kích của chúng tôi rồi, quý quốc hãy cẩn thận một chút...".
Kết quả là Bộc quốc và Dạ Lang quốc thi nhau đổ máu, mua một đống vũ khí mà quân Hán đã loại biên, rồi chém giết nhau tơi bời.
Cuối cùng, để trả nợ vay mua vũ khí, họ buộc phải lấy tù binh và dân chúng vất vả bắt được để gán nợ cho hai tên này.
Vở kịch như vậy, Trác Vương Tôn và Trình Trịnh Anh đã diễn rất nhiều lần trong nội bộ Tây Nam Di.
Thế nhưng các nước Tây Nam Di dường như không hề hay biết, vẫn bị họ lừa một cách dễ dàng, nhảy xuống hố sâu.
Đây không phải là các vị vua Tây Nam Di ngu ngốc, mà là họ đã rơi vào một vòng luẩn quẩn — nếu không mua quân khí của nhà Hán, họ rất có thể sẽ bị nước địch tiêu diệt.
Ba năm qua, trong số các nước Tây Nam Di, đã có bảy vương quốc hoặc bộ lạc tồn tại hàng trăm năm, thậm chí lâu hơn, vĩnh viễn biến mất.
Người dân, quý tộc, quốc vương, tế tự của họ, tất cả đều trở thành nô lệ của kẻ khác.
Điều duy nhất đáng tiếc là các nước Tây Nam Di, ngay cả khi cộng thêm các bộ lạc nguyên thủy trong rừng sâu núi thẳm, có lẽ tổng dân số tối đa cũng chỉ một hai triệu người.
Điều này khiến Trác Vương Tôn và Trình Trịnh Anh vô cùng lo lắng.
Hai tên này vì thế mà luôn tài trợ và khuyến khích những nhà thám hiểm đi đến Điền quốc để tìm kiếm con đường đến Thân Độc (Ấn Độ).
Hy vọng có thể mở ra con đường đến Thân Độc, từ đó có được nô lệ Thân Độc giá rẻ.
Trình Trịnh Anh và Trác Vương Tôn, hai nhà tư bản bán chính quy này, đều có thể khiến các nước Tây Nam Di rơi vào cuộc hỗn chiến và vòng luẩn quẩn vô tận.
Nếu các Liệt hầu của nhà Hán đích thân ra tay...
Lưu Triệt không hề nghi ngờ rằng, các nước Tây Nam Di rất có thể mười mấy năm sau sẽ trở thành lịch sử.
Đến lúc đó, Lưu Triệt rất có thể không tốn một binh một tốt cũng có thể khiến những “đứa trẻ mồ côi” “lưu lạc bên ngoài” này quay trở về vòng tay ấm áp của người mẹ Trung Quốc — xét về lý mà nói, khu vực Tây Nam, trong thời kỳ cực thịnh của nước Sở và thời Tần, từng là một phần của Trung Quốc.
Ít nhất, triều Tần từng thiết lập quan lại và đóng quân ở đó.
Quốc vương của Điền quốc thậm chí còn là hậu duệ của những kẻ chinh phục đến từ nước Sở.
Bây giờ, chỉ xem các Liệt hầu và quý tộc hào cường có nguyện ý nghe theo “kiến nghị” của Lưu Triệt – vị Thiên tử này hay không.
Lưu Triệt cảm thấy, họ hẳn là sẽ nghe theo thôi...
Lưu Triệt nói với Triệu Vũ: “Khanh hãy truyền lại nguyên văn của Trẫm cho các vị công khanh là được...”