Những Chuyện Thời Minh – Tập 6

Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đối thủ thiên tài

❊ ❊ ❊

Năm Gia Tĩnh thứ 42 (1563), Tôn Thừa Tông chào đời tại Cao Dương, phủ Bảo Định, Bắc Trực Lệ (nay là huyện Cao Dương, tỉnh Hà Bắc).

Sinh ra ở vùng đất này chẳng phải chuyện may mắn gì.

Là một phần của phòng tuyến Kế Châu, một trong bốn trọng điểm phòng thủ của nhà Minh, Tôn Thừa Tông gần như trưởng thành ngay tại tiền tuyến.

Nơi này không tốt, hay nói đúng hơn là "quá tốt". Khi người Mông Cổ cường thịnh, họ thường xuyên ghé qua; khi người Nữ Chân lớn mạnh, họ cũng thường xuyên ghé qua. Sau này khi đổi tên thành nước Kim, họ vẫn thường xuyên đến, đến để cướp bóc.

Đến một lần, cướp một lần, đánh một lần.

Đây thực sự không phải nơi thích hợp để con người sinh sống. Những đứa trẻ khác đều sợ hãi, nhưng Tôn Thừa Tông thì không.

Chẳng những không sợ, ông còn sống rất phong lưu.

Ông yêu chiến tranh, thích nghiên cứu chiến tranh. Từ nhỏ, người ta đọc Tứ Thư, ông lại đọc binh thư. Khi trưởng thành, người ta đổ xô vào nội địa, ông lại chạy ra biên cương, chẳng vì lý do gì khác, chỉ muốn tận mắt nhìn thấy đường biên giới.

Năm Vạn Lịch thứ 6 (1578), tú tài phủ Bảo Định - Tôn Thừa Tông - đưa ra một quyết định: đi du học. Năm đó, ông mười sáu tuổi. Trong hơn mười năm sau đó, Tôn tú tài chu du bốn phương, nỗ lực học hỏi, rèn luyện cho mình bản lĩnh bảo quốc.

Tất nhiên, đó là cách nói chính thống trong sử liệu.

Thực tế, vị huynh đài này trong mười mấy năm qua, phần lớn là "du mà không học". Phải biết rằng, năm xưa ông thi đỗ tú tài không phải vì muốn báo quốc, mà suy cho cùng là để kiếm cơm ăn. Đi du học ư? Không cần ăn cơm chắc?

May thay, Tôn tú tài tìm được một công việc khá ổn - làm thầy giáo. Từ đó, ông bắt đầu phấn đấu trên mặt trận giáo dục, hơn nữa càng phấn đấu càng thành công, danh tiếng vang xa đến tận kinh thành.

Năm Vạn Lịch thứ 20 (1592), dưới sự mời gọi của một vị quan trong Binh bộ, Tôn tú tài đến kinh thành, trở thành một gia sư ưu tú.

Nhưng dần dần, Tôn Thừa Tông bắt đầu có những suy nghĩ khác. Ông nhận ra, chỉ dạy con nhà người ta thì chưa đủ, tìm người khác dạy con mình mới là đạo lý chính thống.

Thế là năm sau (1593), ông vào Quốc Tử Giám, dùi mài kinh sử. Một năm sau nữa (1594), ông thi đỗ cử nhân. Năm đó, ông ba mươi hai tuổi.

Thông thường, đỗ cử nhân thì hoặc là đi thi tiến sĩ, hoặc là kiếm một chức quan. Thế nhưng điều khó hiểu là Tôn cử nhân vẫn an tâm làm thầy giáo của mình. Nguyên nhân cụ thể không ai biết, có lẽ là do lương của ông khá cao.

Nhưng thực tế đã chứng minh, chính quyết định kỳ lạ này đã dẫn đến cuộc đời đặc biệt của ông.

Năm Vạn Lịch thứ 27 (1599), chủ nhân của Tôn Thừa Tông phụng mệnh đến Đại Đồng nhậm chức Tuần phủ Đại Đồng. Quan không thể bỏ, việc học của con cái cũng không thể lơ là, thế là Tôn Thừa Tông đi theo.

Tôi nhớ trong một chương trình phỏng vấn, từng có một tội phạm nói rằng: "Dù có tổ chức giáo dục pháp luật bao nhiêu lần cũng vô ích, chỉ cần cho tất cả mọi người vào tù ở hai ngày, tự mình trải nghiệm, thì sẽ không còn ai phạm tội nữa."

Tôi đồng ý với quan điểm này, và có lẽ Tôn Thừa Tông cũng vậy.

Tại nơi đó, Tôn Thừa Tông đã khám phá ra một thế giới vừa xa lạ lại vừa quen thuộc: những cuộc chém giết kinh hồn, chiến trường đầy máu tanh, những cuộc đấu trí và thử thách lòng dũng cảm.

Chiến tranh là trò chơi bí ẩn khó lường nhất, bấp bênh nhất, tàn khốc nhất, khó khăn nhất và thử thách chỉ số thông minh nhất trên thế giới này. Trên chiến trường, binh pháp không có tác dụng, quy tắc không có tác dụng, bởi lẽ ở đây, binh pháp tốt nhất chính là thực chiến, quy tắc duy nhất chính là không có quy tắc nào cả.

Thầy giáo Tôn ở Đại Đồng không có kinh nghiệm thực tế, cũng không thể ra trận giết địch. Tuy nhiên, một sự việc xảy ra đã đủ để chứng minh ông đã thấu hiểu chiến tranh.

Thời nhà Minh, làm lính là một công việc. Đã là công việc thì phải nhận lương, không nhận được lương thì tất nhiên phải làm loạn. Người bình thường làm loạn thì chỉ là chặn đường, gào thét vài câu; còn binh lính làm loạn thì khác, trong tay có vũ khí, đã làm loạn là làm tới cùng, thuật ngữ chuyên môn gọi là "binh biến".

Chuyện này ai gặp phải người đó xui xẻo, Tuần phủ Đại Đồng vận khí không tốt nên đụng phải. Có lần lương phát chậm một chút, binh lính không chịu, lại thêm kẻ xúi giục, thế là đám đại binh không nói lời nào, cầm đao xông thẳng đến nhà ông.

Tuần phủ đại nhân hoảng sợ không thôi, cửa nẻo bị chặn kín mít, muốn ra cũng không được, nghĩ tới nghĩ lui không có cách nào, đến cả ý định tự sát cũng đã nảy sinh.

Vào thời khắc mấu chốt, gia sư của ông là Tôn Thừa Tông tiên sinh đã xuất mã.

Thầy Tôn cũng chẳng nói gì, nhìn cảnh tượng tráng lệ trước mắt với những ánh đao chớp nhoáng và sự giận dữ ngút trời, ông chỉ bình tĩnh nói:

"Lương bổng rất đầy đủ, xin mọi người lần lượt ra ngoài lĩnh, kẻ nào mạo nhận, giết không tha."

Binh lính lập tức tan tác.

Biến vấn đề phức tạp trở nên đơn giản chính là tố chất cơ bản của một vị tướng ưu tú.

Sự trấn tĩnh, ung dung và không sợ hãi của Tôn Thừa Tông cho thấy ông có khả năng sử dụng phương pháp thích hợp nhất để xử lý cục diện rối ren nhất và đối phó với kẻ thù hung ác nhất.

Tại Đại Đồng, trong suốt năm năm, Tôn Thừa Tông đã nhìn thấy chiến tranh, thấu hiểu chiến tranh, biết về chiến tranh và cuối cùng nắm bắt được chiến tranh. Sự nắm bắt của ông đến từ thiên phú, lý thuyết và mỗi một lần cảm ngộ.

Ở Liêu Đông, Nỗ Nhĩ Cáp Xích - người lớn hơn ông ba tuổi - đang trên đường chinh phạt bộ lạc Cáp Đạt của người Nữ Chân. Lúc này, ông ta đã là một vị tướng tinh thông chiến tranh. Sự tinh thông của ông ta đến từ những cuộc chém giết, xung phong và mỗi một lần mạo hiểm sống chết.

Hai con người có thiên phú dị bẩm, bằng những cách thức khác nhau của riêng mình, đã bước vào lĩnh vực bí ẩn mang tên chiến tranh và thấu hiểu được những điều huyền bí bên trong.

Hai mươi năm sau, họ sẽ gặp nhau, dùng thực tiễn để kiểm chứng thiên tài và thành tích của mình.

"Gặp gỡ"

Năm Vạn Lịch thứ 32 (1604), Tôn Thừa Tông từ biệt chủ nhân, dấn thân lên đường đến kinh thành. Mục tiêu của ông là khoa cử. Năm đó, ông bốn mươi hai tuổi.

Trải qua bao thăng trầm, từ một tú tài, tú tài sa sút, thầy giáo, thầy giáo ưu tú, cử nhân, cho đến quan sát viên quân sự; chứng kiến sự tàn phá của chiến tranh, lắng nghe tiếng gào thét bất lực, thấu hiểu nỗi đau khổ không lối thoát, Tôn Thừa Tông cuối cùng đã xác định được con đường của mình.

Ông quyết định từ bỏ cuộc sống ổn định thoải mái, quyết định dâng hiến thân mình cho quốc gia.

Thế là sau vài chục năm sống cuộc đời lơ lửng, lão tướng khoa cử Tôn Thừa Tông dự định nghiêm túc thi một lần.

Sự nghiêm túc này có phần hơi quá đà.

Ngày công bố bảng vàng, Tôn Thừa Tông biết được thứ hạng của mình - đứng thứ hai, đứng thứ hai toàn quốc.

Nói cách khác, ông là Bảng nhãn.

Theo quy định của nhà Minh, Bảng nhãn tất nhiên phải là Thứ cát sĩ, tất nhiên phải là Hàn lâm. Vì vậy, sau khi được đào tạo bài bản, Tôn Thừa Tông bước chân vào Hàn lâm viện, trở thành một Biên tu chính thất phẩm.

Trước đây đã nói, triều đình nhà Minh rất coi trọng xuất thân. Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, muốn vào Nội các thì bắt buộc phải xuất thân từ Hàn lâm, nếu không, dù làm việc chăm chỉ hay năng lực xuất chúng đến đâu cũng vô ích. Đây là quy tắc ngầm được công nhận.

Nhưng xin đặc biệt lưu ý, muốn vào Nội các thì bắt buộc phải là Hàn lâm, nhưng là Hàn lâm thì chưa chắc đã được vào Nội các.

Dẫu sao trong Hàn lâm viện đâu chỉ có một người, các chức Học sĩ, Thị độc học sĩ, Thị giảng, Tu soạn, Kiểm thảo nhiều vô kể. Nội các mới có mấy người, còn phải xếp hàng chờ đợi, người phía trước chết một người thì người sau mới được lên, thực sự không dễ dàng.

Tôn Thừa Tông chính là một trong những người xếp hàng chờ đợi đó. Vận may của ông không tốt, đợi suốt mười năm vẫn không có kết quả.

Năm thứ mười một, cơ hội đến.

Năm Vạn Lịch thứ 42 (1614), Tôn Thừa Tông được điều sang làm Dụ đức ở Chiêm sự phủ.

Đây là một chức quan nhỏ, nhưng có tiền đồ rộng mở vì chức trách chính của nó là giảng bài cho Thái tử.

Từ đó, Tôn Thừa Tông trở thành thầy giáo của Thái tử Chu Thường Lạc. Phía trước chờ đợi ông là một tương lai vô cùng tươi sáng.

Tươi sáng được đúng một tháng.

Năm Vạn Lịch thứ 48 (1620), Minh Quang Tông Chu Thường Lạc băng hà chỉ sau một tháng lên ngôi.

Nhưng đối với Tôn Thừa Tông, điều này chẳng ảnh hưởng gì, vì ông đã tìm được một học trò mới - Chu Do Hiệu.

Dạy xong cha rồi lại dạy con, thật có thể gọi là "hối nhân bất quyện" (dạy người không biết mỏi).

Thiên Khải hoàng đế Chu Do Hiệu cả đời này không đọc sách mấy, chỉ thích làm thợ mộc, nên ngoài sư phụ dạy mộc ra, ông chẳng mấy mặn mà với các thầy giáo khác.

Tôn Thừa Tông là trường hợp ngoại lệ duy nhất.

Do thầy Tôn lâu nay làm công tác giáo dục trẻ em (tư thục), đối với những đứa trẻ kiểu "khúc gỗ", kiểu "đần độn", kiểu "lười biếng", ông luôn có cách. Vì vậy, sau vài buổi dạy, hoàng đế bệ hạ lập tức yêu quý thầy Tôn. Ngài chưa bao giờ gọi tên Tôn Thừa Tông, mà thay bằng một cách xưng hô cố định: "Ngô sư" (Thầy của ta).

Cách xưng hô này, hoàng đế bệ hạ đã gọi suốt bảy năm, cho đến tận khi qua đời.

Ngài luôn giữ vững sự tin tưởng đối với thầy Tôn, bất kể là ai, dùng cách nào, xúi giục hay gièm pha, đều vô ích.

Cái "ai" mà tôi nhắc đến ở đây chính là Ngụy Trung Hiền.

Chính vì mối quan hệ thân thiết, chỗ dựa vững chắc, con đường làm quan của thầy Tôn thăng tiến rất nhanh, gần như bay. Chỉ trong một năm, ông từ một quan nhỏ ngũ phẩm được thăng lên Binh bộ Thượng thư, vào Nội các, trở thành Đông các Đại học sĩ.

Vì thế, khi bức thư mật báo kia được dâng lên, Thiên Khải mới tìm Tôn Thừa Tông để hỏi ý kiến ông.

Thế nhưng câu trả lời của đồng chí Tôn Thừa Tông lại nằm ngoài dự đoán của hoàng đế:

"Thần cũng không biết nên quyết đoán thế nào."

May thay câu sau vẫn còn một vế:

"Để thần đi xem thử đã."

Năm Thiên Khải thứ 2 (1622), Binh bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ Tôn Thừa Tông đến Sơn Hải quan.

Tôn Thừa Tông không hiểu rõ Vương Tại Tấn, nhưng sau khi đi một vòng Sơn Hải quan và Bát Lý Phố, ông đã có một nhận định trực quan và rõ ràng về Vương đại nhân - người này là một kẻ ngốc.

Ông lập tức triệu Vương Tại Tấn đến và bắt đầu một cuộc đối thoại vô cùng nổi tiếng trong lịch sử.

Khi bắt đầu cuộc đối thoại, bầu không khí rất hài hòa, giọng điệu của Tôn Thừa Tông vô cùng khách khí:

"Sau khi tân thành của ông xây xong, ông định điều bốn vạn quân ở cựu thành sang đó đồn trú sao?"

Vương Tại Tấn vốn tưởng Tôn đại nhân đến gây khó dễ, không ngờ lại thân thiện như vậy, liền đáp ngay:

"Không phải, tôi định điều thêm bốn vạn người nữa đến giữ thành."

Nhưng Vương đại nhân không biết rằng, Tôn tiên sinh là người từng làm thầy giáo, đối với kẻ ngốc chưa bao giờ đánh một gậy chết tươi, mà luôn từ từ hành hạ:

"Theo lời ông nói, vậy trong vòng tám dặm có tới tám vạn quân thủ thành, đúng không?"

Vương đại nhân vẫn chưa kịp hiểu ra, vui vẻ đáp:

"Đúng vậy, không sai."

Thế là, đã đến lúc thầy Tôn tính sổ:

"Chỉ có tám dặm mà lại có tới tám vạn quân thủ thành? Ông xây tân thành ở phía trước cựu thành, vậy những mìn bẫy, hố ngựa ở trước cựu thành, ông định để người của chúng ta tự đi dẫm phải à?!"

"Tân thành cách cựu thành gần như vậy, nếu tân thành giữ được thì cần cựu thành làm gì?!"

"Nếu tân thành không giữ được, bốn vạn quân bại trận chạy về dưới chân cựu thành, ông định mở cửa cho họ vào, hay đóng cửa thủ thành, nhìn họ chết sạch?!"

Vương đại nhân chắc là bị mắng đến đờ người, hồi lâu không nói được câu nào, nghĩ mãi mới thốt ra được một câu:

"Tất nhiên không thể mở cửa, nhưng có thể để họ đi đường Tam Đạo quan ngoài cửa ải vào. Ngoài ra, tôi còn xây ba tòa quân trại trên núi để tiếp ứng cho quân bại trận."

Đứa trẻ ngu ngốc thế này, chắc thầy Tôn chưa từng gặp bao giờ, nên ông thực sự nổi giận:

"Trận đánh còn chưa bắt đầu, ông đã chuẩn bị tiếp ứng cho quân bại trận rồi? Chẳng phải là xúi giục họ đánh thua sao? Hơn nữa quân ta có thể vào quân trại, địch quân không vào được chắc? Cục diện đang nguy cấp thế này, không nghĩ đến việc khôi phục lãnh thổ, chỉ nghĩ đến việc trốn trong cửa ải, kinh thành sẽ không bao giờ được yên ổn!"

Bạn học Vương hoàn toàn câm nín.

Thực tế đã chứng minh thầy Tôn đúng. Nếu cửa ải mới bị công phá, cửa ải cũ chắc chắn khó giữ, vì hai nơi chỉ cách nhau tám dặm, lính đào ngũ không còn đường chạy, chỉ có thể chạy vào trong ải. Đến lúc đó, lính đào ngũ làm tiên phong, Nỗ Nhĩ Cáp Xích làm hậu đội, không cần đánh, chỉ cần chen lấn cũng có thể chen vỡ cổng thành.

Điều này chứng minh đầy đủ rằng, kẻ nghĩ ra kế hoạch này - Vương Tại Tấn - là một tên ngốc không hơn không kém.

Nhưng thầy Tôn thông minh dường như cũng chẳng phải kẻ hiền lành gì. Ông không có kiên nhẫn giúp đỡ học trò chậm chạp Vương Tại Tấn, liền viết ngay một bức thư cho học trò khác của mình - hoàng đế bệ hạ - trực tiếp điều Vương Kinh lược đến Nam Kinh dưỡng lão.

Đuổi Vương Tại Tấn đi rồi, Tôn Thừa Tông nhớ đến bức thư kia, liền dặn dò người bên cạnh:

"Gọi người đã viết thư chỉ trích Vương Tại Tấn đến đây."

Rất nhanh, ông đã gặp được người chuyên đi mật báo cấp trên kia. Ông cùng người này đàm đạo suốt đêm, vừa gặp đã như tri kỷ, cảm phục tài năng, dũng khí và tư chất của người này.

Đây là lần gặp gỡ đầu tiên giữa vị anh hùng dân tộc không gây tranh cãi Tôn Thừa Tông và vị anh hùng dân tộc gây tranh cãi Viên Sùng Hoán.

Tôn Thừa Tông vô cùng ngưỡng mộ Viên Sùng Hoán, ông tin chắc rằng đây là nhân vật nhất định sẽ làm chấn động thiên hạ, dù lúc đó Viên tiên sinh chỉ là một vị Binh bị Thiêm sự chính ngũ phẩm.

Thực tế, Vương Tại Tấn không phải kẻ thù của Viên Sùng Hoán, ngược lại, ông ta luôn rất thích Viên Sùng Hoán, còn tin tưởng hết mực. Nhưng Viên Sùng Hoán vẫn mật báo ông ta, hơn nữa còn không chút do dự.

Đối với thắc mắc này, câu trả lời của Viên Sùng Hoán rất đơn giản:

"Vì phán đoán của ông ta sai, Bát Lý Phố không thể giữ được Sơn Hải quan."

Thế là Tôn Thừa Tông hỏi câu thứ hai:

"Theo ngươi, nên chọn nơi nào?"

Viên Sùng Hoán trả lời, chỉ có một lựa chọn duy nhất.

Sau đó, tay ông chỉ vào địa điểm duy nhất đó - Ninh Viễn.

Ninh Viễn, tức Hưng Thành, Liêu Ninh ngày nay, nằm ở trung tâm hành lang Liêu Tây, cách Sơn Hải quan hơn hai trăm dặm, là cứ điểm quan trọng của Liêu Tây, vị trí vô cùng hiểm yếu.

Mặc dù hầu như tất cả mọi người đều cho rằng Ninh Viễn rất quan trọng, rất hiểm yếu, nhưng hầu như tất cả mọi người cũng đều cho rằng, cố thủ Ninh Viễn là một quyết định ngu xuẩn.

Bởi vì nhà Minh lúc bấy giờ đã mất toàn bộ Liêu Đông, trong tay chỉ còn lại Sơn Hải quan, ngoài cửa ải toàn là kẻ thù. Chạy ra ngoài hơn hai trăm dặm, đến trước mặt kẻ thù để mở căn cứ địa, chủ động rơi vào vòng vây, để địch vây đánh, đây không phải dũng cảm, đây là "thiếu não".

Ban đầu tôi cũng không hiểu, sau đó tôi có một chuyến đến Ninh Viễn và đã hiểu ra.

Ninh Viễn là một thành phố không lớn, cũng chẳng nổi bật, nhưng khi tôi lên thành lầu, nhìn địa hình xung quanh, mới cuối cùng xác định được, đây là nơi định sẵn khiến Nỗ Nhĩ Cáp Xích phải khóc dở mếu dở.

Bởi vì ba mặt của nó bao quanh bởi núi, còn một mặt là biển.

Nói Ninh Viễn là vùng núi thực ra cũng không quá lời. Phía đông là Thủ Sơn, phía tây là Khổng Lũng Sơn, con đường ở giữa rất hẹp, là địa hình "quan môn đả cẩu" (đóng cửa đánh chó) điển hình. Nỗ Nhĩ Cáp Xích muốn từ phía bắc tấn công nơi này là điều vô cùng vất vả.

Tất nhiên, sẽ có người nói, đã khó đi thì không đi nữa là được chứ gì.

Rất tiếc, tuy đi đường này rất khó chịu, nhưng không đi không được, vì Liêu Đông tuy rộng lớn, muốn tấn công Sơn Hải quan, bắt buộc phải đi qua đây.

Đường này không thông khiến người ta phiền não, thêm việc không còn đường nào khác, thì chỉ có thể đâm đầu vào tường.

Đúng vậy, vẫn sẽ có người nói, Liêu Đông đã mất, đây chỉ là tòa thành cô độc, Nỗ Nhĩ Cáp Xích nắm ưu thế, binh lực hùng mạnh, huy động vài vạn người vây chặt thành, chỉ riêng việc vây thành thôi cũng đủ làm người ta chết đói.

Đây là phương án khả thi trên lý thuyết, chỉ là lý thuyết mà thôi.

Nếu Nỗ Nhĩ Cáp Xích làm như vậy, tôi có thể khẳng định, kẻ bị kéo sập trước tiên chắc chắn là chính ông ta.

Bởi vì điều khiến người ta tuyệt vọng nhất ở Ninh Viễn không phải là núi, mà là biển.

Nhà Minh để chinh chiến Liêu Đông đã xây dựng các nhà kho ở khu vực Đăng Châu, Sơn Đông. Nếu gặp địch vây thành, thuyền bè có thể vận chuyển lương thực, trang bị liên tục đến vùng ven biển, tất nhiên bao gồm cả Ninh Viễn.

Mà Nỗ Nhĩ Cáp Xích chỉ có thể trơ mắt nhìn tất cả những điều đó xảy ra. Phải biết rằng, trong quân đội của ông ta không có binh chủng hải quân.

Quan trọng hơn, cách Ninh Viễn không xa có đảo Giác Hoa, trên đảo có nhà kho hậu cần của quân Minh, có thể chi viện cho Ninh Viễn bất cứ lúc nào.

Sở dĩ xây nhà kho trên đảo, lý do rất đơn giản: người nhà Minh đều biết Hậu Kim không có hải quân, không có cánh, không thể bay qua được.

Nhưng có vài chuyện, không thể nói chắc được.

Tháng trước, tôi từ Ninh Viễn đi thuyền đến đảo Giác Hoa (nay gọi là đảo Cúc Hoa), mới phát hiện ra cái gọi là "không xa" thực ra cũng khá xa, đi trên biển hơn nửa tiếng mới tới.

Lên bờ rồi, chỉ có thể nhìn xa xa về phía Ninh Viễn, thế là tôi hỏi người dân địa phương một câu: "Các người cách đất liền xa như vậy, vận chuyển nhu yếu phẩm bằng thuyền chắc phiền phức lắm nhỉ?"

Anh ta trả lời: "Chúng tôi cũng dùng ô tô chở, không phiền phức."

Rồi bổ sung thêm một câu: "Mùa đông, mặt biển sẽ đóng băng."

Tôi lại hỏi: "Mặt biển rộng thế này (tôi ước lượng khoảng gần mười cây số), đều đóng băng được sao?"

Anh ta đáp: "Thông thường thì không đóng băng được."

Sau đó vẫn bổ sung: "Năm ngoái, nó đã đóng băng."

Năm ngoái là năm 2007, mùa đông rất lạnh.

Thế là, tôi nhớ đến cuộc chiến kinh thiên động địa xảy ra ở đây 381 năm trước, tôi biết, mùa đông năm đó cũng rất lạnh.

"Học trò"

Tôn Thừa Tông chấp nhận ý kiến của Viên Sùng Hoán, ông quyết định xây thành ở Ninh Viễn.

Trọng trách xây thành, ông giao cho Viên Sùng Hoán.

Nhưng để chuẩn bị cho cuộc chiến sắp tới, những điều này vẫn chưa đủ, còn rất nhiều việc phải làm.

Việc đầu tiên Tôn Thừa Tông làm chính là luyện binh.

Lúc bấy giờ, số lượng binh lính dưới trướng ông có hơn bảy vạn người, con số khá lớn, nhưng cũng chỉ là con số mà thôi. Kiểm tra mới biết, có tới hơn vạn người hoàn toàn không tồn tại, đều là quân số ảo, lương bổng đều bị các lão lãnh đạo lấy hết.

Đây là người giả, số người thật còn lại cũng chẳng ra gì. Nhiều lính là đám "lão binh dầu nhớt", lúc lĩnh lương thì tranh nhau xung phong, lúc đánh trận thì tranh nhau chạy trốn, đặc biệt là lính ở một số nơi trong ải, nghe nói tốc độ chạy trốn của họ, địch quân cưỡi ngựa cũng đuổi không kịp.

Đối với đám người này, Tôn Thừa Tông chỉ dùng một từ để đuổi tất cả: "Cút".

Ông giải tán hơn vạn "tiên phong rút lui" đó, vì ông đã tìm được một nhóm người có sức chiến đấu cực mạnh - nạn dân.

Nạn dân là những người vốn sống yên ổn, đột nhiên bị đuổi đi, ruộng đất bị chiếm, nhà cửa bị đốt, vợ con bị giết, sống không được, chết không xong. Để những người như vậy tham gia quân đội đánh trận, không cần phải vận động gì cả.

Tôn Thừa Tông chọn ra bảy ngàn người từ đám nạn dân, biên chế vào quân đội của mình. Bốn năm sau, nỗi thù hận của họ sẽ trở thành sức mạnh chiến thắng kẻ thù.

Ngoài ra, ông còn làm rất nhiều việc, đại khái như sau: sửa chữa 9 tòa thành lớn, 45 tòa thành nhỏ; luyện 11 vạn quân, huấn luyện 5 vạn cung nỏ thủ và pháo thủ; lập 12 doanh quân, 5 doanh thủy, 2 doanh hỏa, 8 doanh tiền phong hậu kính; chế tạo hàng vạn giáp trụ, khí giới quân sự, cung tên, đá pháo, cừ đáp (đá dùng để thủ thành), lỗ thuẫn (khiên chắn). Ngoài ra, mở rộng lãnh thổ 400 dặm; chiêu mộ hơn 40 vạn người Liêu, huấn luyện 3 vạn quân Liêu; đồn điền 5000 khoảnh, thu nhập hàng năm 15 vạn lượng bạc.

Chi tiết cụ thể không rõ, nhưng xem ra đúng là rất nhiều.

Có thể nói, những công việc này của Tôn Thừa Tông rất quan trọng, nhưng tuyệt đối không phải là quan trọng nhất.

Điều quan trọng nhất của thế kỷ XVII là gì? Là nhân tài.

Năm Thiên Khải thứ 2 (1622), Tôn Thừa Tông đã sáu mươi tuổi. Ông hiểu rất rõ, dù mình am hiểu chiến tranh, tinh thông chiến tranh, có năng lực cứu vãn cục diện nguy nan, nhưng dù sao ông cũng đã già.

Vì giang sơn Đại Minh, vì sự an nguy của bách tính, vì lý tưởng báo quốc, Tôn Thừa Tông - người làm thầy suốt cả đời - quyết định thu nhận người học trò cuối cùng, và truyền thụ lại toàn bộ mưu lược, chiến pháp, niềm tin không sợ hãi, cũng như dũng khí không bao giờ từ bỏ hy vọng cho anh ta.

Ông rất an lòng, vì đã tìm được người kế thừa phù hợp - Viên Sùng Hoán.

Trong mắt ông, Viên Sùng Hoán tuy không xuất thân từ võ tướng (đỗ tiến sĩ), cũng chưa từng đánh trận mấy, nhưng đây là người có thiên phú quân sự xuất chúng, có thể đưa ra phán đoán chính xác trong tình thế phức tạp.

Quan trọng hơn, anh ta có quyết tâm tử chiến trên sa trường.

Bởi trên chiến trường, kẻ cầu sống thì chết, kẻ cầu chết thì sống.

Trong thời gian sau đó, ông dốc sức bồi dưỡng Viên Sùng Hoán, đi tuần tra mang theo anh ta, luyện binh mang theo anh ta, thậm chí những quyết sách cơ mật cũng để anh ta tham dự.

Tất nhiên, ngoài việc "mở lớp phụ đạo" cho bạn học Viên, thầy Tôn còn để anh làm "cán bộ lớp". Từ Ninh Tiền Binh bị phó sứ, Ninh Tiền đạo, cho đến cán bộ dự bị cao cấp của Bộ Lại (Tuần phủ), chỉ mất ba năm.

Viên Sùng Hoán dùng hành động thực tế chứng minh mình là một học sinh ưu tú không chút tì vết. Trong ba năm, anh đã hoàn thành xuất sắc công việc của mình, đồng thời nắm vững tất cả các kỹ năng, chiến thuật và chiến lược mà Tôn Thừa Tông truyền thụ.

Trong những năm này, ngoài việc học tập, công việc chính của Viên Sùng Hoán là xây dựng thành Ninh Viễn, tăng cường phòng thủ. Thế nhưng một ngày nọ, anh đột nhiên nhận ra một vấn đề:

Quân Hậu Kim chủ yếu là kỵ binh, giỏi đột kích, hành động nhanh nhẹn, cướp xong là chạy. Mà quân Minh chủ yếu là bộ binh, chất lượng kỵ binh lại kém, đánh đến cuối cùng chỉ có thể cố thủ thành trì. Về cơ bản là "địch tiến ta lùi, địch lùi ta không truy", cứ tiếp tục như vậy thì đến bao giờ mới kết thúc?

Đúng vậy, phòng thủ là không đủ, chỉ dựa vào thành trì, bộ binh cố thủ là hoàn toàn không đủ.

Cách duy nhất để chiến thắng hoàn toàn kỵ binh hùng mạnh của kẻ thù chính là xây dựng một đội kỵ binh hùng mạnh tương xứng.

Vì vậy, dưới sự giúp đỡ của thầy Tôn, anh bắt đầu chiêu mộ nạn dân, tuyển chọn kỹ lưỡng, huấn luyện nghiêm ngặt. Chỉ những binh lính dũng mãnh tinh nhuệ nhất, mang trong mình nỗi thù hận sâu sắc nhất mới có quyền tham gia đội quân này.

Đồng thời, anh nuôi dưỡng ngựa chiến ưu tú, chế tạo lượng lớn hỏa khí tiên tiến nhất của nhà Minh là "Tam nhãn súng", cấp phát cho từng người, đồng thời không ngừng tập luyện chiến pháp kỵ binh, xung phong chém giết, không một chút lơ là.

Bởi vì thứ mà ông cần, chính là một đội quân như thế này: dù đối mặt với nghịch cảnh, hay rơi vào vòng vây trùng điệp, đội quân này đều có thể chiến đấu đến giây phút cuối cùng, tuyệt đối không đầu hàng.

Ông đã thành công.

Cuối cùng, ông đã huấn luyện ra được một đội quân như vậy, một đội quân mà hai cha con Nỗ Nhĩ Cáp Xích và Hoàng Thái Cực dốc hết cả đời, cho đến tận khi nhà Minh diệt vong, cũng không thể đánh bại hoàn toàn.

Trong lịch sử, tên của đội quân này gọi là Quan Ninh Thiết Kỵ.

Sự trưởng thành của Viên Sùng Hoán vượt xa dự liệu của Tôn Thừa Tông, dù là luyện binh, phòng thủ hay chiến thuật, tất cả đều đã trở nên không kẽ hở. Mặc dù lúc này, ông vẫn chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt.

Đối với người học trò này, thầy Tôn vô cùng hài lòng.

Thế nhưng, cuối cùng ông vẫn phát hiện ra một khuyết điểm của Viên Sùng Hoán, một khuyết điểm trông có vẻ chẳng đáng kể, từ một chuyện nhỏ trông có vẻ cũng chẳng đáng kể.

Năm Thiên Khải thứ ba (1623), Liêu Đông Tuần phủ Diêm Minh Thái nhận được tố cáo, nói Phó Tổng binh Đỗ Ứng Khôi mạo lĩnh quân lương.

Nếu là ngày thường, chuyện này cũng chẳng tính là gì, nhưng thầy Tôn vừa mới chỉnh đốn xong, vậy mà có kẻ dám "ngược gió gây án", bắt buộc phải nghiêm trị.

Thế là ông phái Viên Sùng Hoán đi xác minh việc này.

Viên Sùng Hoán rất có trách nhiệm, sau khi đến nơi không ăn không ngủ, bắt đầu kiểm tra sổ sách, đối chiếu nhân số. Tính toán một hồi, không sai, Đỗ Tổng binh quả thực đã tham ô. Gọi đến đối chất, Đỗ Tổng binh cũng thừa nhận.

Theo quy định, chức trách của đặc phái viên họ Viên đến đây là kết thúc, nên quay về báo cáo tình hình.

Thế nhưng Viên đại nhân dường như quá tích cực, cuộc nói chuyện vừa kết thúc, ông lại chẳng thèm chào hỏi một câu, tại chỗ chém đầu Đỗ Tổng binh luôn. Lúc bị chém, Đỗ Tổng binh còn đang trong dáng vẻ khóc lóc thảm thiết hối lỗi.

Sự việc xảy ra quá đột ngột, những người có mặt đều ngẩn ngơ. Đợi đến khi mọi người hoàn hồn, một số bộ hạ của Đỗ Tổng binh đã vác khí giới, chuẩn bị xông về phía Viên đại nhân.

Dù sao cũng là quan viên triều đình, ông lại không phải là cấp trên trực tiếp, chẳng có mệnh lệnh gì, đến nơi là chém người, thế là thế nào?

May mà Đỗ Tổng binh chỉ là Phó Tổng binh, người đứng đầu vẫn còn đó, hết lời khuyên can mới xoa dịu được cảm xúc của quần chúng, đặc phái viên họ Viên lúc này mới bình an trở về.

Sự đãi ngộ đầu tiên sau khi trở về chính là một trận mắng nhiếc tơi bời của Tôn Thừa Tông:

"Trước khi giết người, lại không thỉnh thị! Sau khi giết người, lại không thông báo! Binh lính suýt chút nữa làm phản, ngươi cũng không báo cáo! Đến tận bây giờ, ta còn không biết ngươi rốt cuộc đã giết kẻ nào! Với lý do gì mà giết hắn!"

"Nghe nói lúc ngươi giết người, chỉ nói là phụng mệnh cấp trên. Nếu ngươi dựa vào mệnh lệnh cấp trên là có thể giết người, vậy thì còn cần Thượng phương bảo kiếm (hoàng đế đặc biệt ban cho Tôn Thừa Tông một thanh) để làm gì?!"

Viên Sùng Hoán không hé răng.

Xét về bản chất sự việc, nó không lớn, nhưng lại vô cùng ác liệt. Vừa không phải lãnh đạo trực tiếp, lại không có Thượng phương bảo kiếm, vậy mà dám tự tiện giết người, thực sự quá ngông cuồng.

Nhưng lúc này nhân tài khó kiếm, vì một chuyện như vậy mà xử lý Viên Sùng Hoán thì dường như cũng không thực tế. Thế là Tôn Thừa Tông đè chuyện này xuống, ông hy vọng Viên Sùng Hoán có thể rút ra bài học từ đó: làm việc theo cảm tính, tùy tiện giết người là hoàn toàn sai lầm.

Về sau đã chứng minh, Viên Sùng Hoán quả thực đã rút ra bài học, tất nhiên, nhận thức của ông và thầy Tôn có điểm khác biệt:

Không phải lãnh đạo, không có Thượng phương bảo kiếm mà tự tiện giết người là không đúng, vậy thì nếu là lãnh đạo, có Thượng phương bảo kiếm, rồi lại tự tiện giết người, thì chắc là đúng rồi.

Xét từ một góc độ nào đó, cả đời ông chính là gục ngã vì nhận thức này.

Tuy nhiên, bộ phận phục tùng tổng thể, Đỗ Tổng binh chết thì cũng đã chết, không sao cả. Thực tế, lúc này tình hình Liêu Đông đang rất tốt, Ninh Viễn cùng các cứ điểm lân cận như Tùng Sơn, Trung Tiền Sở, Trung Hậu Sở đã nối liền thành một dải, phòng tuyến Quan Ninh (Sơn Hải Quan – Ninh Viễn) nổi tiếng đã bước đầu hình thành. Quân Minh đồn trú đã lên tới mười một vạn người, lương thực có thể cung ứng trong hơn ba năm, hơn hai trăm cây số đất đai ngoài quan ải đã quay trở lại trong tay nhà Minh.

Tôn Thừa Tông đã tu sửa thành trì, chỉnh đốn quân đội, tìm được học trò, khôi phục lãnh thổ, nhưng tất cả những điều này vẫn chưa đủ.

Để đối phó với kẻ địch sắp tới, chỉ dựa vào Viên Sùng Hoán là không được, bắt buộc phải tìm thêm vài trợ thủ đắc lực.

"Trợ thủ"

Khi Viên Sùng Hoán mới đến Ninh Viễn, thứ ông nhìn thấy là tường đổ gạch nát, một mảnh hoang vu, không khỏi cảm thán rất nhiều.

Thế nhưng rất nhanh đã có người nói với ông, đây là mới tu sửa xong. Thực tế, đã có một vị tướng lĩnh xây thành ở đây, hơn nữa còn xây hơn một năm rồi.

Xây hơn một năm mà thành ra cái bộ dạng tồi tàn này, Viên Sùng Hoán vô cùng tức giận, thế là ông gọi người này tới, mắng cho một trận tơi bời.

Không ngờ, vị huynh đài này hoàn toàn không có sự giác ngộ như Đỗ Tổng binh bị chém chết lúc trước, không những không nhận sai, mà còn nhảy dựng lên, cãi tay đôi với Viên đại nhân, mở miệng là những lời hỗn xược kiểu như "lão tử đánh bao nhiêu năm trận, ngươi hiểu cái rắm gì".

Đây chính là màn ra mắt đầu tiên của vị Du kích tướng quân lười biếng lúc bấy giờ, danh tướng Liêu Đông sau này – Tổ Đại Thọ.

Tổ Đại Thọ là một người rất nổi tiếng, nổi tiếng đến mức ngay cả người hầu làm việc trong nhà ông là Tổ Khoan cũng được đưa vào Minh sử liệt truyện. Tuy nhiên, liệt truyện của chính vị danh nhân này lại nằm trong Thanh sử cảo, bởi vì cuối cùng ông ta đã đổi chủ.

Nhưng kỳ lạ ở chỗ, so với những người có cảnh ngộ tương tự như Ngô Mỗ Mỗ, Thượng Mỗ Mỗ, Cảnh Mỗ Mỗ, danh tiếng của ông lại rất tốt, người nói ông là Hán gian dường như không nhiều. Nguyên nhân nằm ở chỗ, hầu như tất cả mọi người đều cho rằng, ông đã làm tròn bổn phận của mình.

Tổ Đại Thọ, tự Phục Vũ, người Ninh Viễn, Liêu Đông, sinh ở Ninh Viễn, lớn lên ở Ninh Viễn, tòng quân cũng ở Ninh Viễn. Người này tính khí nóng nảy, phẩm hạnh hung hãn, thích cầm đao chém người, và dựa vào thành tích chém người nhiều năm mà thăng quan lên làm Du kích, thời Hùng Đình Bật còn tại vị rất coi trọng ông.

Sau này Hùng Đình Bật đi, Vương Hóa Trinh đến, cũng rất coi trọng ông, và bổ nhiệm ông làm Trung quân Du kích, trấn thủ thành Quảng Ninh.

Sau đó nữa, Tôn Đắc Công làm phản, Vương Hóa Trinh bỏ chạy, thời khắc then chốt, Tổ Đại Thọ không nói hai lời, cũng chạy theo.

Nhưng ông không chạy về, mà dẫn quân chạy đến đảo Giác Hoa tiếp tục cố thủ.

Giữ vững nguyên tắc nhưng không chịu thiệt thòi trước mắt, nhìn từ những việc ông đã làm trong mười mấy năm sau đó, đây chính là triết lý sống mà ông kiên trì đến cùng.

Đối với một kẻ đã tham quan điện Diêm Vương mấy lần như ông, kẻ xuất thân tiến sĩ, ngay cả trận đánh nào cũng chưa từng trải qua như Viên Sùng Hoán, lại dám chạy đến đây giở oai, chính là tự tìm nhục, không mắng không được.

Quá trình cuộc cãi vã này không rõ ràng, nhưng kết quả thì rất rõ ràng. Viên đại nhân tuy chưa từng làm lính, nhưng tính khí còn tệ hơn cả đám lính, đúng như câu nói nổi tiếng của ông: "Ngươi tưởng bản bộ viện là một thư sinh, bản bộ viện lại chính là một tướng soái!" Hai bên qua lại, vài hiệp sau, Tổ Đại Thọ nhận thua.

Từ đó, ông trở thành bộ hạ trung thành của Viên Sùng Hoán, là tướng lĩnh ưu tú của Đại Minh, là bức tường đồng vách sắt không thể vượt qua của kỵ binh Hậu Kim.

Tổ Đại Thọ, trợ thủ đầu tiên của Viên Sùng Hoán.

Thực ra cái tên Tổ Đại Thọ rất dễ gây hiểu lầm, vì dùng giọng địa phương, không để ý sẽ đọc thành "Tổ Đại Cữu" (Cậu lớn). Để không loạn vai vế, dù là cấp trên hay cấp dưới, đều chỉ gọi chức vụ của ông, chứ không gọi tên.

Chỉ có một người, từ đầu đến cuối, kiên định không đổi gọi ông là "Đại Cữu", nguyên nhân rất đơn giản, Tổ Đại Thọ quả thực là cậu của người đó.

Người này tên là Ngô Tam Quế.

Lúc đó Ngô Tam Quế mới mười một, mười hai tuổi, chưa thành niên, đã chưa thành niên thì không nói nhiều nữa. Thực tế, vào năm đó, cha của ông là Ngô Tương, là một nhân vật quan trọng hơn ông nhiều.

Ngô Tương, người Tuy Trung, Liêu Ninh, tổ quán ở Cao Bưu, Giang Tô, là Võ cử nhân.

Thực ra theo sử liệu, tổ tiên của tiên sinh Ngô Tương vốn là người buôn bán, từ Giang Tô chạy đến Liêu Đông là để làm ăn. Thế nhưng đến đời ông, đoán chừng là thời buổi loạn lạc, việc làm ăn khó khăn, thế là cắn răng đi thi Võ cử, từ đó tham gia quân đội, bước lên con đường binh nghiệp.

Do tiên sinh Ngô có tố chất cao, có văn hóa (ít nhất là biết chữ), không giống đám ngu ngốc thô lỗ trong quân doanh, nên Tổ Đại Thọ khá coi trọng, cố ý đề bạt, còn gả em gái mình cho ông.

Ngô Tương không phụ sự tin tưởng của Tổ Đại Thọ, trong hơn mười năm chiến đấu sau đó, ông và con trai mình sẽ trở thành trụ cột mà Đại Minh dựa vào.

Ngô Tương, trợ thủ thứ hai của Viên Sùng Hoán.

Trước khi chạy đến Ninh Viễn, Ngô Tương và Tổ Đại Thọ là cấp dưới của Vương Hóa Trinh, trước khi Vương Hóa Trinh đến, họ là cấp dưới của Mao Văn Long.

Nhìn lại bây giờ, Mao Văn Long dường như không nổi tiếng, cũng không quan trọng, nhưng vào lúc đó, ông là một người vô cùng nổi tiếng và cực kỳ quan trọng, ít nhất là quan trọng hơn Viên Sùng Hoán rất nhiều.

Viên Sùng Hoán đầu thời Thiên Khải là Ninh Tiền đạo, Mao Văn Long là Tổng binh đảo Bì.

Chính xác mà nói, Viên Sùng Hoán là người trấn thủ vùng Ninh Tiền, văn quan tứ phẩm của triều đình.

Còn Mao Văn Long là Tả Đô đốc, võ quan nhất phẩm của triều đình, Bình Liêu tướng quân, người nắm giữ Thượng phương bảo kiếm, chỉ huy quân sự cấp cao nhất tại khu vực Liêu Đông.

Nói cách khác, Mao Tổng binh lớn hơn Viên đại nhân mấy cấp, so với Mao Văn Long, Viên Sùng Hoán chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt không đáng kể, hai bên căn bản không cùng một đẳng cấp.

Bởi vì Mao Tổng binh không phải là một Tổng binh bình thường.

Tổng binh thời Minh là một danh xưng chung, đại khái tương đương với Tư lệnh viên, nhưng quản vài tỉnh cũng có thể gọi là Tư lệnh viên, quản một huyện cũng có thể gọi là Tư lệnh viên. Ví dụ, người Đỗ Ứng Khôi ăn chặn quân lương kia, người ta cũng là một Phó Tổng binh, nhưng đặc phái viên họ Viên bảo chém là chém, mắt không chớp, kiểm điểm cũng không viết.

Tóm lại, Tổng binh thời Minh là phân cấp, có Phân lộ Tổng binh, Hiệp thủ Tổng binh, vân vân, còn loại cao cấp nhất là Tổng trấn Tổng binh.

Mao Văn Long chính là Tổng trấn Tổng binh, thực tế, ông là Tổng trấn Tổng binh duy nhất của Đại Minh ở ngoài quan ải.

Tổng trấn Tổng binh, dùng cách nói ngày nay chính là Tư lệnh viên Đại quân khu, địa vị vô cùng cao, thường kèm theo danh hiệu Tướng quân (tương đương danh hiệu vinh dự như Bình Liêu, Phá Lỗ, v.v.), cá biệt còn kiêm nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng (Binh bộ Thượng thư).

Biên chế Tổng trấn Tổng binh toàn quốc thời Minh có hai mươi người, mười bốn người chết trong quan, hiện còn sáu người, Mao Văn Long tính là một.

Nhưng trong số những người sống sót này, Mao Tổng binh khá đặc biệt, tuy cấp bậc của ông rất cao nhưng địa bàn quản lý lại rất nhỏ – đảo Bì, cũng chỉ là một hòn đảo.

Đảo Bì, biệt danh Đông Giang, nằm ở cửa sông Áp Lục, vị trí hiểm yếu, dài đông tây mười lăm dặm, rộng nam bắc mười hai dặm, Mao Tổng binh đóng quân trên đó, gọi là Mao đảo chủ.

Đây là một chuyện rất kỳ lạ, thông thường mà nói, Tổng trấn Tổng binh quản lý địa bàn rất rộng, không phải Tư lệnh quân khu tỉnh thì cũng là Tư lệnh quân khu khu vực, chỉ có Mao Tổng binh là Tư lệnh quân khu đảo.

Nhưng không ai thấy kỳ lạ, vì địa bàn của các Tổng binh khác là được tiếp quản, còn địa bàn của Mao Tổng binh là tự mình cướp về.

Mao Văn Long, sinh năm Vạn Lịch thứ tư (1576), người Hàng Châu, Chiết Giang, trò giải trí chính thời thơ ấu là đi khắp nơi chực ăn.

Do nhà quá nghèo, Mao Văn Long không được ăn no, tự nhiên không được học tư thục, không thi đỗ tiến sĩ. Mà theo sử liệu tôi tìm được, ông dường như cũng không phải là kẻ thích đâm chém, kỹ năng đánh nhau gây sự cũng kém, không thể đi thi, lại không thể quậy phá, coi như vô dụng trăm bề, còn tệ hơn cả thư sinh.

Nhưng nếu bảo ông chẳng làm gì cả thì cũng không đúng, để mưu sinh, ông bắt đầu làm ngành dịch vụ – xem bói.

Xem bói là một nghề kỹ thuật, dù thực sự không hiểu thì cũng phải thực sự biết "lòe" người, thế là Mao Văn Long bắt đầu nghiên cứu Ma Y tướng thuật, đoán chữ, bát quái, vân vân.

Nhưng chúng ta có lý do để tin rằng, học vấn của ông trong lĩnh vực này chưa tới nơi tới chốn, xem bói cho người ta mấy chục năm, vậy mà không lo xem cho mình một quẻ.

Tuy nhiên, sự tạo nghệ của ông trong một lĩnh vực khác là hoàn toàn đáng khẳng định – Binh pháp.

Trong thời đại cổ đại nước ta, nơi bình thường chỉ dạy ngữ văn, thi cử chỉ thi làm văn, các môn học như xem bói, binh pháp, thiên văn đều là tạp học, và thường tụ tập lại, còn có một danh xưng khó hiểu – Âm dương học.

Mà vì kế sinh nhai, tiên sinh Mao thường ngày xem đa phần đều là loại tạp thư này, cho nên ông tuy không học tư thục, nhưng không phải là không đọc sách. Nghe nói ông không chỉ tinh thông lý luận binh pháp, mà còn thường xuyên áp dụng vào thực tiễn – lúc trò chuyện dùng để "chém gió".

Cứ thế tính toán, cứ thế chém gió, lặn lội tới năm ba mươi tuổi.

Không biết là ngày nào, dây thần kinh nào bị chập, Mao Văn Long đột nhiên quyết định, kết thúc cuộc sống hiện tại của mình, kiên quyết đi về phía Bắc tìm việc làm.

Ông đi một mạch đến Liêu Đông, gặp Tuần phủ đương thời là Vương Hóa Trinh, Vương Hóa Trinh gặp ông như đã quen từ lâu, cho rằng ông là nhân tài ưu tú, lập tức bổ nhiệm ông làm Đô ty, vào quân đội nhậm chức.

Trên thế giới này dường như không có chuyện tốt như vậy, đúng vậy, hai câu trên là đùa các bạn đấy.

Sở dĩ tiên sinh Mao Văn Long hạ quyết tâm đi về phía Bắc tìm việc làm là vì cậu của ông thời vận xoay chuyển, làm tới chức Sơn Đông Bố chính sứ, quan hệ rất tốt với Vương Hóa Trinh, và đã tiến cử cháu mình với Vương Tuần phủ.

Vương Tuần phủ nể mặt, giúp Mao Văn Long tìm một công việc, tình hình cụ thể là như vậy.

Trong mắt Vương Hóa Trinh, sắp xếp công việc là kiếm được một ân tình của cậu Mao Văn Long, nhưng sự thật chứng minh, làm việc này là kiếm được một ân tình của Đại Minh.

Mao Văn Long cứ thế đi làm trong quân đội, tuy chỉ là một Đô ty, nhưng ở địa phương mà nói, cũng coi như là cán bộ cấp cao rồi, ít nhất có thể cùng lãnh đạo huyện ăn cơm. Vấn đề nằm ở chỗ, lúc Mao Đô ty mới đến, không được ưa chuộng lắm, vì ai cũng biết ông là "con ông cháu cha", ai cũng biết ông chưa từng đánh trận, nên đều coi thường ông.

Cho đến khi ngày đó đến – ngày 21 tháng 3 năm Thiên Khải thứ nhất (1621).

Ngày hôm đó, Liêu Dương thất thủ, Liêu Đông Kinh lược Viên Ứng Thái tự sát, hàng vạn quân thủ thành toàn quân bị diệt. Đến đây, ngoài Quảng Ninh, nhà Minh ở Liêu Đông đã không còn chỗ đứng.

Người tị nạn dắt díu gia đình, binh lính vứt bỏ vũ khí, mọi người lũ lượt chạy trốn vào quan.

Trừ Mao Văn Long.

Mao Văn Long không chạy, nhưng phải nói rõ rằng, sở dĩ ông không chạy không phải vì đạo đức cao thượng thế nào, mà là thực sự không chạy được nữa.

Do Liêu Dương thất thủ quá nhanh, tiên sinh Mao phản ứng không đủ nhanh, không kịp chạy, bị tụt lại phía sau, bị quân Hậu Kim chặn đường, hết cách.

Nếu chỉ có một mình ông, hóa trang một chút, bôi đất lên mặt, có khi còn lách qua được. Không may là dưới quyền ông còn hơn hai trăm binh lính.

Dẫn theo đám gánh nặng này, muốn chuồn thì chuồn không thoát; muốn đánh thì đánh không lại. Quân Minh bận chạy, quân Hậu Kim bận đuổi, kẻ địch không quan tâm ông, người phe mình cũng không quan tâm ông. Cảnh ngộ của Mao Văn Long lúc này, có thể dùng một từ để khái quát hoàn hảo – quân tốt bị bỏ rơi.

Khi mọi người than khóc, cho rằng đường cùng không lối thoát, Mao Văn Long tìm ra một con đường – xuống biển.

Ông tìm được tàu thuyền, đưa binh lính rút lui an toàn ra biển.

Thế nhưng rất nhanh, binh lính phát hiện ra, hướng đi của họ không phải là Quảng Ninh, càng không phải là ngoài quan ải.

“Chúng ta đi Trấn Giang.” Mao Văn Long đáp.

Thế là mọi người đều ngẩn ngơ.

Cái gọi là Trấn Giang, không phải là Trấn Giang ở Giang Tô, mà là Trấn Giang bảo ở Liêu Đông, nơi này nằm ở cửa sông Áp Lục, đối mặt với Triều Tiên qua con sông, vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, cực kỳ kiên cố, dễ thủ khó công.

Nhưng sở dĩ mọi người kinh ngạc không phải vì nó quan trọng, kiên cố, mà là vì nó vốn dĩ không nằm trong tay nhà Minh.

Trước khi Liêu Dương, Thẩm Dương thất thủ, nơi này đã đổi chủ rồi, từ lâu đã trở thành hậu phương của Hậu Kim, lại có trọng binh trấn giữ. Lúc này đi Trấn Giang bảo, động cơ chỉ có hai: đầu địch, hoặc là tìm chết.

Thế nhưng Mao Văn Long nói, chúng ta không đầu địch, cũng không tìm chết, mục đích của chúng ta là chiếm đóng Trấn Giang.

Rất rõ ràng, đây là đang nói đùa. Liêu Dương đã thất thủ, không ai kháng cự, không ai có thể kháng cự. Trong lòng mọi người, có chung một nguyện vọng tốt đẹp duy nhất – chạy lấy mạng.

Nhưng Mao Văn Long lại nói, ta không nói đùa.

Chúng ta phải xuất phát từ đây, băng qua eo biển, đi thuyền hơn ngàn dặm, đến cứ điểm kiên cố nơi địch trọng binh tập kết, dựa vào đội quân tàn tạ, trang bị không đủ, vừa đại bại, chỉ có vài trăm người này của chúng ta, đi tấn công kẻ địch trang bị tinh nhuệ, khí thế hung hăng, vừa đại thắng, lấy ít địch nhiều.

Chúng ta không chạy mạng, chúng ta phải tấn công, chúng ta phải đánh bại hoàn toàn chúng, chúng ta phải thu phục Trấn Giang, thu phục mảnh đất vốn thuộc về chúng ta!

Không ai kinh ngạc nữa, cũng không ai phản đối nữa, vì rất rõ ràng, đây là một lý do hợp lý, một lý do đủ để họ đi tấn công Trấn Giang, không chút hối tiếc.

Dưới sự che chở của màn đêm, Mao Văn Long dẫn quân đến Trấn Giang bảo.

Sự thật chứng minh, ông có lẽ là một người bốc đồng, nhưng tuyệt đối không phải là một người ngu ngốc. Giống như đã diễn tập trước, Mao Văn Long phát động tấn công, quân Hậu Kim vạn lần không ngờ tới, ở ngay hậu phương lại bị người ta đâm một dao, không hề có chút chuẩn bị nào, trời tối mù mịt, cũng chẳng biết rốt cuộc bao nhiêu người đến, từ đâu tới, chỉ có thể hoảng loạn, chạy tán loạn.

Trận này quân Minh đại thắng, tiêu diệt hơn một ngàn quân Hậu Kim, chém chết thủ tướng Đồng Dưỡng Chân, thu phục vùng đất trăm dặm quanh Trấn Giang bảo, sử gọi là “Trấn Giang bảo đại tiệp”.

Đây là trận thắng lớn nhất, cũng là trận thắng duy nhất của nhà Minh ở Liêu Đông kể từ khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích khởi binh.

Tin tức truyền về, Vương Hóa Trinh vô cùng vui mừng, lập tức bổ nhiệm Mao Văn Long làm Phó Tổng binh, trấn thủ Trấn Giang bảo.

Hậu Kim sau khi mất Trấn Giang bảo, vô cùng chấn động, phái đại quân, định đuổi Mao Văn Long xuống biển cho cá ăn.

Do địch quá đông, mình quá ít, Mao Văn Long mất Trấn Giang bảo, bị đuổi xuống biển, nhưng ông không cho cá ăn, mà bắt đầu câu cá – rút lui cố thủ đảo Bì.

Dù sao cũng chỉ là một hòn đảo, cho nên lúc mới bắt đầu, chẳng ai coi ông ra gì, nhưng không lâu sau, ông đã dùng hành động thực tế, khiến tiên sinh Nỗ Nhĩ Cáp Xích lĩnh hội được ý nghĩa thực sự của nỗi đau.

Kể từ năm Thiên Khải thứ nhất, Mao Văn Long chưa từng nghỉ ngơi, mỗi năm phái vài người, đi ra ngoài vài ngày, làm vài việc, không phải phóng hỏa thì là cướp bóc, khiến Hậu Kim không được yên ổn.

Phiền hơn nữa là bản thân Mao đảo chủ vô cùng xảo quyệt, bạn không chuẩn bị, ông lên bờ đá bạn một cái, bạn tập kết binh lực, đặt sẵn mai phục, ông lại không tới, cứ như con muỗi vo ve bên tai, có thể hành hạ người ta đến chết.

Sau này Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng phiền rồi, đoán chừng Mao đảo chủ cũng chỉ đánh du kích được thôi, mặc kệ ông ta, để ông ta quậy, không ngờ, Mao đảo chủ lại tặng ông ta một bất ngờ thú vị.

Năm Thiên Khải thứ ba (1623), ngay dưới mí mắt quân Hậu Kim, Mao đảo chủ đột nhiên xuất quân, một hơi chiếm đóng Kim Châu (nay là Kim Châu, Liêu Ninh), hơn nữa chiếm xong không đi nữa, phóng một mồi lửa ở sân sau của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích thực sự hết cách rồi, phái binh đi càn quét thì ta tiến địch lùi, tác chiến đổ bộ thì không có kỹ thuật đó, đánh hải chiến thì không có hải quân, thực sự đau đầu không thôi.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích ngày càng đau đầu, Mao đảo chủ lại ngày càng quậy phá. Theo cách nói trong phim truyền hình, sống trên đảo hoang hẳn là chuyện rất thê thảm, cần gì không có nấy, suốt ngày ngồi trên bãi cát gặm dừa, ngóng trông người đến cứu.

Thế nhưng cuộc sống đảo hoang của Mao Văn Long lại trôi qua vô cùng phong phú, theo sử sách ghi chép, là "chiêu tập lưu dân, tập bị quân nhu, thương nhân gần xa lũ lượt kéo đến, hàng hóa đầy đủ, thuế má phong phú".

Nghĩa là, Mao đảo chủ làm ăn trên đảo rất tốt, mọi người không sống trên đất liền nữa, theo nhau chạy tới kiếm sống, kinh tế hàng hóa trên đảo cũng rất phát triển, còn có thể thu thuế.

Chưa hết, Mao đảo chủ ngoài việc làm sống động nhu cầu nội địa, còn làm thương mại xuất nhập khẩu, Nhật Bản, Triều Tiên đều có khách buôn cố định của ông, nghe nói ngay cả khu vực Hậu Kim quản lý cũng có người làm ăn với ông, dù sao chỗ quỷ đó không có hải quan, quốc gia cũng không thu thuế, cho nên thu nhập của Mao đảo chủ vô cùng lớn, nghe nói mỗi tháng có tới mười mấy vạn lượng bạc trắng.

Có tiền, tự nhiên có người, dưới sự cám dỗ của lương cao, người lên đảo tòng quân ngày càng nhiều, ban đầu chỉ có hơn hai trăm, sau này lúc Viên Sùng Hoán lên đảo kiểm tra nhân số, lại kiểm ra được ba vạn người.

Đáng khen là, trong lúc làm nghề tay trái, Mao đảo chủ không quên công việc chính, trong vài năm sau đó, ông đã tạo ra rất nhiều thành tích, trích dẫn như sau:

(Thiên Khải) năm thứ ba, Văn Long chiếm Kim Châu.

Năm thứ tư tháng năm, Văn Long phái tướng dọc theo sông Áp Lục vượt núi Trường Bạch, xâm nhập phía Đông Đại Thanh quốc.

Tháng tám, phái binh từ phía Tây thành Nghĩa Châu vượt sông, vào đảo屯田 (khai khẩn ruộng đất).

Năm thứ năm tháng sáu, phái binh tập kích quan đồn trại ở Diệu Châu.

Năm thứ sáu tháng năm, phái binh tập kích trạm An Sơn, mấy ngày sau lại phái binh tập kích Triệt Nhĩ Hà, tấn công phía Nam thành.

Quậy phá một trận không nói, lại còn chạy tới đất nhà người ta khai khẩn ruộng đất trồng lương thực, thực sự quá ngông cuồng.

Tiên sinh Nỗ Nhĩ Cáp Xích nếu không hận ông, thì đó là điều không bình thường.

Nhưng hận cũng vô ích, khoa học kỹ thuật không theo kịp, chỉ có thể trơ mắt nhìn Mao đảo chủ quậy phá lung tung.

Nhờ phúc của đồng chí Mao Văn Long, mỗi khi quân Hậu Kim ra ngoài đánh trận, đều có cảm giác như chim sợ cành cong, chỉ sợ Mao đảo chủ bắn lén từ phía sau, đến nỗi lâu nay không thể an tâm cướp bóc, tinh lực và cảm xúc làm việc bị ảnh hưởng cực lớn, phản ứng vô cùng tệ hại.

Thành tựu như vậy, tự nhiên không ai dám quản, triều đình dỗ dành ông, Vương Hóa Trinh bảo vệ ông, sau này, Vương Tại Tấn tiếp nhiệm Liêu Đông Kinh lược, đều phải cung phụng ông như ông thần.

Mao Văn Long, trợ thủ thứ ba của Viên Sùng Hoán, cấp trên hiện tại, kẻ địch tương lai.

Năm Thiên Khải thứ ba (1623), khi Viên Sùng Hoán đang hừng hực khí thế xây tường thành ở Ninh Viễn, một người khác đã đến Ninh Viễn.

Người này là do Tôn Thừa Tông phái tới, chức trách của ông là cùng với Viên Sùng Hoán thủ vệ Ninh Viễn. Người này tên là Mãn Quế.

Mãn Quế, người Tuyên Phủ, dân tộc Mông Cổ. Rất nghèo, rất dũng cảm.

Đồng chí Mãn Quế có thể coi là một mầm non đánh trận tiêu chuẩn, từ nhỏ đã thích săn bắn. Lớn lên tòng quân, lại thích đánh người, lăn lộn trong quân ngũ nhiều năm, mỗi lần ra trận đều có thể chém chết vài tên địch, có thể nói là chiến công hiển hách. Thế nhưng chiến công hiển hách như vậy, lăn lộn đến hơn bốn mươi tuổi mới chỉ là một Bách hộ.

Cũng không phải có người chèn ép ông, thực ra là vì ông quá thật thà.

Triều Minh quy định, nếu ngươi chém chết một tên địch (phải có thủ cấp), thì chúc mừng ngươi, tiếp theo ngươi có hai lựa chọn: Một, thăng một cấp quan. Hai, nhận thưởng năm mươi lượng bạc.

Mỗi lần Mãn Quế đều chọn cách thứ hai, vì ông rất thiếu tiền.

Tôi không cho rằng Mãn Quế tham lam, thực tế, ông ấy rất trung thực.

Bởi vì ông không hề biết rằng, người chọn cách thứ hai chỉ lấy được tiền, còn người chọn cách thứ nhất, vừa lấy được quyền, lại vừa lấy được tiền.

Cứ lăn lộn kiểu này, ước chừng đến trước khi chết mà lên được đến Thiên hộ thì đã là ông trời mở mắt rồi.

Thế nhưng vài năm sau, sự thất bại của một người đã tạo nên thành công cho ông, người thất bại đó là Dương Hảo.

Năm Vạn Lịch thứ bốn mươi bảy (1619), Dương Hảo dẫn bốn lộ đại quân, toàn quân bị tiêu diệt tại Tát Nhĩ Hử, chỉ tính riêng tướng lĩnh đã chết hơn ba trăm người. Triều đình không còn ai, đành phải hạ lệnh phá lệ đề bạt, đồng chí Mãn Quế từ đó thay hình đổi dạng, trở thành tướng lĩnh cấp cao của quân Minh – Tham tướng.

Nhưng người thực sự thay đổi vận mệnh của ông lại là một người thành công khác – Tôn Thừa Tông.

Năm Thiên Khải thứ hai (1622), trên đường tuần biên, Tôn Thừa Tông gặp Mãn Quế, cực kỳ tán thưởng lão binh dầu dãi này (đại kỳ chi), trong lúc vui mừng đã thăng quan cho ông, điều ông đến Sơn Hải Quan nhậm chức Phó Tổng binh. Một năm sau, Mãn Quế được điều đến Ninh Viễn làm thủ tướng.

Mãn Quế là một tướng lĩnh xuất sắc, ông không chỉ tác chiến dũng cảm, kinh nghiệm phong phú mà còn biết làm ngoại giao.

Các bộ lạc Mông Cổ lúc bấy giờ đã trở thành đồng minh của quân Hậu Kim, bất kể là cướp bóc hay đánh trận đều đi cùng nhau, quân Minh chịu áp lực rất lớn, mà sự xuất hiện của Mãn Quế đã thay đổi hoàn toàn điều này.

Ông lợi dụng thân phận dân tộc thiểu số của mình, tiến hành thuyết phục đồng bào trong thời gian dài đầy kiên nhẫn, đối với những kẻ không nghe khuyên bảo thì cũng tiến hành công đánh trong thời gian dài đầy kiên nhẫn. Rất nhanh, mọi người đều bị thái độ vừa đánh vừa xoa đầy chân thành của ông cảm động, tất cả đều tâm phục khẩu phục ("Quế thiện thao túng, chư bộ hàm phục").

Ngoài ra, ông rất giỏi xây tường, thường đích thân giám sát thi công, lại rất thích luyện binh, thường xuyên huấn luyện thuộc hạ đến mức bơ phờ.

Cứ như vậy, dưới sự nỗ lực không ngừng của Mãn Quế, Ninh Viễn từ một đống đổ nát tương đối lớn ban đầu đã trở thành một thành phố tương đối lớn (quân dân hơn năm vạn hộ, đồn điền xa tới năm mươi dặm).

Và với tư cách là võ quan cao nhất vùng Ninh Viễn, quan hệ giữa ông và Viên Sùng Hoán cũng khá tốt.

Thực ra mâu thuẫn vẫn có, nhưng vấn đề không lớn, ít nhất là lúc đó không lớn.

Cần phải nói rõ một điểm, chức vụ của Mãn Quế lúc đó là Ninh Viễn Tổng binh, còn Viên Sùng Hoán là Ninh Tiền đạo. Xét về cấp bậc, Mãn Quế cao hơn Viên Sùng Hoán, nhưng truyền thống triều Minh là "dĩ văn chế võ", cho nên ở Ninh Viễn, địa vị của Viên Sùng Hoán cao hơn Mãn Quế một chút, chỉ cao hơn một chút thôi.

Theo ghi chép trong sử liệu, Mãn Quế là người không hay cười nói nhưng cực kỳ tự phụ. Cộng thêm việc bản thân ông đi lên từ lính quèn, bình thường toàn làm cái nghề chém đầu người (một cái năm mươi lượng), chú trọng thực tiễn, coi thường nhất chính là những văn quan chỉ biết bàn lý thuyết suông, chưa từng đánh trận. Tất nhiên, trong đó cũng bao gồm cả Viên Sùng Hoán.

Nhưng thú vị là, ông và Viên Sùng Hoán ở chung với nhau khá ổn, không phải vì ông bao dung, mà là vì Viên Sùng Hoán biết nhẫn nhịn.

Viên đại nhân là người rất biết tự lượng sức mình. Ông hiểu rất rõ, những kẻ lăn lộn ở Liêu Đông phần lớn đều là đám lão binh dầu dãi, chuyện giết người phóng hỏa đã làm quen tay, trong mắt những người này, loại trí thức kiêm lính mới như mình không có quyền lên tiếng.

Cho nên ông rất khiêm tốn, rất biết cách giả làm cháu ngoan, lại thường xuyên thỉnh giáo các bậc tiền bối (như Mãn Quế). Những người như Mãn Quế cũng hiểu rõ, biết ông là người của Tôn Thừa Tông, đắc tội không nổi, đều nể mặt ông vài phần. Tóm lại, mọi người đều sống với nhau khá ổn.

Mãn Quế, người hỗ trợ thứ tư của Viên Sùng Hoán, chiến hữu cùng sinh tử sau ba năm, đối thủ bị đẩy vào chỗ chết sau bảy năm.

Có lẽ bạn cảm thấy người đã đủ đông rồi, nhưng Tôn Thừa Tông dường như không nghĩ vậy, không lâu sau, ông lại gửi đến người thứ năm.

Người này là người ông cứu từ pháp trường, tên là Triệu Suất Giáo.

Triệu Suất Giáo, người Thiểm Tây, người này làm quan từ rất sớm, giữa thời Vạn Lịch đã là Tham tướng, lý lịch bình bình, chiến công bình bình, tư chất bình bình, cái gì cũng bình bình.

Biểu hiện bình thường đã đành, sau này còn dính líu đến kiện tụng, mất cả công việc. Sau đó cũng nhờ phúc của tiên sinh Dương Hảo, võ tướng chết nhiều quá không có người bù, ông liền tự tiến cử, đi lấp chỗ trống, dưới trướng Viên Ứng Thái, lăn lộn được chức Phó Tổng binh.

Nhưng vận may của ông rất kém, vừa mới đi không bao lâu, Liêu Dương đã mất, Viên Ứng Thái tự sát, ông bỏ chạy.

Trong tình thế cấp bách, ông chạy sang nương nhờ Vương Hóa Trinh, một năm sau, Quảng Ninh thất thủ, Vương Hóa Trinh chạy, ông cũng chạy.

Sau đó nữa, Vương Tại Tấn tới, ông lại chạy sang nương nhờ Vương Tại Tấn.

Do trong vài năm, ông đi đến mấy nơi, đến đâu là nơi đó xui xẻo, hơn nữa hoàn toàn không có trách nhiệm, gặp chuyện là chạy, gặp rắc rối là chuồn, từ đó, ông cuối cùng đã trở thành nhân vật điển hình có tiếng trong quân Minh – điển hình phản diện.

Về điều này, Triệu Suất Giáo không nói gì, cũng không thể nói gì.

Thế nhưng không lâu sau, Triệu Suất Giáo đột nhiên tìm đến Vương Tại Tấn, chủ động đưa ra một yêu cầu:

"Tôi nguyện lấy tội lập công, dẫn quân thu phục đất đai đã mất."

Vương Tại Tấn cho rằng mình nghe nhầm, thế nhưng khi nghe thấy những lời kiên định tương tự một lần nữa, ông khẳng định, đồng chí Triệu Suất Giáo có thể đã bị kích động gì đó.

Bởi vì vào thời điểm đó, khái niệm đất đai đã mất khá rộng, những gì triều Minh nắm trong tay chỉ có Sơn Hải Quan, nói lớn ra thì toàn bộ Liêu Đông đều là đất đã mất, ông định thu phục nơi nào?

Triệu Suất Giáo đáp: Tiền Đồn.

Tiền Đồn, nằm gần Ninh Viễn, là cứ điểm quan trọng của quân Minh.

Sau khi xác định Triệu Suất Giáo đầu óc tỉnh táo, không có khuynh hướng tìm chết, Vương Tại Tấn cũng nói lời thật lòng:

"Thu phục đất đai tất nhiên là tốt, nhưng hiện tại không có quân thừa."

Điều này rất thực tế, ta không phải không muốn thành toàn cho ngươi, chỉ là ta cũng không có cách.

Thế nhưng câu trả lời của Triệu Suất Giáo hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của Vương đại nhân:

"Không cần phái quân, tôi tự dẫn người đi là được."

Ta là Liêu Đông Kinh lược, dưới tay còn chẳng có mấy người, ngươi còn có vũ trang tư nhân sao? Thế là Vương Tại Tấn hiếu kỳ liền đặt câu hỏi:

"Ngươi có bao nhiêu người?"

Triệu Suất Giáo đáp:

"Ba mươi tám người."

Vương Tại Tấn hoàn toàn bực bội, hiện tại kẻ địch mạnh đang ở ngay trước mắt, Nỗ Nhĩ Cáp Xích có thể đánh tới bất cứ lúc nào, sĩ khí thấp kém như vậy, những người bình thường có khả năng chiến đấu đều đã trốn cả rồi, vị này bình thường đặc biệt biết trốn, vậy mà đột nhiên đứng ra muốn chiến đấu?

Đã lúc nào rồi, ngươi còn đùa cái gì? Còn chê chưa đủ loạn à?

Thế là trong cơn giận dữ, Vương Tại Tấn vung tay: Ngươi đi đi!

Đây là một câu nói trong lúc nóng giận, nhưng ông không ngờ rằng, gã này thực sự đi thật.

Triệu Suất Giáo dẫn theo gia đinh của mình, ba mươi tám người, tiến về phía Tiền Đồn để thu phục đất đã mất.

Đây là một hành động có dấu hiệu tự sát rõ rệt, hầu như tất cả mọi người đều cho rằng Triệu Suất Giáo điên rồi.

Nhưng sự thật chứng minh, Triệu tiên sinh không điên, bởi vì khi ông đến gần Tiền Đồn, biết được nơi này có quân địch xuất hiện, liền dừng bước.

"Phía trước đã có quân địch, không thể tiếp tục tiến lên, thu phục nơi này là được."

Nơi này, chính là nơi ông dừng chân, tên là Trung Tiền Sở.

Trung Tiền Sở, nằm ở ngoại ô Ninh Viễn, đại khái nằm gần huyện Tuy Trung, tỉnh Liêu Ninh ngày nay. Triệu Suất Giáo đóng quân tại đây, tại chỗ chiêu mộ người tị nạn, thiết lập doanh trại, tuyển chọn người khỏe mạnh bổ sung vào quân đội, và tổ chức đồn điền.

Vương Tại Tấn biết được tin tức này, nhưng chỉ khinh miệt cười một tiếng, ông cho rằng, trên mảnh đất đầy rẫy quân địch đó, Triệu Suất Giáo rất nhanh sẽ "ngựa quen đường cũ", bỏ lại tất cả rồi chạy về.

Vài tháng sau, Tôn Thừa Tông đến cứ điểm vốn dĩ nên không một bóng người này, lại nhìn thấy những cánh đồng rộng lớn, nhà cửa, cùng với những binh lính tay cầm vũ khí, huấn luyện bài bản.

Sau khi biết trước đó ở đây chỉ có ba mươi tám người, ông tìm Triệu Suất Giáo, hỏi ông một câu:

"Hiện tại ở đây có bao nhiêu người?"

Triệu Suất Giáo đáp:

"Dân hơn sáu vạn, binh lính hơn một vạn."

Từ ba mươi tám, đến sáu vạn, đối mặt với kỳ tích khó tin này, Tôn Thừa Tông vô cùng kích động, lão nhân gia ông vốn dĩ đi xe ngựa tới, vì quá kích động, liền tặng luôn xe cho Triệu Suất Giáo, còn mình thì cưỡi ngựa quay về.

Từ đó, ông ghi nhớ cái tên của người này.

Xét về biểu hiện của đồng chí Triệu Suất Giáo, ông là người biết nhục, "tri sỉ cận hồ dũng", sau khi trải qua vô số do dự, khốn đốn, ông bắt đầu dùng hành động để chứng minh sự dũng cảm của mình.

Nhưng ông vừa chứng minh được một nửa, đã suýt chút nữa bị người ta chém đầu.

Ngay lúc Triệu Suất Giáo xắn tay áo chuẩn bị làm một trận lớn, Binh bộ đột nhiên phái người đến tìm ông, phối hợp điều tra một sự việc.

Triệu Suất Giáo hiểu, lần này coi như sống đến tận cùng rồi.

Sự việc là thế này, lúc Triệu Suất Giáo ở Liêu Dương, chức vụ là Phó Tổng binh, coi như Phó tư lệnh, chưởng quản trung quân, điều này có nghĩa là khi chiến tranh bắt đầu, Triệu Suất Giáo nắm giữ chủ lực quân đội nên phải toàn lực tác chiến, thế nhưng ông đã bỏ chạy, và trực tiếp dẫn đến thất bại trong tác chiến.

Nói cách khác, lính nhỏ có thể chạy, dân thường có thể chạy, nhưng Triệu Suất Giáo không thể chạy, cũng không nên chạy. Đã chạy rồi thì phải xử lý theo pháp luật, theo quân pháp triều Minh, tình hình này chắc chắn phải chết.

Nhưng cái gọi là chắc chắn phải chết, vẫn còn nghi vấn, đặc biệt là khi có nhân vật dữ dằn cầu xin giúp.

Tôn Thừa Tông nghe tin này, lập tức đi tìm Binh bộ Thượng thư, bảo ông rằng, người này tuyệt đối không được giết. Binh bộ Thượng thư đương nhiên không dám đắc tội Nội các Đại học sĩ, đành làm một cái nhân tình, thả Triệu Suất Giáo ra.

Tôn Thừa Tông không phải là người nhân từ, ông sở dĩ tha cho Triệu Suất Giáo một mạng, là vì ông khẳng định, người này sống có ích hơn là chết.

Và Triệu Suất Giáo đã dùng hành động thực tế để chứng minh phán đoán của Tôn Thừa Tông, trong trận đại chiến không lâu sau đó, ông sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Triệu Suất Giáo, người hỗ trợ thứ năm của Viên Sùng Hoán.

[BIẾN CỐ]

Năm Thiên Khải thứ nhất (1620), khi Tôn Thừa Tông vừa đến Liêu Đông, những gì ông có chỉ là Sơn Hải Quan và tám dặm đất bên ngoài cửa ải.

Năm Thiên Khải thứ năm (1624), Tôn Thừa Tông củng cố Sơn Hải Quan, thu phục Ninh Viễn cùng hàng trăm dặm đất xung quanh.

Sau khi thu phục Ninh Viễn, Tôn Thừa Tông quyết định tiến thêm một bước, chiếm đóng một thành phố khác – Cẩm Châu. Ông khẳng định, đây là một địa điểm vô cùng quan trọng.

Nhưng Nỗ Nhĩ Cáp Xích dường như không nghĩ vậy, Cẩm Châu ư, vừa nhỏ vừa nghèo, phái quân thủ còn tốn lương thực, ai muốn thì cứ lấy.

Cứ như vậy, không tốn chút sức lực nào, Tôn Thừa Tông đã có được Cẩm Châu.

Sau này chứng minh, từ khoảnh khắc quân Minh tiến vào Cẩm Châu, vận mệnh bi thảm của Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã được định đoạt.

Bởi vì đến đây, Tôn Thừa Tông cuối cùng đã hoàn thành kiệt tác vĩ đại nhất đời mình – Phòng tuyến Quan Cẩm.

Cái gọi là Phòng tuyến Quan Cẩm, chỉ hệ thống phòng ngự gồm Sơn Hải Quan – Ninh Viễn – Cẩm Châu, phòng tuyến này dài hơn bốn trăm dặm, ăn sâu vào khu vực Hậu Kim, dọc tuyến đều có pháo đài, cứ điểm của quân Minh, vô cùng kiên cố.

Lịch sử cho chúng ta biết, phòng tuyến kiên cố đến đâu cũng có ngày bị công phá.

Lịch sử còn cho chúng ta biết, chuyện gì cũng có ngoại lệ, ví dụ như phòng tuyến này.

Thực tế, cho đến khi triều Minh diệt vong, nó cũng chưa từng bị xuyên thủng. Trong hơn mười năm sau đó, quân Hậu Kim dùng tay đào, dùng miệng cắn, dùng răng cắn, đều không có tác dụng, còn đánh đổi cả mạng già của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Đây là một hệ thống phòng ngự khoa học, giàu triết lý lại khiến người ta tuyệt vọng, bởi vì nó cơ bản không có điểm yếu.

Cẩm Châu, trọng trấn Liêu Đông, từ xưa đã là con đường huyết mạch vào cửa ải, địa thế hiểm yếu, quan trọng hơn là một mặt của thành Cẩm Châu tựa vào biển. Đối với Hậu Kim không có hải quân mà nói, đây lại là một cơn ác mộng.

Điều này có nghĩa là, chỉ cần vận tải biển đầy đủ, trong hầu hết các trường hợp, dù bị vây kín như bưng, Cẩm Châu cũng rất khó bị công phá.

Đã khó đánh, vậy có thể không đánh không?

Không thể.

Một người bạn của tôi sống ở Cẩm Châu nói với tôi, anh ấy về nhà rất tiện, vì từ Bắc Kinh xuất phát, chạy tới Đông Tam Tỉnh, tàu hỏa dừng lại ở Cẩm Châu có mười tám chuyến.

Tôi lập tức rùng mình, điều này có nghĩa là, triều Minh hơn ba trăm năm trước, muốn đi đến Liêu Đông, ngoài một số kẻ đầu óc không bình thường đi leo núi, Cẩm Châu là lựa chọn duy nhất.

Muốn vào cửa ải, phải công phá Ninh Viễn, muốn công phá Ninh Viễn, phải công phá Cẩm Châu, muốn công phá Cẩm Châu, lại không công phá nổi.

Tất nhiên, có người sẽ nói, Cẩm Châu chẳng qua là một cứ điểm, sao nhất định phải công phá? Chỉ cần vây Cẩm Châu lại, mượn đường đi qua, tiếp tục tấn công Ninh Viễn, không phải là được sao?

Đúng vậy, theo logic này, cũng không nhất định phải công phá Ninh Viễn, chỉ cần vây Ninh Viễn lại, mượn đường đi qua, tiếp tục tấn công Sơn Hải Quan, không phải cũng được sao?

Nhìn như vậy, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thực sự quá ngu xuẩn, đạo lý đơn giản như vậy, tại sao lại không nghĩ ra nhỉ?

Tôi cảm thấy, người giữ suy nghĩ này nên đi rửa mặt cho tỉnh táo lại.

Giả sử bạn là Nỗ Nhĩ Cáp Xích, dẫn vài vạn quân đến Cẩm Châu, Cẩm Châu không ai đánh bạn, thế là bạn lại đến Ninh Viễn, Ninh Viễn cũng không ai đánh bạn, cứ thế thuận buồm xuôi gió đến Sơn Hải Quan, chuẩn bị phát động tấn công.

Tôi tin rằng, lúc này bạn sẽ ngạc nhiên phát hiện, quân đội ở Cẩm Châu và Ninh Viễn đã xuất hiện ở phía sau lưng bạn, chuẩn bị "hốt trọn ổ" bạn – trừ khi thủ tướng hai nơi này là kẻ ngốc.

Bây giờ bạn gặp rắc rối lớn rồi, trước mắt là Sơn Hải Quan, không chừng mười ngày nửa tháng cũng không công phá nổi, xin quân đội phía sau đừng đánh bạn, ước chừng người ta không chịu đâu, cho dù bạn có quyết tâm, dùng đầu đập vỡ tường thành, xông vào trong cửa ải, cướp được đồ, bạn cũng phải quay về chứ.

Nếu bạn không mọc cánh, lộ trình quay về của bạn phải là Sơn Hải Quan – Ninh Viễn – Cẩm Châu…

Trông có vẻ khá gian nan, đúng không?

Đây chính là lý do tại sao đồng chí Tào Tháo nhiều năm nay không sợ Tôn Quyền, không sợ Lưu Bị, mà lại chỉ sợ Mã Đằng, Mã Siêu – địa bàn của hai vị này nằm ở phía sau lưng ông.

Đây chính là thành tựu vĩ đại của Tôn Thừa Tông, trong vài năm ngắn ngủi, ông đã xây dựng hàng loạt cứ điểm, thu phục hàng loạt đất đai, đề bạt hàng loạt tướng lĩnh, huấn luyện hàng loạt binh lính.

Bây giờ, trong tay ông là một phòng tuyến kiên cố không thể phá vỡ, một đội quân tinh nhuệ vô cùng, một nhóm tướng lĩnh kiệt xuất có tài năng thiên bẩm.

Nhưng đối với tất cả những điều này, Nỗ Nhĩ Cáp Xích không rõ, ít nhất là không rõ lắm.

Tổ Đại Thọ, Ngô Tương, Mãn Quế, Triệu Suất Giáo, Mao Văn Long cùng Viên Sùng Hoán, đối với Nỗ Nhĩ Cáp Xích mà nói, những cái tên này chẳng có ý nghĩa gì.

Từ khi khởi binh năm Vạn Lịch thứ bốn mươi sáu, tướng lĩnh có khả năng đánh trận của triều Minh, ông đều đã đánh qua, Dương Hảo, Lưu Đĩnh, Đỗ Tùng, Vương Hóa Trinh, Viên Ứng Thái, toàn bộ đều là bại tướng dưới tay, không một ngoại lệ. Trong mắt ông, kết cục của đám người mới tới này ước chừng cũng chẳng khác là bao.

Nhưng ông cuối cùng sẽ thất bại, bại dưới tay những kẻ vô danh tiểu tốt này, và vĩnh viễn mất đi cơ hội lật ngược thế cờ.

Nói thì nói vậy, Nỗ Nhĩ Cáp Xích vẫn rất có bản lĩnh, ông không hiểu cục diện hiện tại, nhưng hiểu thực lực của Tôn Thừa Tông, rất rõ ràng, vị Đốc sư đại nhân này khó đối phó hơn cả Hùng Đình Bật, cho nên trong vài năm, ông không hề phát động cuộc tấn công lớn nào.

Lớn thì không, nhỏ thì vẫn có.

Trong quân đội Hậu Kim, tướng lĩnh xuất sắc nhất không nghi ngờ gì là Nỗ Nhĩ Cáp Xích, nhưng cũng giống như Tôn Thừa Tông, thuộc hạ của ông cũng có rất nhiều kẻ dữ dằn lợi hại.

Và trong số những kẻ dữ dằn này, dữ dằn nhất chính là Bát đại Bối lặc.

Cái gọi là Bát đại Bối lặc, lần lượt chỉ Đại Thiện, A Mẫn, Mãng Cổ Nhĩ Thái, Hoàng Thái Cực, A Tế Cách, Đa Nhĩ Cổn, Đa Đạc, Tế Nhĩ Cáp Lãng.

Trong tám người này, dựa theo quân công và tư cách, bốn người trước dữ dằn lớn, nên gọi là Tứ đại Bối lặc, bốn người sau dữ dằn nhỏ, nên gọi là Tứ tiểu Bối lặc.

Trong đó nổi tiếng nhất, không nghi ngờ gì là hai người: Hoàng Thái Cực, Đa Nhĩ Cổn.

Nhưng đánh trận giỏi nhất là ba người, ngoài Hoàng Thái Cực và Đa Nhĩ Cổn, còn có một người là Đại Thiện.

Đa Nhĩ Cổn tuổi còn nhỏ, không nói tới, Hoàng Thái Cực rất nổi tiếng, cũng không nói tới, vị Đại Thiện này, mặc dù tuổi đã lớn, và không nổi tiếng, nhưng rất cần phải nói tới.

Thực tế, Đại Bối lặc Đại Thiện là một trong những tướng lĩnh quân sự kiệt xuất nhất của Hậu Kim thời bấy giờ, người này rất dũng mãnh, khi tác chiến với triều Minh, thường thân làm gương, lại thâm thông binh pháp, giỏi phục kích, cực kỳ biết đánh trận.

Vì ông ta rất biết đánh trận, nên Nỗ Nhĩ Cáp Xích quyết định, chọn một mục tiêu, do Đại Thiện phát động tấn công, để thăm dò hư thực của Tôn Thừa Tông, và mục tiêu mà ông chọn chính là Cẩm Châu.

Khi Đại Thiện dẫn quân đến dưới thành Cẩm Châu, ông ta mới nhận ra, đây là một cái nồi đen kiên cố.

Trước hết Cẩm Châu vô cùng kiên cố. Trong việc xây tường thành, Tôn Thừa Tông rất có tay nghề, thành không chỉ cao mà còn dày, chỉ dựa vào đao chém rìu chặt thì không có hy vọng, muốn vào thành, không có đại bác là không được.

Đại bác cũng có, nhưng không phải ở dưới thành, mà ở trên đầu thành.

Thực ra từ trước đến nay, trình độ hỏa khí của triều Minh khá cao. Ba cuộc chinh phạt thời Vạn Lịch đánh Nhật Bản cũng rất hữu dụng, sau này sở dĩ hoang phế, không phải vấn đề kỹ thuật, mà là vấn đề thái độ.

Thời kỳ đầu Vạn Lịch, Hoàng đế bệ hạ tinh thần phấn chấn, chuyện gì cũng muốn làm, sau này không muốn làm nữa, suốt ngày trốn không lên triều, phía dưới cũng bắt đầu tiêu cực đình công. Cộng thêm hỏa khí làm việc nguy hiểm lớn, tốn công vô ích, không chừng xảy ra tai nạn an toàn, là chuyện rất phiền phức.

Tôn Thừa Tông không sợ phiền phức, ông không chỉ trang bị cho quân đội những trang bị tiên tiến như Tam nhãn hỏa súng, mà còn mua sắm rất nhiều đại bác, thử dùng hỏa pháo thủ thành. Mà Cẩm Châu, chính là thành phố thí điểm của ông.

Mặc dù tình hình không ổn, nhưng Đại Thiện không đi con đường thông thường, cũng không đi đường cũ, vẫn một mực cố chấp, tìm người bắc thang mây, xe xung kích xông vào thành.

Thủ tướng Cẩm Châu lúc này là Triệu Suất Giáo. Phải nói rằng, thái độ tác chiến của ông rất có vấn đề, đối mặt với Đại Thiện đang nhe nanh múa vuốt, cực kỳ kích động dưới thành, ông lại bình tĩnh, không hề kích động, thỉnh thoảng đi dạo hai vòng trên đầu thành, bắn vài phát pháo, dưới thành sẽ nhanh chóng truyền đến những tiếng kêu thảm thiết, sau khi đền mạng hàng loạt thang mây, hàng loạt tính mạng mà không thu được gì, Đại Thiện dừng tấn công.

Mặc dù dừng tấn công, nhưng Đại Thiện còn chưa muốn đi, ông ta còn định xem thêm hai ngày nữa.

Thế nhưng Tôn Thừa Tông dường như không hoan nghênh khách tham quan, mông Đại Bối lặc còn chưa ngồi nóng chỗ, đã nhận được một tin tức đáng sợ, một đội quân Minh đột nhiên xuất hiện ở bên sườn mình.

Đội quân này là quân Minh đóng giữ Tiền Đồn, Tùng Sơn, nghe tin khách đến, không kịp đón gió, đặc biệt tới tiễn đưa.

Sau sự hoảng loạn ngắn ngủi, Đại Thiện khôi phục bình tĩnh, với tư cách là một tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm, ông ta có lòng tin đánh bại đội quân tập kích này.

Nhưng ông ta vừa dẫn đội phản kích, đã nhìn thấy khói bụi mù mịt phía sau lưng mình: quân Minh trong thành xuất phát.

Đây coi như là bụng lưng đều địch, nhưng Đại Thiện vẫn rất bình tĩnh, với tư cách là một tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm, ông ta rất có lòng tin.

Sau đó, Đại Thiện đầy lòng tin lại nhận được một tin tức khác – quân Minh ở Ninh Viễn, Trung Tiền Sở v.v. đã xuất phát, đang hướng về phía này, chỉ cần thời gian ăn một bữa cơm là tới nơi.

Nhưng Đại Thiện không hổ là Đại Thiện, với tư cách là một tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm, ông ta vô cùng tự tin, bình tĩnh đưa ra một phán đoán anh minh: Mau chạy.

Nhưng đến đi tự do chỉ là một ảo tưởng, rất nhanh Đại Thiện đã phát hiện, mình đã rơi vào vòng vây. Quân Minh không chút khách khí, một trận đánh dữ dội, bộ đội Đại Thiện thương vong vô cùng thảm trọng. May mà đến phần lớn là kỵ binh, tính cơ động cao, liều chết xông ra ngoài, cuối cùng cũng chạy thoát một con đường sống, một hơi chạy hơn trăm dặm, cho đến khi gặp Nhị Bối lặc A Mẫn đón mình, hồn mới coi như bay về.

Trận này quân Minh đại thắng, đánh tan hơn một ngàn quân Hậu Kim, sau trận chiến kiểm kê thu được hơn sáu trăm thủ cấp, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã trả cái giá đắt cho sự thăm dò của mình.

Trong những năm Tôn Thừa Tông đốc sư Liêu Đông, hai bên có chút ý nghĩa "tương kính như tân", tuy rằng thỉnh thoảng có chút cọ xát nhỏ, nhưng đại chiến không hề có, Tôn Thừa Tông không động, Nỗ Nhĩ Cáp Xích không động.

Thế nhưng Tôn Thừa Tông không động thì được, Nỗ Nhĩ Cáp Xích không động thì không được.

Bởi vì nhiệm vụ của Tôn đại nhân là phòng thủ, chỉ cần không để kẻ địch vào cửa ải cướp đồ, ông coi như thắng.

Nỗ Nhĩ Cáp Xích thì khác, nhiệm vụ của ông là cướp, tuy rằng chiếm được một vùng đất khá lớn, nhưng người đều chạy sạch, nhân tài kỹ thuật không nhiều, cái gì cũng không có ngành nghề. Nghe nói một số nơi, ngay cả nồi sắt cũng không đúc nổi. Tôn Thừa Tông đến Liêu Đông coi như đi công tác, có trợ cấp, lại có triều đình gửi vật tư, thỉnh thoảng còn có thể về nghỉ phép, tiên sinh Nỗ hoàn toàn là nguyên sinh, không ai quản không ai thương, không cướp thì làm thế nào?

Nhất định phải cướp, thế nhưng không thể cướp, bởi vì có Tôn Thừa Tông.

Là một siêu cường quốc trên thế giới, nước Mỹ có một hình tượng đại diện vô cùng thú vị – Chú Sam. Lai lịch của vị chú này không cần bàn tới, đặc điểm cụ thể của ông là khuôn mặt đoan chính, cần cù lạc quan, xử sự khiêm tốn, cặm cụi làm việc, thuộc kiểu người ít nói nhưng đặc biệt giỏi giang, là tấm gương mà nhiều người Mỹ tranh nhau noi theo.

Tôn Thừa Tông chính là một nhân vật kiểu "Chú Sam" như vậy, tất nhiên, nếu tính theo tuổi tác thì phải gọi là "Cụ Sam". Vị nhân huynh này tướng mạo kỳ vĩ (có chân dung làm chứng), vô cùng giàu tinh thần lạc quan (người khác không làm thì ông làm), rất khiêm tốn (chưa từng xuất binh gây chuyện), thường xuyên cặm cụi làm việc (xem danh sách thành tích của Tôn Thừa Tông ở phần trước).

Lúc mới bắt đầu, Nỗ Nhĩ Cáp Xích vốn chẳng hề coi trọng "Cụ Tôn", bởi vì người này sau khi nhậm chức thì hoàn toàn không có động tĩnh gì, chẳng hề làm trò trống gì cả. Chuyện quét sạch quân địch, khôi phục Liêu Đông, ông chẳng hề nhắc tới, đừng nói đến chuyện xuất binh tấn công, ngay cả khiêu khích gây sự cũng không, thật sự vô cùng tẻ nhạt.

Nhưng dần dần, ông ta mới phát hiện, đây là một người cực kỳ lợi hại.

Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, lãnh thổ của triều Minh mở rộng với tốc độ đáng kinh ngạc, từ mảnh đất nhỏ bên ngoài quan ải, đến Ninh Viễn, rồi tới Cẩm Châu, trong lúc không hay không biết, ông đã thu phục được gần ngàn dặm đất Liêu Đông.

Đáng sợ hơn nữa là, mỗi bước đi của người này đều được tính toán vô cùng kỹ lưỡng, từng bước một vững chắc, nhân lúc đối phương không để ý là lại "cướp" mất vài mẫu đất. Mỗi lần chiếm không nhiều, nhưng đã chiếm được là không đi, gần như không thể tìm ra bất kỳ sơ hở nào.

Đối với kiểu người ngẩng đầu nhìn trời, cúi đầu giở trò này, Nỗ Nhĩ Cáp Xích hoàn toàn không có cách nào, chỉ đành trơ mắt nhìn đối phương tiến bước lớn, còn bản thân thì lùi bước lớn, cho đến ngày tháng Mười năm Thiên Khải thứ năm (1625).

Ngày hôm đó, Nỗ Nhĩ Cáp Xích nhận được tin, Tôn Thừa Tông đã trở về kinh.

Lý do ông trở về không phải để thăm thân, không phải để báo cáo công việc, cũng không phải để kiểm điểm, mà là chính thức nghỉ hưu.

Phải nói rõ rằng, ông chủ động đề nghị nghỉ hưu, nhưng trong lòng không hề tình nguyện. Ông không muốn đi, nhưng lại không thể không đi.

Bởi vì tổ chức hùng mạnh mà ông từng vô cùng dựa dẫm là Đông Lâm đảng, đã bị hủy diệt.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »