Uông Vũ nở nụ cười từ tận đáy lòng. Bà coi Trương Hợp và Khi Ốm như con cháu trong nhà, từ khi chúng còn bé xíu đã bế ẵm, giờ thấy hai đứa bình an trở về, bà mừng rỡ khôn xiết.
"Hợp ca nhi, cháu thay đổi nhiều quá! Khỉ Ốm cũng vậy. Ta nhớ hồi nhỏ cháu gầy như que củi, giờ khác hẳn, vạm vỡ hẳn ra."
Hỏi han ân cần một hồi, Uông Vũ định ra bếp nấu cơm đãi hai người.
"Hợp ca nhi với Khỉ Ốm đợi nhé, mợ đi nấu cơm cho hai đứa."
"Không cần đâu mợ, người cháu mang đến đang nấu cơm trong bếp rồi."
"Sao lại để khách nấu cơm được?”
"Không sao đâu mợ, mợ cứ ngồi nói chuyện với bọn cháu là được."
". . ."
Uông Vũ ngồi xuống, hỏi han Trương Hợp và Khỉ Ốm về những ngày tháng chạy nạn.
"Hợp ca nhi, hai cháu chạy nạn đi đâu vậy?"
Thôn trưởng cũng tò mò nhìn Trương Hợp. Ông biết Trương Hợp và Khi Ốm trốn về phương nam, nhưng không rõ cụ thể là nơi nào.
"Chúng cháu chạy đến Thanh Châu."
Ánh mắt Trương Hợp thoáng nét hồi tưởng: "Những ngày chạy nạn thật sự quá gian khổ, cháu với Khỉ Ốm suýt chết đói dọc đường..."
Nghe Trương Hợp kể lại những chuyện đã trải qua, ánh mắt thôn trưởng và Uông Vũ lộ vẻ đồng cảm. Rời bỏ quê hương đã là một điều vô cùng khó khăn đối với người dân thường, huống chi...
Ly biệt quê hương còn phải chịu đói khát, thậm chí tranh giành thức ăn với người khác như thú dữ.
“Dọc đường, cháu với Khi Ốm đói đến mức phải gặm vỏ cây.”
Trương Hợp chua xót nói: "Không kể là vỏ cây hay đất sét trắng, cứ thứ gì ăn không chết người là cháu với Khỉ Ốm nhét vào mồm..."
Trương Hợp ngập ngừng rồi nói tiếp: "Tưởng đến huyện thành sẽ có đường sống, ai ngờ mọi chuyện không đơn giản như vậy. Đến nơi, chúng cháu còn không vào được thành, chỉ có thể ở ngoài thành, tranh giành chút đồ ăn ít ỏi với đám dân tị nạn khác."
"Ta nghe nói mấy nhà giàu trong thành hay phát cháo ngoài thành, các cháu không gặp sao?"
Uông Vũ hỏi.
...
Trương Hợp cười khẩy: "Nhưng cháo loãng đến mức nhìn thấy cả đáy nồi, lại còn ít ỏi. Hơn nghìn dân tị nạn, may ra được năm mươi người có cháo mà ăn."
Mấy nhà giàu phát cháo, thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là thực tế, chỉ là để tạo tiếng thơm, chứ họ chẳng quan tâm dân tị nạn có no bụng hay không, có chết đói hay không.
"Đương nhiên, cũng có người vào được thành."
Nói đến đây, giọng Trương Hợp càng thêm mỉa mai: "Mấy cô gái trẻ đẹp được mấy lão địa chủ để ý, gả bán thân cho họ, rồi vào phủ làm nô tỳ."
...
Thôn trưởng và Uông Vũ nhìn nhau. Lũ địa chủ đúng là thừa nước đục thả câu, lợi dụng lúc dân tị nạn đói khát để chiêu mộ nha hoàn, nô tỳ với giá rẻ mạt...
"Vậy các cháu sống sót bằng cách nào?"
Uông Vũ hỏi tiếp, từ lời Trương Hợp, bà hiểu được những khó khăn trên đường chạy nạn, và càng tò mò về cách hai người sống sót.
"Chúng cháu gặp may, gặp được quý nhân."
Trương Hợp đáp: "Cháu sống nghĩa khí nên được nhiều dân tị nạn ủng hộ, trở thành tiếu đầu mục. Cũng vì thế mà châu được Từ Trí Văn, huyện lệnh Thái Bình huyện, để ý."
Nghe Trương Hợp kể lại, vẻ mặt thôn trưởng và Uông Vũ càng thêm kinh ngạc.
Họ không ngờ Trương Hợp, đứa trẻ mà họ chứng kiến lớn lên, lại có thể làm nên chuyện lớn đến vậy!
Không chỉ giết chết mấy chục thành vệ quân, mà còn xông vào nhà địa chủ, tàn sát cả gia đình...
Nghĩ đến người trước mặt từng giết hơn mười, thậm chí cả trăm người, ánh mắt thôn trưởng và Uông Vũ không khỏi thoáng chút sợ hãi.
May mắn thay, nỗi sợ hãi đó nhanh chóng tan biến.
"Sau đó thì sao?"
Uông Vũ hỏi.
"Sau đó cháu trở thành bộ đầu Thái Bình huyện, còn Trương Hợp và các huynh đệ khác thì làm bộ khoái."
"Ra là làm bộ đầu!"
Thôn trưởng bừng tỉnh, bộ đầu tuy không phải quan to, nhưng quyền lực cũng không nhỏ, lại là chức béo bở, thảo nào Trương Hợp và Khi Ốm ăn mặc bảnh bao thế kia.
"Giờ cháu không còn làm bộ đầu nữa."
Trương Hợp bất ngờ lắc đầu: "Mấy tháng trước cháu đã từ chức rồi, giờ chỉ là một thương nhân."
Thương nhân ở Hạ quốc bị coi là nghề thấp kém, nhưng Trương Hợp không hề xấu hổ khi nhắc đến thân phận thương nhân, ngược lại còn có vẻ tự hào.
"Thương nhân?"
Thôn trưởng và Uông Vũ cùng ngạc nhiên, "Chức bộ đầu tốt thế sao lại bỏ để đi buôn?”
Trong ấn tượng của dân thường, bộ đầu, bộ khoái là những chức vị "bát sắt", đảm bảo thu nhập dù hạn hán hay lũ lụt, lại còn có thể vơ vét của cải.
Còn thân phận thương nhân... Hạ quốc là xã hội nông nghiệp, chính sách trọng nông ức thương khiến địa vị thương nhân rất khó xử.
Nói đơn giản, thương nhân là những người giàu có nhưng địa vị không cao, không thể so sánh với chức bộ đầu.
"Đương nhiên là vì làm thương nhân kiếm được nhiều tiền hơn."
Khi Ốm chen vào: "Bọn cháu làm bộ khoái thì tuy không lo ăn mặc, nhưng cũng chỉ có thể hưởng bổng lộc của Huyện lệnh. Bộ khoái nào dám nhúng chàm chắc chắn bị trừng trị. Vì vậy, khi làm bộ khoái, bọn cháu chỉ nhận được bổng lộc của quan phủ, còn làm thương nhân thì khác!”
Khỉ Ốm dừng lại một chút, đắc ý nói: "Cháu với Trương ca làm thương nhân, đi một chuyến có thể kiếm mấy trăm lượng bạc, gấp mấy trăm, thậm chí cả nghìn lần so với làm bộ khoái đấy!"
"Cái gì? Mấy trăm lượng bạc? Một chuyến?????"
Thôn trưởng và Uông Vũ trợn tròn mắt.
Là thôn trưởng Trương Vương thôn, Trương Hào cũng coi như từng trải. Dân thường có lẽ cả đời chẳng mấy khi thấy được một lượng bạc nguyên vẹn, nhưng Trương Hào thì đã từng thấy.
Thế mà, khi nghe Khi Ốm nói đi một chuyến có thể kiếm mấy trăm lượng bạc, Trương Hào vẫn chấn kinh tột độ.
Mấy trăm lượng bạc là khái niệm gì?
Không ngoa khi nói, ở Lương Châu nghèo nàn này, năm lượng bạc có thể mua được một mạng người, mấy trăm lượng bạc... có thể mua được mấy chục mạng người!
Mà số tiền có thể mua được mấy chục mạng người đó, chỉ là lợi nhuận một chuyến đi buôn của Khỉ Ốm và đồng bọn, làm sao Trương Hào không kinh ngạc cho được?
Trương Hào thậm chí không khỏi nghi ngờ, việc buôn bán của Khỉ Ốm có phải là cướp bóc không, nếu không sao có thể kiếm tiền nhanh đến vậy?