Ba người anh em

Lượt đọc: 82 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 16

❊ ❊ ❊

Ba mươi bảy giờ trước khi các cuộc thăm dò ý luận bắt đầu tại Virginia và Washington, Tổng thống xuất hiện trên chương trình truyền hình trực tiếp toàn quốc, tuyên bố ông đã ra lệnh không kích thành phố Tara, Tunisia. Người ta tin rằng tổ chức khủng bố Idar đang huấn luyện tại một trại tập trung được trang bị đầy đủ ở ngoại ô thành phố này.

Thế là, quốc gia này lại can thiệp vào chiến tranh, một cuộc chiến quy mô nhỏ chỉ bằng cách nhấn nút và phóng tên lửa dẫn đường bằng laser. Những vị tướng về hưu trên các kênh truyền hình cáp bàn luận lan man về các vấn đề chiến lược kiểu này kiểu nọ. Tại Tunisia lúc đó đang là ban đêm, nên không có ống kính truyền hình nào ghi lại được.

Các vị tướng về hưu cùng những phóng viên mù tịt thông tin đưa ra đủ loại phỏng đoán. Ngoài ra, chỉ còn là sự chờ đợi, chờ đợi mặt trời mọc để có thể chiếu cảnh khói lửa và gạch vụn cho những người dân mệt mỏi của đất nước này xem.

Thế nhưng Idar đã nhận được tin tình báo, rất có thể do phía Israel cung cấp. Khi những quả bom thông minh từ trên trời rơi xuống, trại huấn luyện đã sớm không còn một bóng người. Bom trúng mục tiêu, làm rung chuyển sa mạc, phá hủy trại tập trung, nhưng không làm tổn hại đến một sợi tóc nào của bọn khủng bố.

Hai quả bom bị chệch hướng, một quả bay vào trung tâm thành phố, đánh trúng một bệnh viện. Quả còn lại rơi trúng một khu nhà dân, nơi một gia đình bảy người đang say giấc nồng. May mắn thay, họ hoàn toàn không biết chuyện gì đã xảy ra.

Đài truyền hình Tunisia nhanh chóng phát sóng cảnh tượng bệnh viện đang bốc cháy. Khi trời sáng ở khu vực phía Đông, người dân nước này mới biết rằng bom thông minh chẳng hề thông minh chút nào. Ít nhất năm mươi thi thể đã được tìm thấy, tất cả đều là dân thường vô tội.

Sáng sớm, Tổng thống đột nhiên thay đổi thái độ, tỏ ra chán ghét các phóng viên, không chịu ra mặt bình luận về sự việc. Phó Tổng thống, người từng nói thao thao bất tuyệt khi cuộc không kích bắt đầu, giờ đây lại cùng thuộc hạ trốn biệt tăm ở đâu đó tại Washington, nhất quyết không lộ diện.

Số người chết tăng vọt, ống kính truyền hình liên tục phát đi những cảnh tượng bi thảm tại hiện trường vụ oanh tạc. Đến khoảng chín, mười giờ sáng, các quốc gia trên thế giới đều nhanh chóng phản ứng, đồng loạt lên án hành vi không kích bạo ngược. Nga đưa ra lời đe dọa chiến tranh. Người Pháp dường như có ý định hợp tác với người Nga. Ngay cả người Anh cũng nói Mỹ quá hiếu chiến.

Vì những người chết không phải người Mỹ mà chỉ là vài nông dân Tunisia, các chính trị gia lập tức chính trị hóa thất bại lớn này. Chưa đến trưa, Washington đã náo loạn cả lên, kẻ thì chỉ trích, lên án; người thì làm bộ làm tịch, mưu cầu danh tiếng; đua nhau yêu cầu điều tra sự việc. Những ứng cử viên Tổng thống đang trong chiến dịch tranh cử phải mất một lúc để cân nhắc xem cuộc không kích này rốt cuộc sẽ mang lại hậu quả xấu xa nào. Không ai trong số họ tham gia vào loại hành động trả đũa đánh cược tất cả này mà không suy nghĩ. Chỉ có vị Phó Tổng thống đang trốn tránh không dám gặp người mới làm chuyện đó. Do số người chết vẫn đang được kiểm đếm, nên không ứng cử viên Tổng thống nào cho rằng cuộc không kích này là một nước đi đáng giá. Họ đồng loạt lên án Tổng thống.

Nhưng Allen Lake là người gây chú ý nhất. Ông phát hiện ra mình cứ di chuyển là lại vấp phải các phóng viên nhiếp ảnh. Không cần bản thảo, ông đưa ra một tuyên bố với lời lẽ sắc bén: "Chúng ta quá bất tài, chúng ta quá bất lực, chúng ta quá yếu đuối. Chúng ta vậy mà không thể tiêu diệt một đội quân gồm chưa đầy năm mươi kẻ hèn nhát, một đám ô hợp. Chúng ta nên cảm thấy xấu hổ vì điều này. Đừng tưởng cứ nhấn nút là vạn sự đại cát, thiên hạ thái bình. Phải đánh bộ chiến. Nhưng đánh bộ chiến là cần phải có dũng khí. Tôi có dũng khí đó. Tôi làm Tổng thống, sẽ không tha cho bất kỳ tên khủng bố nào có đôi tay vấy máu người Mỹ. Đây chính là lời cam kết trịnh trọng của tôi."

Trong bầu không khí phẫn nộ và hỗn loạn vào buổi sáng, lời nói của Lake để lại ấn tượng sâu sắc. Đây là người nói được làm được, ông biết rõ mình cần phải làm gì. Nếu người quyết định là một người có dũng khí, chúng ta đã không đi tàn sát những người nông dân vô tội – Lake chính là một người có dũng khí như vậy.

Dưới boongke, Teddy phải chịu đựng một cơn bão khác. Mọi người đổ lỗi cho sự thất bại này là do công tác tình báo yếu kém. Khi cuộc tấn công thành công, công lao thuộc về các phi công, những chiến binh dũng cảm ở bộ binh và các chỉ huy, chính trị gia đã đưa họ ra chiến trường. Nhưng khi cuộc tấn công xảy ra vấn đề, điều vốn là chuyện thường tình, thì CIA lại phải đứng ra chịu tội thay.

Teddy là người phản đối chiến dịch không kích. Người Israel và Idar có một thỏa thuận bí mật ngầm định – không tàn sát lẫn nhau. Chỉ cần mục tiêu tấn công là người Mỹ, hoặc đôi khi là người châu Âu, người Israel sẽ không can thiệp. Teddy hiểu điều này, nhưng ông không có tin tình báo trước. Hai mươi giờ trước khi chiến dịch không kích bắt đầu, ông đã từng viết văn bản khuyên can Tổng thống, bày tỏ nghi ngờ về việc liệu bọn khủng bố có ở trong trại khi không kích hay không. Ngoài ra, ông còn chỉ ra rằng do mục tiêu tấn công nằm sát thành phố Tara, rất có khả năng sẽ làm tổn thương người vô tội.

Hartley Beach mở chiếc phong bì màu nâu, không chú ý đến góc dưới bên phải phong bì hơi rách và nhăn nhúm. Những ngày này ông đã mở quá nhiều thư từ cá nhân, nên chỉ nhìn tên người gửi và địa chỉ hồi đáp. Ông cũng không chú ý đến dấu bưu điện là ở Tampa.

Đã vài tuần rồi ông không nhận được thư của Al. Ông đọc một mạch hết bức thư, trong đó đề cập đến việc Al dùng một chiếc máy tính xách tay mới, ông chẳng hề cảm thấy hứng thú. Còn việc bạn qua thư của Ricky lấy một tờ giấy viết thư từ khách sạn Sonesta Royal ở New Orleans, vất vả gõ một bức thư ở độ cao ba mươi lăm nghìn feet, ông cũng thấy hoàn toàn tin được.

Al đi khoang hạng nhất sao? Ông tự hỏi. Rất có thể, khoang hạng hai làm gì có ổ cắm máy tính. Al đi New Orleans bàn chuyện làm ăn, ở khách sạn sang trọng, rồi lại ngồi hạng nhất bay đến điểm đến tiếp theo. Ba anh em chỉ quan tâm đến tình trạng kinh tế của những người bạn qua thư của họ, những chuyện khác đều không quan trọng.

Ông đọc xong thư, đưa cho Yabber, người đang viết một bức thư khác dưới danh nghĩa của Percy đáng thương. Họ đang làm việc trong một phòng họp nhỏ ở góc thư viện pháp luật, trên bàn chất đống thư từ và hồ sơ lộn xộn, cùng đủ loại bưu thiếp màu hồng phấn đẹp mắt. Spicer ngồi ở chiếc bàn ngoài cửa canh gác, trong khi đang nghiên cứu tỷ lệ cá cược.

"Knowles là người thế nào?" Fane hỏi.

Beach đang lật hồ sơ. Họ bảo quản tư liệu của bạn qua thư riêng biệt, thư của mỗi người bạn và bản sao thư họ viết cho người đó đều được đặt trong một thư mục riêng.

"Không rõ lắm." Beach nói, "Sống ở Washington D.C., dùng tên giả, tôi chắc chắn. Dùng hộp thư bưu điện. Tôi nghĩ đây là bức thư thứ ba của ông ta."

Beach rút hai bức thư trước đó ra từ hồ sơ của Knowles. Trong bức thư ngày 11 tháng 12 viết:

Ricky thân mến:

Chào bạn! Tôi tên là Al Knowles, hơn năm mươi tuổi. Tôi thích nhạc Jazz, phim cũ, Humphrey Bogart, và thích đọc tiểu sử. Tôi không hút thuốc, cũng không thích người hút thuốc.

Bình thường thích nhất là ăn đồ Trung Quốc mang về, uống vài chén, tìm một người bạn cùng xem phim miền Tây đen trắng.

Viết cho tôi vài dòng nhé.

Al Knowles

Bức thư được đánh máy trên giấy trắng thông thường, hầu hết những bức thư kiểu này ban đầu đều dùng máy đánh chữ. Giữa các dòng chữ lộ ra sự sợ hãi – nỗi sợ hãi khi bắt đầu một mối quan hệ không chính đáng với một người lạ ở xa, nỗi sợ bị bắt. Mỗi bức thư, mỗi chữ cái của ông ta đều được đánh máy, thậm chí ngay cả tên cũng không dám ký.

Bức thư hồi đáp đầu tiên của Ricky được viết theo kiểu mẫu mà Beach đã viết hàng trăm lần: Ricky hai mươi tám tuổi, đang ở trại cai nghiện, gia cảnh bất hảo, có một người chú giàu có vân vân. Sau đó là những câu hỏi nhiệt tình rập khuôn: Anh làm nghề gì? Gia cảnh anh thế nào? Anh có thích du lịch không? Nếu Ricky mở lòng mình, cậu ta cần được đáp lại. Hai trang giấy toàn lời dối trá, Beach đã lặp đi lặp lại suốt năm tháng. Ông rất muốn photo lại đống nhảm nhí này. Nhưng không thể. Ông buộc phải làm cho mỗi bức thư có chút cá tính, viết trên giấy viết thư đẹp. Ông gửi cùng một tấm ảnh đẹp cho Al giống như gửi cho người khác. Tấm ảnh này giống như mồi câu, gần như câu được tất cả những người này.

Ba tuần trôi qua. Ngày 9 tháng 1, Trevor gửi đến bức thư thứ hai của Al Knowles. Giống như bức thư đầu tiên, bức thư này sạch sẽ không tì vết, rất có thể là đeo găng tay cao su để đánh máy.

Ricky thân mến:

Đọc thư bạn tôi rất vui. Phải thừa nhận, lúc đầu tôi cảm thấy buồn cho bạn, nhưng xem ra bạn đã rất thích nghi với cuộc sống ở trại cai nghiện, và biết mình nên đi về đâu. Tôi chưa bao giờ đụng đến ma túy và rượu mạnh, nên hiểu hoàn cảnh của bạn không phải là chuyện dễ dàng. Có vẻ như bạn đang được nhận sự điều trị tốt nhất mà tiền có thể mua được. Bạn không nên quá khắt khe với chú mình. Thử nghĩ xem, nếu không có ông ấy, bạn sẽ ở đâu.

Bạn hỏi tôi rất nhiều câu hỏi. Tôi vẫn chưa muốn thảo luận nhiều vấn đề cá nhân với bạn, nhưng tôi hiểu sự tò mò của bạn. Tôi từng có cuộc sống hôn nhân ba mươi năm, nhưng giờ đã được giải thoát. Tôi sống ở Washington D.C., làm việc trong cơ quan chính phủ. Công việc của tôi vừa đầy thách thức lại vừa khiến tôi rất thỏa mãn.

Tôi sống một mình, hầu như không có bạn thân. Tôi thích lối sống này.

Khi đi du lịch, tôi thường đến châu Á. Tôi rất thích Tokyo.

Sau này, tôi sẽ không quên bạn đâu.

Al Knowles

Trên cái tên được in ra, ông ta viết nguệch ngoạc chữ "Al", dùng mực đen, ngòi bút thép vừa nhọn vừa mảnh.

Bức thư này khiến họ khá thất vọng, vì ba lý do. Thứ nhất, Knowles không có vợ, ít nhất là ông ta nói không có vợ. Có vợ là điều tối quan trọng đối với kế hoạch lừa đảo của họ, có thể đe dọa sẽ gửi tất cả thư từ của người bạn qua thư đồng tính cho vợ ông ta. Như vậy có thể khiến tiền chảy ào ào vào túi họ. Thứ hai, Al làm việc trong cơ quan chính phủ, rất có thể không có tiền. Thứ ba, Al quá nhát gan, không đáng để tốn thêm thời gian. Lấy thông tin giống như nhổ răng vậy. Đọc thư của Quince Gaby và Curtis Kates thú vị hơn nhiều, vì họ sống cả đời trong thế giới nội tâm khép kín của mình, giờ đây đang khao khát được giải thoát. Thư của họ đều rất dài, lại thích ba hoa, trong thư đầy rẫy những chi tiết đời sống vụn vặt mà kẻ lừa đảo có thể cần đến. Al thì khác, ông ta rất tẻ nhạt, ông ta không biết mình cần gì.

Thế là, Ricky tăng thêm tiền cược trong bức thư thứ hai. Bức thư thứ hai cũng đầy rẫy những lời nhảm nhí, tràn ngập những câu sáo rỗng. Beach thường viết kiểu thư này, đã trở thành ngón nghề của ông. Ricky vừa được biết mình sẽ được thả sau vài tháng nữa! Cậu ta là người Baltimore. Thật là trùng hợp! Cậu ta cần giúp đỡ để tìm một công việc. Người chú giàu có đã từ chối giúp cậu ta thêm nữa. Không có sự giúp đỡ của bạn bè, cậu ta không dám đối mặt với cuộc sống bên ngoài. Cậu ta thực sự không thể tin tưởng những người bạn cũ, vì họ vẫn đang dùng ma túy vân vân.

Thư gửi đi mà không nhận được hồi âm. Beach cho rằng Al Knowles đã bị dọa sợ. Ricky sắp đến Baltimore, nơi đó chỉ cách Washington một giờ đi đường, điều này đối với Al mà nói thì quá gần.

Trong khi họ chờ đợi hồi âm của Al, tiền của Quince Gaby đã đến, tiếp theo là khoản tiền gửi của Dallas Curtis. Điều này khiến ba anh em càng thêm hăng hái trong các hoạt động lừa đảo của mình. Ricky lại viết cho Al một bức thư, chính bức thư này đã bị chặn lại và gửi đến Langley để phân tích.

Bây giờ, thái độ của Al trong bức thư thứ ba đã xoay chuyển một trăm tám mươi độ.

Fane Yabber đọc bức thư hai lần, lại lấy bức thư thứ hai của Al ra đọc lại: "Có vẻ như hoàn toàn biến thành một người khác, đúng không?" ông nói.

"Đúng vậy." Beach nói, nhìn vào hai bức thư, "Tôi nghĩ lão già này cuối cùng cũng không chịu nổi nữa, muốn gặp Ricky."

"Tôi cứ tưởng ông ta làm việc trong cơ quan chính phủ."

"Trong thư ông ta nói là vậy."

"Vậy chuyện làm ăn của ông ta ở Baltimore giải thích thế nào?"

"Chúng ta từng làm việc trong cơ quan chính phủ, đúng không?"

"Đúng."

"Khi ông làm thẩm phán, lương cao nhất là bao nhiêu?"

"Khi tôi làm Chánh án, lương năm là một trăm năm mươi nghìn."

"Tôi là một trăm bốn mươi nghìn. Một số quan chức hành chính có lương năm cao hơn. Ngoài ra, ông ta chưa kết hôn."

"Đó là một vấn đề."

"Phải, nhưng chúng ta phải tiếp tục gây áp lực cho ông ta. Ông ta có một công việc tốt, điều đó có nghĩa là ông ta có một ông chủ lớn, có nhiều đồng nghiệp, điển hình là một nhân vật quan trọng ở Washington. Chúng ta phải tìm ra điểm yếu của ông ta."

"Có gì phải sợ chứ." Fane nói.

Thật vậy, có gì phải sợ. Họ đâu có gì để mất. Ngay cả khi họ làm quá đà, Al sợ hãi hoặc trong cơn giận dữ quyết định vứt hết thư đi, thì đã sao nào? Bạn không thể mất đi những thứ vốn dĩ bạn không có.

Đây là kiếm tiền chân chính, lúc này không thể nhát gan được. Phương pháp tấn công chủ động mà họ áp dụng đang mang lại kết quả khác thường. Số lượng thư từ tăng lên mỗi tuần, con số trong các tài khoản nước ngoài của họ cũng đang tăng lên. Thủ đoạn lừa đảo của họ thực ra rất đơn giản, đến kẻ ngốc cũng làm được. Họ thành công là vì những người bạn qua thư của họ đều đang sống cuộc sống hai mặt, những nạn nhân đáng thương này thực sự có nỗi khổ không thể nói ra.

Do thời cơ thị trường tốt, chuyện thuê nhà nhanh chóng được thỏa thuận xong. Jacksonville vẫn đang là mùa đông, vì ban đêm khá lạnh, không thể bơi dưới biển, nên mùa cao điểm còn một tháng nữa mới đến. Dọc theo bãi biển Neptune và bãi biển Đại Tây Dương, có nhiều căn nhà nhỏ có thể cho thuê, trong đó có một căn gần như đối diện trực tiếp với văn phòng của Trevor. Một người đàn ông đến từ Boston trả sáu trăm đô la thuê hai tháng, người môi giới bất động sản vội vàng đồng ý ngay.

Trong nhà chất đầy những món đồ tạp nham không chợ trời nào mua nổi. Tấm thảm lông dài trên sàn cũ kỹ, tỏa ra mùi ẩm mốc dai dẳng. Căn nhà này quá tuyệt.

Việc đầu tiên khách thuê nhà làm là che cửa sổ lại. Ba cửa sổ hướng ra phố, có thể nhìn thấy văn phòng đối diện của Trevor. Trong vài giờ sau khi bắt đầu giám sát, rõ ràng là rất ít khách hàng qua lại. Việc làm ăn ở đó thật ế ẩm! Khi có khách, thường đều do cô thư ký Jane xử lý. Hầu hết thời gian, cô ta đều đang đọc tạp chí. Các đặc vụ khác lặng lẽ chuyển vào căn nhà thuê, nam có nữ có, mang theo những chiếc vali cũ và túi xách bằng vải len thô, bên trong chứa đầy thiết bị điện tử hiện đại. Những món đồ dễ vỡ trong nhà bị đẩy ra phía sau, căn phòng hướng ra phố nhanh chóng tràn ngập các loại màn hình, thiết bị giám sát và thiết bị nghe lén.

Bản thân Trevor có thể cung cấp một nghiên cứu tình huống vô cùng thú vị cho sinh viên luật năm thứ ba. Ông ta đến văn phòng vào khoảng chín giờ, sau đó đọc báo một tiếng. Khách hàng buổi sáng dường như luôn đến vào lúc mười giờ rưỡi, sau một giờ nói chuyện tốn sức, ông ta chuẩn bị đi ăn trưa, địa điểm luôn luôn là quán đồ nướng Peter. Ông ta luôn mang theo điện thoại di động, mục đích là để chứng minh với người phục vụ rằng mình là một nhân vật có tầm vóc. Thông thường ông ta đều phải gọi hai ba cuộc điện thoại không cần thiết cho các luật sư khác. Ông ta còn thường xuyên gọi cho người ghi sổ cá cược của mình. Sau đó ông ta đi bộ về văn phòng, đi ngang qua căn nhà thuê của CIA, các đặc vụ bên trong đang giám sát chặt chẽ từng cử động của ông ta. Trở lại bàn làm việc, ông ta bắt đầu ngủ trưa.

Khoảng ba giờ, ông ta mới tỉnh dậy, ngủ đủ hai tiếng. Lúc này, ông ta lại cần uống một chai rượu mua từ quán đồ nướng Peter về.

Khi họ theo dõi ông ta lần thứ hai đến nhà tù Trumbull, ông ta ở lại nhà tù một tiếng, khoảng sáu giờ quay lại văn phòng. Khi ông ta một mình ăn tối tại một quán hàu trên đại lộ Đại Tây Dương, một đặc vụ bước vào văn phòng của ông ta, tìm thấy chiếc cặp tài liệu.

Bên trong có năm bức thư của Percy và Ricky.

Chỉ huy của đội đặc vụ thầm lặng này tên là Crockner, là lựa chọn tốt nhất của Teddy trong việc giám sát khu dân cư. Ông ta được lệnh chặn tất cả thư từ ra vào của văn phòng luật sư này.

Khi Trevor rời quán hàu trực tiếp về nhà, năm bức thư được gửi đến căn nhà thuê bên kia đường. Các đặc vụ mở thư ra rồi photo, sau đó dán lại, bỏ vào cặp tài liệu của Trevor. Năm bức thư này đều không phải gửi cho Al.

Tại Langley, Devill đang đọc năm bức thư được truyền từ máy fax qua. Hai chuyên gia chữ viết kiểm tra những bức thư này, đều cho rằng Percy và Ricky không phải là cùng một người. Đối chiếu với tài liệu hồ sơ tòa án trước đây của ba người, không mất nhiều công sức để làm rõ danh tính thật của Percy và Ricky, hóa ra Percy chính là cựu thẩm phán Fane Yabber, Ricky là cựu thẩm phán tòa sơ thẩm Hartley Beach.

Địa chỉ của Ricky là hộp thư North Aladdin, bưu điện bãi biển Neptune. Điều khiến họ ngạc nhiên là Percy dùng một hộp thư ở bãi biển Đại Tây Dương, người thuê hộp thư này là một tổ chức tên là Laurel Ridge.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 6 năm 2026