Những Chuyện Thời Minh – Tập 6

Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Mưu sát

❊ ❊ ❊

"Kẻ điên"

Vương Tích Tước hoàn toàn rút lui khỏi chính trường. Năm Vạn Lịch thứ ba mươi sáu, Diệp Hướng Cao chính thức bước lên bảo tọa, trở thành thủ phụ triều đình. Bảy năm sau đó, ông là người đứng đầu nội các, cũng là người duy nhất, sử gọi là "Độc tướng".

Thời cuộc dường như không chút thay đổi, Vạn Lịch vẫn không chịu thượng triều, nội các vẫn mệt mỏi rã rời, các đại thần vẫn chửi bới không ngớt, nhưng sự thật lại chẳng phải như vậy.

Dưới vẻ bề ngoài, các thế lực chính trị đã xuất hiện những biến chuyển tinh vi. Cái mới đã tới, cái cũ vẫn cố bám trụ không đi. Vì lợi ích riêng, đôi bên vẫn luôn ráo riết tìm kiếm, tìm kiếm một cơ hội để đưa đối phương vào chỗ chết.

Cuối cùng, họ đã tìm thấy cơ hội tốt nhất, thích hợp nhất – Thái tử.

Dạo gần đây Thái tử sống cũng không tệ. Kể từ sau "Yêu thư án", ngài đã rất yên tĩnh được vài năm, nói chính xác là chín năm.

Năm Vạn Lịch thứ bốn mươi mốt (1613), một bản báo cáo do một người viết ra đã kéo Thái tử xuống nước một lần nữa.

Người này tên là Vương Viết Càn, đương nhiệm Bách hộ Cẩm y vệ, nói một cách dân dã, hắn là một tên đặc vụ.

Tên đặc vụ này dâng sớ lên Hoàng đế, nói rằng hắn phát hiện một chuyện vô cùng kỳ quái: Có ba kẻ tụ tập, cắt ba hình nhân bằng giấy, bên trên lần lượt viết tên của Hoàng đế, Hoàng thái hậu và Hoàng thái tử, sau đó đóng lên đó bảy bảy bốn mươi chín chiếc đinh sắt (thật sự không dễ dàng gì). Đóng được vài ngày thì phóng hỏa thiêu rụi.

Đây là một quá trình phức tạp, nhưng ý đồ thì rất đơn giản – trù ếm. Dù sao thì việc đóng đinh lên hình nhân giấy, nếu bảo là để cầu phúc thì nghe có vẻ không đáng tin lắm.

Thế thôi thì cũng chớ, rắc rối hơn là tên đặc vụ này còn báo cáo đồng thời rằng, việc này do một tên thái giám sai khiến, mà trớ trêu thay, tên thái giám này lại là người của Trịnh Quý phi.

Thế là chuyện lớn rồi. Tấu sớ gửi đến chỗ Hoàng đế, Vạn Lịch tức giận đến mức lật cả bàn, giữa đêm khuya không ngủ được, đi lại khắp nơi, lo lắng không yên. Thái tử biết chuyện cũng nóng như lửa đốt, chỉ sợ chuyện bị thổi phồng, còn Trịnh Quý phi thì khóc lóc thảm thiết, thề thốt rằng việc này không phải do mình làm.

Mọi người đều lo sốt vó, nhưng Diệp Hướng Cao trong nội các lại lặng lẽ không một tiếng động. Vạn Lịch nguôi giận, sực nhớ đến người này, liền mắng lớn:

"Xảy ra chuyện lớn thế này, sao hắn lại không nói một lời!?"

Lúc này, tên thái giám bên cạnh đưa cho ông ta một thứ, rất nhanh sau đó Vạn Lịch nói câu thứ hai:

"Thế này thì không sao nữa rồi."

Thứ đó chính là tấu sớ của Diệp Hướng Cao, sự việc vừa mới xảy ra là đã được dâng lên ngay.

Nội dung tấu sớ đại loại như sau: Bệ hạ, nguyên cáo (chỉ Vương Viết Càn) và bị cáo (chỉ kẻ trù ếm) của vụ việc này thần đều biết, bọn chúng đều là lũ vô lại đầu đường xó chợ, trước đây từng gây sự và đã bị cơ quan tư pháp (Hình bộ) xử lý. Vụ này rất giống với "Yêu thư án" trước kia, nhưng "Yêu thư án" là nặc danh, không ai tra ra được, còn hiện tại cả nguyên cáo lẫn bị cáo đều ở đây, chỉ cần thẩm vấn một lần là rõ, Hoàng thượng chỉ cần không làm ầm ĩ lên là được.

Xem xong đoạn này, cảm nhận của tôi là: Đây là một người cực kỳ thông minh.

Ý của Diệp Hướng Cao là, chuyện này đúng sai thế nào chưa bàn tới, nhưng không nên làm lớn chuyện. Chỉ cần ngài không nói, tôi không nói, đè vụ này xuống, thẩm vấn một lần là xong.

Đây là một sự lựa chọn không hợp lẽ thường. Bởi vì Diệp Hướng Cao là người của Đông Lâm đảng, mà Đông Lâm đảng lại ủng hộ Thái tử. Hiện tại Thái tử bị người ta trù ếm, lẽ ra phải tra cho ra nhẽ, sao có thể dừng lại ở đây?

Trên thực tế, Diệp Hướng Cao đã đúng.

Ngày hôm sau, Diệp Hướng Cao giao Vương Viết Càn cho Tam pháp ty thẩm vấn.

Đây là quyết định khiến nhiều người nghi hoặc. Đem người ra thẩm vấn, chẳng phải chuyện sẽ bị làm lớn lên sao?

Nếu bạn nghĩ vậy thì bạn quá ngây thơ rồi, bởi vì ngay ngày hôm sau khi ông ra lệnh thẩm vấn, đồng chí Vương Viết Càn đã chết bất đắc kỳ tử trong ngục vì lý do không rõ ràng, nguyên nhân cái chết vẫn đang chờ tra cứu.

Thế nào gọi là thâm độc? Đây chính là thâm độc.

Chỉ cần phân tích tình thế lúc bấy giờ, vạch trần vài điểm nghi vấn, bạn sẽ thấy được động cơ thực sự của Diệp Hướng Cao:

Trước hết, nghi vấn lớn nhất là: Việc này có phải do Trịnh Quý phi làm không? Câu trả lời: Không quan trọng.

Từ xưa đến nay, những chuyện trù ếm như thế này nhiều vô kể, nói toạc ra là muốn trừ khử một người mà không dám công khai, ở nhà làm vài hình nhân, chửi bới cho hả giận, đó thuần túy là tinh thần AQ. Thường thì chỉ có mấy bà già mới làm (chuyện này đến tận ngày nay vẫn còn, dưới nhiều hình thức như "đả tiểu nhân"), mà với chỉ số thông minh của Trịnh Quý phi, thì cũng chỉ ở tầm này, bảo bà ta thực sự làm, tôi cũng tin.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, bà ta có làm hay không không quan trọng, dù sao đinh sắt đóng lên hình nhân cũng chẳng thể giết chết người. Điều thực sự quan trọng là, việc này không thể tra, cũng không thể có chân tướng.

Truy cứu việc này dường như là cơ hội để Thái tử phục thù Trịnh Quý phi, nhưng thực tế, đó lại là một cái bẫy không hơn không kém.

Lý do rất đơn giản, lúc này Chu Thường Lạc đã là Thái tử, chỉ cần không có biến cố lớn, đến lúc đó tự nhiên sẽ kế vị. Còn những chiêu trò khóc lóc, làm loạn, treo cổ của Trịnh Quý phi đã diễn ra hơn mười năm, sớm chẳng còn tác dụng gì nữa.

Nhưng nếu làm lớn chuyện này, lại kinh động đến Hoàng đế, thì dù kết quả thế nào, đối với Thái tử chỉ có hại chứ không có lợi. Bởi vì lúc này, việc duy nhất Thái tử cần làm là – chờ đợi.

Thực tế đã chứng minh, phán đoán của Diệp Hướng Cao cực kỳ chính xác. Nhiều dấu hiệu cho thấy Vương Viết Càn và đám người trù ếm kia có quan hệ mật thiết. Vụ này rất có thể là một âm mưu được lên kế hoạch kỹ lưỡng, một vài kẻ (không nhất thiết là Trịnh Quý phi) vì mục đích nào đó muốn khuấy đục nước, rồi đục nước béo cò.

Đồng chí Diệp Hướng Cao dày dạn kinh nghiệm đã nhìn thấu cái bẫy, nguy cơ đã được vượt qua thành công.

Nhưng thử thách tàn khốc nhất trong đời Thái tử điện hạ sắp sửa ập đến, vào hai năm sau.

Ngày mùng bốn tháng năm năm Vạn Lịch thứ bốn mươi ba (1615), lúc hoàng hôn.

Thái tử Chu Thường Lạc đang nghỉ ngơi trong Từ Khánh cung. Năm Vạn Lịch thứ hai mươi chín, ngài được phong làm Thái tử và chuyển đến đây. Nhưng cha ngài nhân phẩm kém, cơ sở hạ tầng thiếu thốn đủ đường, muốn gì cũng không cho, ngay cả thái giám bên cạnh cũng là loại người ta thải loại. Hoàng đế không coi trọng, đại thần đương nhiên cũng không mặn mà, ngày thường chẳng ai ghé thăm, vô cùng lạnh lẽo.

Nhưng ngày hôm nay, một người đặc biệt đã đi đến trước cửa cung của ngài, và sẽ chào hỏi ngài theo một cách đặc biệt.

Hắn cầm một cây gậy gỗ, tiến vào Từ Khánh cung.

Lúc này, khoảng cách giữa hắn và Thái tử chỉ còn hai cánh cửa.

Cánh cửa thứ nhất không có người canh giữ, hắn bước qua.

Đến cánh cửa thứ hai, hắn gặp vật cản.

Thông thường, cửa của các cơ quan trọng yếu quốc gia đều có binh lính trang bị vũ khí đứng gác, dù kém hơn một chút cũng có vài bảo vệ, thực sự là chết cũng không ai hỏi thì ít nhất cũng có một ông lão trông coi.

Thời nhà Minh cũng vậy, Cẩm y vệ, Đông xưởng... chưa nói tới, trước cửa Binh bộ, Lại bộ đều có binh lính canh gác. Thế nhưng trước cửa Thái tử điện hạ, không có binh lính, không có bảo vệ, thậm chí đến một ông lão cũng không có.

Chỉ có hai tên thái giám già.

Thế là, hắn vung gậy gỗ, đánh tới.

Ai cũng biết, thể lực của thái giám kém hơn người bình thường (trừ những kẻ đã luyện "Bảo điển"), huống hồ lại là thái giám già.

Rất nhanh, một tên thái giám già bị đánh bị thương, hắn vượt qua cánh cửa thứ hai, tiến về phía mục tiêu.

Mục tiêu, nằm ngay phía trước không xa.

Tuy nhiên, thái giám tuy không biết đánh đấm, nhưng lại rất biết kêu cứu. Dưới tiếng thét chói tai, những tên thái giám khác cuối cùng cũng xuất hiện.

Chuyện sau đó diễn ra khá thuận lợi, dù sao gã này cũng không cầm súng tiểu liên, bản thân hắn cũng không biết biến hình, không biết hóa thân, cũng không mang lại cho chúng ta thêm bất ngờ nào. Dưới sự vây đánh của một đám thái giám, cuối cùng hắn đã bị bắt giữ.

Lúc đó Thái tử đang ở trong Từ Khánh cung, sau khi nhận được báo cáo thì không hề hoảng sợ, dù sao người cũng đã bắt được, cũng không lọt vào trong. Ngài hạ lệnh giao kẻ này cho lực lượng bảo vệ cung đình xử lý, trong mắt ngài, đây chẳng qua chỉ là chuyện nhỏ.

Nhưng những gì xảy ra tiếp theo sẽ vượt xa sức tưởng tượng của ngài.

Người đã bắt được, tự nhiên phải thẩm vấn. Theo nguyên tắc địa phương, vụ án xảy ra ở đâu thì nha môn ở đó thẩm vấn. Nhưng vụ án này khác, án trong hoàng cung, chẳng lẽ lại bắt Hoàng đế thẩm vấn?

Đùn đẩy qua lại, cuối cùng xác định vụ án này do Tuần thành Ngự sử Lưu Đình Nguyên phụ trách thẩm vấn.

Thẩm vấn nửa ngày, Lưu Ngự sử lại đưa ra một kết luận dở khóc dở cười – gã này là một kẻ điên.

Bởi vì dù ông ta có nói gì, dụ dỗ hay đe dọa, câu trả lời của gã này vẫn cứ "ông nói gà bà nói vịt", hoàn toàn không ăn nhập, thỉnh thoảng lại phun ra vài câu chẳng ai hiểu nổi, xem như là một kẻ điên chính hiệu.

Thế là sau vài vòng, Lưu Ngự sử cũng chẳng buồn thẩm vấn nữa, nếu còn thẩm vấn tiếp, chính ông ta cũng sẽ phát điên mất.

Nhưng bảo là không có chút thành tựu nào thì cũng không đúng, kẻ điên này khai rằng hắn tên Trương Sai, người Ký Châu, còn những tình huống khác thì hoàn toàn không biết gì.

Kết quả này tuy không tốt, nhưng lại rất thích hợp. Bởi vì đã là kẻ điên thì tự nhiên có thể làm những chuyện của kẻ điên. Việc hắn xông vào hoàng cung đánh người đã có lời giải thích: Không bối cảnh, không kẻ sai khiến, kẻ điên mà, lại không biết đường, cứ thế lơ ngơ xông vào hoàng cung, lơ ngơ đánh người, rất tốt, rất tốt.

Được, được, chuyện này nếu đặt ở triều đại khác, Hoàng đế đè xuống, đại thần tung hứng, thế là xong.

Đáng tiếc, đáng tiếc, đây là triều Minh.

Chuyện vừa xảy ra, tin tức đã lan truyền khắp nơi, đầu đường cuối ngõ ai ai cũng bàn tán, các đại thần trong triều lại càng không cần phải nói, mỗi ngày đều nói đi nói lại chuyện này, và quan điểm của mọi người đều rất thống nhất: Chuyện này, chính là do Trịnh Quý phi làm.

Cái gọi là dư luận, chính là sự bàn tán của quần chúng. Theo số người bàn tán ngày càng đông, chuyện này cũng không đè xuống được nữa, thế là Vạn Lịch đích thân xuất mã, lệnh cho Tam pháp ty hội thẩm vụ án này.

Nói là Tam pháp ty, thực ra chỉ có Hình bộ, cấp bậc người thẩm vấn cũng không cao, Thượng thư, Thị lang đều không đến, chỉ là hai vị Lang trung (cấp Chính sảnh).

Nhưng trình độ của hai vị này rõ ràng cao hơn Lưu Ngự sử, sau vài vòng hỏi han, vậy mà lại hỏi ra được manh mối.

Điều tra vụ án, phải tìm ra mấu chốt, mà mấu chốt của vụ án này không phải là ai làm, mà là tại sao làm, tức là cái gọi là: Động cơ.

Sau một hồi tra hỏi, Trương Sai nói ra động cơ của mình: Trước đó không lâu, đống củi khô nhà hắn bị người ta đốt mất, hắn tức không chịu nổi, đến nha môn địa phương kêu oan, địa phương không quản, hắn mới lên kinh thành khiếu nại, kết quả vô tình xông vào cung, trong lòng sợ hãi nên tiện tay đánh người, chỉ có vậy thôi.

Nếu dùng hai từ để hình dung lời khai của Trương Sai, đó chính là "nhảm nhí".

Củi bị đốt mà phải lên tận kinh thành khiếu nại, cách nói này đã chứng minh một điều: Trương Sai dù không phải kẻ điên thì cũng là một kẻ ngốc.

Bởi vì đây thực sự không phải lý do hay ho gì, đổi lại là người khác, kiểu gì cũng phải bịa ra câu chuyện nhà bị thiêu rụi, ác bá ức hiếp dân lành thì mọi người mới đồng cảm cho bạn chứ.

Hơn nữa, người đến kinh thành kiện cáo nhiều vô kể, có mấy ai vào được cung? Cung lớn như vậy, sao cứ nhất định phải đến tẩm cung của Thái tử, mà ngươi còn cứ xông vào làm gì?

Về điểm này, hai vị Lang trung thẩm án trong lòng tự nhiên hiểu rõ, nhưng ý đồ của lãnh đạo họ còn hiểu rõ hơn: Việc này, chỉ có thể làm cho nhỏ đi.

Tên của hai vị Lang trung này lần lượt là Hồ Sĩ Tương và Nhạc Tuấn Thanh. Sở dĩ nêu tên họ ra là vì hai người này tuyệt đối không phải hạng tầm thường.

Thế là sau một hồi thảo luận, vụ án Trương Sai chính thức kết thúc. Động cơ phạm tội tạm không nhắc tới, kết cục của phạm nhân thì chắc chắn – tử hình (cũng coi như giết người diệt khẩu).

Nhưng muốn giết người thì phải có tội danh, điều này đương nhiên không làm khó được hai vị huynh đài này. Không hổ là người của Hình bộ, rất có tu dưỡng chuyên môn, họ tìm được điều này trong Đại Minh Luật: Kẻ nào bắn tên, bắn đạn, ném gạch đá vào cung điện gây thương tích cho người khác, chiếu luật chém đầu.

Tại sao gây thương tích không cần quản, gây thương tích cho ai cũng không cần quản, vụ án đến đây là kết thúc, cứ thế mà khép lại, mọi người đều được yên thân.

Khép án như vậy cũng coi như là "khó được hồ đồ", chân tướng sự việc cứ thế mà bị chôn vùi hoàn toàn.

Tuy nhiên trên thế giới này, dù sao vẫn có những người không hồ đồ, và không muốn giả vờ hồ đồ.

Ngày mười một tháng năm, ngục Hình bộ.

Đã bảy ngày rồi, Trương Sai đã hoàn toàn quen với cuộc sống trong ngục. Hoàn cảnh hiện tại tuy khác với những gì hắn dự tính, nhưng nhìn chung là bình thường. Giả điên rất hiệu quả, chân tướng vẫn ẩn giấu trong lòng hắn.

Đến giờ ăn cơm, Trương Sai đi đến trước cửa ngục, chờ đợi cơm canh hôm nay.

Nhưng hắn không hề biết rằng, có một đôi mắt đang dõi theo hắn trong bóng tối.

Theo quy định, dù phạm nhân đã khai nhận, nhưng Hình bộ mỗi ngày đều phải cử người chuyên trách đến thẩm vấn, đề phòng lật kèo.

Ngày mười một tháng năm, đến lượt Vương Chi Quán.

Vương Chi Quán, tự Tâm Nhất, đương nhiệm Hình bộ Chủ sự.

Chủ sự là quan chức cấp thấp của Hình bộ, mà vị tiên sinh Vương này tuy chức quan nhỏ nhưng tâm cơ lại không nhỏ. Ông là một người tin vào thuyết âm mưu kiên định, khẳng định phía sau tên điên này nhất định ẩn giấu những bí mật nào đó.

Trùng hợp thay, khi ông đến phòng giam thì vừa đúng lúc đến giờ ăn cơm, thế là ông không lên tiếng, tìm một góc khuất, lặng lẽ dõi theo tên điên kia.

Bởi vì lúc ăn cơm, một người rất khó mà ngụy trang.

Sau đó mọi thứ đều bình thường, Trương Sai bình thản nhận cơm, bình thản chuẩn bị ăn.

Tuy nhiên, Vương Chi Quán đã khẳng định, đây là một kẻ có vấn đề.

Bởi vì thân phận của hắn là kẻ điên, mà một kẻ điên thì sẽ không bình thường như thế.

Vì vậy, ông lập tức đứng ra, ngắt lời Trương Sai đang ăn cơm, và bảo cai ngục lập tức bắt đầu thẩm vấn.

Trương Sai vô cùng bất ngờ, nhưng lập tức trấn tĩnh lại. Trong mắt hắn, vị khách không mời mà đến này cũng chẳng khác gì những quan lớn trước kia.

Thẩm vấn bắt đầu, vẫn như trước, Trương Sai giả điên giả dại, nhưng hắn nhanh chóng kinh ngạc phát hiện, người trước mắt này không nói một lời, chỉ lặng lẽ nhìn hắn.

Sau khi hắn biểu diễn xong, hiện trường lại rơi vào im lặng, rồi hắn nghe thấy một câu nói như thế này:

"Khai thật thì cho cơm ăn, không khai thì bỏ đói cho chết."

Trong nghệ thuật ép cung trăm hoa đua nở của nước ta, đây là một câu nói khá buồn cười. Bất kể thẩm vấn nào, thông thường trước hết là đại nghĩa dân tộc, khoan hồng cho kẻ thành thật, sau đó mới là ghế cọp, nước ớt. Dù có dùng lợi dụ dỗ thì cũng là thăng quan phát tài, tiền bạc mỹ nữ các kiểu.

Còn mồi nhử của Vương Chủ sự chỉ là một bát cơm.

Dù sao thì, cũng quá keo kiệt.

Thực tế đã chứng minh, Trương Sai quả thực là một người khá tốt, biểu hiện cụ thể là đầu óc đơn giản, tư tưởng mộc mạc. Giữa việc ăn một bát cơm và giấu kín chân tướng để giữ mạng, hắn không chút do dự mà chọn cái trước.

Thế là hắn cúi đầu, nói một câu như thế này:

"Tôi không dám nói."

"Không dám nói" nghĩa là không phải không biết, cũng không phải không nói, mà là biết rồi nhưng không tiện nói.

Vương Chi Quán là một người cực kỳ thông minh, lập tức đuổi hết mọi người ra ngoài, rồi ông cầm bát cơm đó, nghe thấy chân tướng sự việc:

"Tôi tên Trương Sai, người Ký Châu, tên cúng cơm là Trương Ngũ Nhi, cha đã qua đời."

"Một ngày nọ, có hai người quen tìm đến tôi, dẫn tôi đi gặp một lão công công (tức thái giám), lão công công nói với tôi, ngươi đi theo ta làm một việc, xong việc sẽ cho ngươi vài mẫu ruộng, bảo đảm ngươi cơm ăn áo mặc không lo."

"Thế là tôi đi theo ông ta, ngày mùng bốn (tức mùng năm tháng tư) đến kinh thành, đến một ngôi nhà, gặp một lão công công khác."

"Ông ta bảo tôi, ngươi cứ việc đi vào trong, thấy một đứa thì đánh chết một đứa, đánh chết rồi chúng ta cứu ngươi."

"Sau đó ông ta đưa cho tôi một cây gậy gỗ, dẫn tôi vào cung, tôi cứ thế đi vào, đánh gục một công công, rồi bị bắt."

Vương Chi Quán bàng hoàng.

Ông không ngờ rằng, suy đoán bên ngoài lại là thật. Đây đích thực là một vụ ám sát chính trị đã được lên kế hoạch từ lâu.

Nhưng điều ông không ngờ tới hơn là, vụ ám sát này lại được thực hiện một cách ngu xuẩn như vậy. Kẻ trước mắt này, dù không phải là kẻ điên, nhưng bảo hắn là kẻ ngốc thì cũng không sai, hơn nữa chẳng phải cao thủ võ lâm, cũng chẳng phải sát thủ chuyên nghiệp, cùng lắm thì cũng chỉ là một gã nông dân bặm trợn.

Quá trình gây án cũng cực kỳ nực cười. Nghe qua thì dường như là quần chúng tiến cử, thái giám sử dụng, tiện tay dẫn đến kinh thành, chẳng cho mỹ nữ, cũng chẳng cho tiền, đến khách sạn hạng sao cũng không được ở, chưa thấy chút lợi lộc nào đã đồng ý đi đánh người. Loại kẻ ngốc như thế này, ngươi đi đâu mà tìm?

Nói về hung khí, thông thường mà nói, ám sát nhân vật lớn thì phải dùng loại hàng cao cấp. Năm xưa Kinh Kha hành thích Tần Thủy Hoàng còn tìm được con dao găm của Từ Phu Nhân, nghe đồn là chạm vào là chết. Lùi mười nghìn bước mà nói, dù là giết một người dân thường thì ít nhất cũng phải tìm được con dao ngắn, đằng này vị huynh đài này lúc vào cung, đừng nói là những món hàng cao cấp đó, đến một con dao thái rau cũng không có, cầm cây gậy gỗ đi đánh, thế là thế nào?

Từ đầu đến cuối, chuyện này nhìn kiểu gì cũng thấy không ổn. Nhưng dù sao tình hình cũng đã hỏi ra được, Vương Chi Quán không dám chậm trễ, lập tức dâng tấu lên Vạn Lịch.

Thế nhưng tấu sớ gửi lên rồi mà không có lấy một hồi âm, Hoàng đế bệ hạ không có chút phản ứng nào.

Nhưng điều này đã nằm trong dự liệu của Vương Chi Quán, ông lão đã sớm chép sẵn bản sao, phát tán khắp nơi, bản thân cũng chạy đôn chạy đáo tạo dư luận yêu cầu một phiên tòa công khai.

Ông làm ầm ĩ thế này, một đại gia tư pháp khác là Đại lý tự thừa Vương Sĩ Xương cũng nhảy ra, cũng hùa theo đòi Tam pháp ty hội thẩm.

Nhưng Vạn Lịch vẫn không có phản ứng gì. Điều này có thể hiểu được, phải biết rằng người ta năm xưa từng trải qua chuyện "tranh quốc bản" rồi, cả trăm người cùng xông lên, đó mới là đại thế diện, chuyện nhỏ nhặt này thì tính là gì.

Theo tình hình này, chuyện này rất nhanh sẽ lắng xuống, nhưng Hoàng đế bệ hạ không ngờ rằng, ông không lên tiếng, lại có một người khác nhảy ra.

Người này chính là Trịnh Quốc Thái, em trai của Trịnh Quý phi.

Nguyên nhân sự việc chỉ là một bản tấu sớ.

Ngay sau khi biên bản thẩm vấn được công khai vài ngày, Tư chính Lục Đại Thụ dâng một bản tấu sớ, nêu ra vài nghi vấn: Nếu Trương Sai nói có thái giám tìm hắn, vậy thái giám đó là ai? Hắn từng đến kinh thành, vào một tòa nhà, tòa nhà đó ở đâu? Có một thái giám từng nói chuyện với hắn, thái giám đó lại là ai?

Thế thôi thì cũng chớ, ở cuối bài văn, ông ta còn bồi thêm một câu chẳng liên quan gì, đại ý là, trước kia khi Phúc vương được sắc phong, thần từng dâng sớ hy vọng đề phòng kẻ gian tà, hôm nay quả nhiên ứng nghiệm!

Lời này tuy có chút "chỉ cây dâu mắng cây hòe" nhưng thực ra cũng chẳng nói gì cụ thể, thế mà Trịnh Quốc Thái tiên sinh lại nhảy dựng lên, viết một bản tấu sớ để biện minh cho mình.

Đây chính là cái gọi là "tự nhận vơ", nó hình ảnh minh họa cho chỉ số thông minh của Trịnh Quốc Thái, cơ bản là cùng một đẳng cấp với chị gái mình.

Chưa hết, trong bản tấu sớ này, Trịnh tiên sinh còn để lại vài câu như thế này: "Có âm mưu lật đổ Thái tử gì chứ? Lại còn chủ mưu chuyện gì? Mua chuộc kẻ liều mạng để làm gì? ... Những chuyện này ta nghĩ cũng không dám nghĩ, càng không dám nói, cũng không nhẫn tâm nghe."

Hành động này đã cho chúng ta thấy một cách sống động rằng, chữ "ngu" được viết như thế nào.

Đầu óc của Trịnh tiên sinh thực sự ngu muội đến mức khó tin. Loại chuyện "lạy ông tôi ở bụi này" hàng thật giá thật như thế, các quan ngôn luận đương nhiên sẽ không bỏ qua. Rất nhanh, Công khoa Cấp sự trung Hà Sĩ Tấn đã phản ứng, phản ứng vô cùng dữ dội: "Ai nói ngươi lật đổ Thái tử! Ai nói ngươi chủ mưu! Ai nói ngươi mua chuộc kẻ liều mạng! Ngươi vừa biện minh vừa tự khai, đúng là giấu đầu hở đuôi!"

Trịnh Quốc Thái á khẩu không nói được lời nào, chuyện đã làm ầm ĩ đến mức này thì không thể thu dọn được nữa.

Lúc này, hầu như tất cả mọi người đều cho rằng chân tướng sự việc sắp sửa được phơi bày ra ánh sáng, ngoại trừ Vương Chi Quán.

Sau khi sơ thẩm thành công, vụ án Trương Sai được tái thẩm, Vương Chi Quán cũng đắc ý được vài ngày. Tuy nhiên không lâu sau đó, ông mới phát hiện mình đã bỏ qua một vấn đề vô cùng quan trọng:

Trương Sai giả điên rất vụng về, vì một bát cơm mà khai ra hết, tại sao các quan viên trước kia lại không nhìn ra?

Suy đi tính lại, ông đi đến một kết luận vô cùng đáng sợ: Họ cố tình làm vậy.

Người đầu tiên đáng nghi chính là Lưu Đình Nguyên, kẻ thẩm vấn Trương Sai đầu tiên, kết luận Trương Sai là kẻ điên cũng bắt nguồn từ đây. Sau khi âm thầm phân tích, Vương Chi Quán phát hiện vị Ngự sử tiên sinh này không phải là một nhân vật đơn giản.

Người này tuy chỉ là một Tuần thành Ngự sử, nhưng dường như lại có liên hệ mật thiết với Trịnh Quốc Thái. Và hai vị Lang trung Hình bộ tái thẩm sau đó là Hồ Sĩ Tương, Nhạc Tuấn Thanh cũng qua lại rất thân thiết với hắn.

Chuyện này dường như không có gì lạ, tuy Trịnh Quốc Thái khá ngu ngốc, nhưng thực lực vẫn có, dù sao Phúc vương được sủng ái, kẻ chủ động đầu quân cũng không ít.

Nhưng rất nhanh ông đã phát hiện, sự việc còn phức tạp hơn ông tưởng tượng nhiều.

Bởi vì vài ngày sau, Hình bộ quyết định tái thẩm vụ án, mà chủ thẩm quan lại chính là vị Lang trung từng tán đồng kết luận của Lưu Đình Nguyên – Hồ Sĩ Tương.

Hồ Sĩ Tương, đương nhiệm Hình bộ Sơn Đông ty Lang trung, xét về cấp bậc, ông ta là cấp trên của Vương Chi Quán. Và trong quá trình thẩm án, Vương Chủ sự kinh ngạc phát hiện Hồ Lang trung luôn lấp liếm, khăng khăng cho rằng Trương Sai là điên thật, trì hoãn không truy cứu chân tướng sự việc.

Tất cả mọi thứ đã để lại cho Vương Chi Quán một ấn tượng sâu sắc: Phía sau cái gọi là kẻ điên này, ẩn giấu một thế lực khổng lồ.

Mà Lưu Đình Nguyên, Hồ Sĩ Tương chẳng qua chỉ là phần nổi của tảng băng chìm mà thôi.

Nhưng điều khiến ông khó hiểu là, kẻ sai khiến những người này dường như không phải Trịnh Quốc Thái. Tuy họ ra sức che giấu chân tướng, nhưng Trịnh tiên sinh trong triều vốn không được lòng người, cộng thêm bản thân lại khá ngu, bảo ông ta là ông chủ đứng sau thì thật là đề cao ông ta quá.

Vậy thì tất cả chuyện này rốt cuộc là thế nào?

Cảm giác của Vương Chi Quán là chính xác. Cái bóng đứng sau Lưu Đình Nguyên và Hồ Sĩ Tương, không phải là Trịnh Quốc Thái.

Cái bóng đó tên là Thẩm Nhất Quán.

Xét về thành tích chính trị, Thẩm Nhất Quán trong sử sách chỉ là một nhân vật tầm thường, nhưng trên thực tế, vị này lại có địa vị lịch sử vô cùng quan trọng, là nhân vật trọng điểm trong nghiên cứu về thời kỳ cuối triều Minh.

Bởi vì thành tựu lớn nhất của vị huynh đài này không phải là làm chính trị, mà là làm công tác tổ chức.

Chúng ta có lý do để tin rằng, trong thời gian tại nhiệm, ngoài việc chính vụ hàng ngày, ông ta luôn làm một việc – lôi kéo người.

Lôi kéo thế nào, lôi kéo bao nhiêu, những điều này đều không thể tra cứu, nhưng có một điểm chúng ta có thể khẳng định, đó chính là nguyên tắc tuyển người của tổ chức này – người Chiết Giang.

Thẩm Nhất Quán là người Tứ Minh, Chiết Giang. Trong việc dùng người thân tín, ông ta và người đồng hương sau này là Tưởng Giới Thạch có thủ đoạn tương đồng. Thế là dựa trên cơ sở những người thân tín, ông ta đã thành lập một hội đồng hương.

Hội đồng hương này, trong lịch sử Trung Quốc sau đó, được gọi là Chiết đảng.

Đây chính là một mặt khác của Thẩm Nhất Quán, ông ta vừa là Thủ phụ của triều đình, vừa là lãnh tụ của Chiết đảng.

Phải nói rằng, đây là một quyết định sáng suốt, bởi vì bạn phải nhận thức rõ ràng một điểm như thế này:

Vào thời Vạn Lịch, một vị Thủ phụ không có hậu thuẫn (Hoàng đế), không có thân tín (phe cánh tử trung) thì tuyệt đối không thể ngồi vững.

Vì vậy Thẩm Nhất Quán làm được năm năm, Diệp Hướng Cao làm được bảy năm, còn Triệu Chí Cao thì bị người ta chà đạp, Chu Canh chẳng ai đoái hoài.

Đương nhiên, người làm hội đồng hương tuyệt đối không chỉ có Thẩm Nhất Quán, ngoài Chiết đảng ra, còn có Tề đảng lấy người Sơn Đông làm chủ, Sở đảng lấy người Hồ Quảng (nay là Hồ Bắc, Hồ Nam) làm chủ.

Đây chính là Tề, Sở, Chiết tam đảng nổi tiếng trong lịch sử.

Đây là ba tổ chức có năng lượng cực lớn, sức chiến đấu cực mạnh, bởi vì thành viên cốt cán của tổ chức chính là các ngôn quan.

Ngôn quan, bao gồm Cấp sự trung của Lục bộ, cũng như Ngự sử của Đô sát viện. Cấp sự trung có thể can thiệp vào quyết sách của lãnh đạo bộ, ngang hàng với Bộ trưởng (Thượng thư), có ảnh hưởng rất lớn đến các công việc trung ương.

Mà Ngự sử tương đương với đặc phái viên, không những có thể dâng sớ đàn hạch, mà còn thường xuyên xuống các địa phương thị sát, Ngự sử cấp cao còn có thể đảm nhiệm chức Tuần phủ.

Vì thế, các thành viên của tam đảng tuy đều là những quan nhỏ lục phẩm, thất phẩm, nhìn qua thì chẳng có gì nổi bật, nhưng lại vô cùng lợi hại.

Cần phải nói rõ rằng, trong hơn hai trăm năm lịch sử triều Minh trước đó, tuy việc kết bè kéo cánh là chuyện cơm bữa, nhưng công khai lập tổ chức thì chưa có tiền lệ, tiền lệ chính là từ đây mà ra.

Đây là một câu đố rất thú vị.

Không xuất hiện sớm, không xuất hiện muộn, tại sao lại xuất hiện vào lúc này?

Mà thú vị hơn là, giữa ba đảng không hề đối địch, cũng không đấu tranh, ngược lại còn hòa bình hỗ trợ lẫn nhau, đây thực sự là một việc không phù hợp với truyền thống.

Tồn tại tức là hợp lý, một sự việc xảy ra là vì nó có lý do để xảy ra.

Có một lý do khiến tam đảng lần lượt thành lập, có một lý do khiến họ sống hòa bình với nhau. Đúng vậy, tên của lý do này gọi là Đông Lâm đảng.

Cố Hiến Thành ở Vô Tích chỉ là một thường dân, thứ ông điều hành chỉ là một thư viện, nhưng hầu như ai cũng biết, thư viện này có thể coi thường Thủ phụ đương triều, gọi họ là bù nhìn, trẻ con; thư viện này có thể ngăn cản đại thần phục chức, thay đổi sự bổ nhiệm của Hoàng đế.

Thiên hạ Đại Minh, quyết sách quốc gia, đều thao túng trong tay những người dân thường này. Từ xưa đến nay, người dân thường "trâu bò" như vậy, tôi chưa từng thấy.

Cho dù là Cố Hiến Thành, Cao Phàn Long, Triệu Nam Tinh đang ở ngoài triều, hay Lý Tam Tài, Diệp Hướng Cao đang ở trong triều, đều không phải là những kẻ dễ đối phó. Đông Lâm đảng vừa có dư luận xã hội, lại vừa có trọng thần triều đình, nếu nói nó là tổ chức thuần đạo đức, thì quỷ mới tin, dù sao tôi không tin.

Đến tôi còn không tin, đám người cáo già lão luyện trong triều đình nhà Minh làm sao có thể tin? Vì vậy, trước một đối thủ đủ sức ảnh hưởng đến triều đình, xoay chuyển thiên hạ như vậy, họ đã sợ hãi.

Để vượt qua nỗi sợ hãi, phương pháp hiệu quả nhất, nhanh nhất chính là tìm một người cùng sợ hãi với mình.

Sử viết: Nhà Minh mất vì đảng tranh. Tôi viết: Đảng tranh, khởi từ lúc này.

Lưu Đình Nguyên, Hồ Sĩ Tương không phải là người của Trịnh Quốc Thái, cái loại ngốc nghếch như tiên sinh Trịnh này không có năng lực tổ chức, thân phận thực sự của họ là thành viên Chiết đảng.

Nhưng câu hỏi đặt ra là, Thẩm Nhất Quán cũng từng ủng lập Thái tử, tại sao lại ủng hộ Trịnh Quốc Thái trong việc này?

Câu trả lời là, đối với người chứ không đối với việc.

Thẩm Nhất Quán không thích Trịnh Quốc Thái, càng không thích Đông Lâm đảng, vì "công phẫn".

Cái gọi là công phẫn, là khi ông ta đang nắm quyền, những người như Cố Hiến Thành luôn gây khó dễ cho ông ta trong việc công, ông ta rất phẫn nộ, nên gọi là công phẫn.

Tuy nhiên, người mà ông ta không thích nhất lại chẳng phải là Đông Lâm đảng – đó là Diệp Hướng Cao, vì "tư thù", mối tư thù ba mươi hai năm.

Ba mươi hai năm trước (năm Vạn Lịch thứ 11, 1583), Diệp Hướng Cao đến kinh thành tham gia hội thí.

Diệp Hướng Cao, tự Tiến Khanh, người Phúc Thanh, Phúc Kiến, sinh năm Gia Tĩnh thứ 38.

Phải thừa nhận rằng, vận may của ông ta rất không tốt, vừa mới chào đời đã trải qua thử thách sinh tử.

Bởi vì vào năm Gia Tĩnh thứ 38, giặc Oa xâm lược Phúc Kiến, Phúc Thanh thất thủ, nói chính xác hơn, ngày thất thủ chính là sinh nhật của Diệp Hướng Cao.

Nghe nói mẹ ông để tránh giặc Oa đã trốn trong đống rơm, giặc Oa đi khỏi thì đứa trẻ cũng chào đời, nghĩ lại thực sự không dễ dàng gì.

Diệp Hướng Cao thoát chết trong gang tấc cũng chẳng có phúc phận gì, để tránh giặc Oa, mới một hai tuổi đã thành "du kích", giặc vào làng là ông lại cùng mẹ trốn vào núi. Tôi tin rằng, mấy chục năm sau, sự khéo léo, mưu trí của ông chính là được rèn giũa từ đây.

Khi giặc Oa hung hăng nhất, rất nhiều người đã vứt bỏ con cái của mình (gánh nặng) để tự chạy thoát thân, cũng có người khuyên mẹ của Diệp Hướng Cao, nhưng bà nói:

"Chết thì chết cùng nhau."

Nhưng cuối cùng họ vẫn sống sót, bởi vì một nhân vật vĩ đại khác của triều Minh – Thích Kế Quang.

"Thi cử"

Năm Gia Tĩnh thứ 41 (1562), Thích Kế Quang phát động chiến dịch Hoành Tự, công phá Hoành Tự, thu phục Phúc Thanh, và cuối cùng bình định được mối họa giặc Oa.

Phải nói rõ rằng, Diệp Hướng Cao lúc đó không gọi là Diệp Hướng Cao, chỉ có một cái tên nhũ danh, cái tên này ngày nay xem ra không được nhã nhặn lắm, nên không giới thiệu.

Cái tên Hướng Cao là do cha ông đặt, ý nghĩa là từng bước một, hướng tới chỗ cao mà đi.

Thực tế cho chúng ta thấy, cái tên này, đôi khi sửa lại một chút, vẫn rất hiệu quả.

Năm Long Khánh thứ 6 (1572), Diệp Hướng Cao mười bốn tuổi, đỗ Tú tài.

Năm Vạn Lịch thứ 7 (1579), Diệp Hướng Cao hai mươi mốt tuổi, đỗ Cử nhân.

Năm Vạn Lịch thứ 11 (1583), Diệp Hướng Cao hai mươi lăm tuổi, lần thứ hai tham gia hội thí. Sau khi thi xong, cảm giác của ông rất tốt.

Kết quả cũng chứng minh suy nghĩ của ông, ông đỗ thứ 78, trở thành Tiến sĩ. Bây giờ, trước mặt ông chỉ còn lại cửa ải cuối cùng – Điện thí.

Điện thí rất thuận lợi, giám khảo của Hàn Lâm viện vô cùng hài lòng với Diệp Hướng Cao, quyết định xếp thứ hạng của ông là thứ nhất, tiền đồ rộng mở đang vẫy gọi Diệp Hướng Cao.

Tuy nhiên, tất cả những gì tiếp theo lại xảy ra thay đổi nằm ngoài dự đoán.

Bởi vì từ giây phút này, Diệp Hướng Cao đã kết mối thù sâu sắc với Thẩm Nhất Quán, mặc dù trước đó, họ chưa từng gặp nhau.

Cần giải thích rõ là, thứ hạng 78 của Diệp Hướng Cao không phải là thứ 78 toàn quốc, mà là thứ 78 của Nam quyển.

Tiến sĩ triều Minh không phải là tuyển chọn thống nhất toàn quốc, mà là phân bổ hạn ngạch theo khu vực, cụ thể chia làm ba vùng: Nam, Bắc, Trung, tỷ lệ trúng tuyển mỗi nơi khác nhau.

Cái gọi là Nam, tức là các tỉnh phía nam sông Hoài, tỷ lệ là 55%. Bắc, tức là phía bắc sông Hoài, tỷ lệ là 35%. Còn Trung, chỉ ba tỉnh Vân, Quý, Xuyên, cùng với Phượng Dương, tỷ lệ là 10%.

Cụ thể mà nói là ý này, ví dụ như triều đình năm nay muốn tuyển một trăm tiến sĩ, thì phân bổ đến các nơi là miền Nam năm mươi lăm người, miền Bắc ba mươi lăm người, miền Trung mười người. Điều này có nghĩa là, nếu bạn là người miền Nam, trong kỳ thi đỗ thứ 56 của miền Nam, dù thành tích của bạn có tốt đến đâu, bài văn viết có hay hơn cả người đỗ thứ nhất miền Bắc, bạn cũng không thể trúng tuyển.

Mà nếu bạn là người miền Trung, dù bài văn của bạn có kém đến đâu, ở miền Nam chỉ có thể xếp hạng vài trăm, nhưng chỉ cần đỗ trong top mười quyển miền Trung, bạn đã có thể làm tiến sĩ.

Đây là quy định có lịch sử lâu đời, từ hơn hai trăm năm trước, khi Chu Nguyên Chương lên ngôi đã bắt đầu thực hiện, nguyên nhân là một vụ án chính trị vô cùng đẫm máu – vụ án Nam Bắc bảng. Vụ án này là một món nợ mơ hồ, đại khái là một lần thi cử, cử nhân miền Nam thi rất tốt, tốt đến mức miền Bắc không có mấy người đỗ, thế là có người không phục, nói giám khảo gian lận, chuyện làm ầm ĩ lên, đến tai lão Chu, ông cụ là người thực tế, cũng chẳng tranh cãi gì, vung bút lên là chém bay hàng trăm người.

Nhưng chém xong rồi, sự việc vẫn phải giải quyết, vì thực tế là chất lượng giảng dạy miền Bắc năm đó quả thực không bằng miền Nam, bạn có giết sạch người cũng vô ích. Không còn cách nào khác, đành phải thiết lập Nam Bắc bảng, ai cũng đừng tranh cãi nữa, cứ xem bạn sinh ra ở đâu, miền Nam coi như bạn xui xẻo, miền Bắc coi như bạn may mắn.

Đến thời Minh Tuyên Tông, sự việc lại thay đổi, vì vùng Vân, Quý, Xuyên coi là miền Nam, nhưng thời đó là vùng đất man di, đừng nói đến đọc sách, kiếm bát cơm ăn cũng không dễ, nếu phải thi đối đầu với đám người Giang Chiết miền Nam thì coi như tuyệt hậu. Thế là Hoàng đế ra lệnh, xếp vùng này vào miền Trung, làm đặc khu, còn Phượng Dương, vì là quê cũ của Chu Nguyên Chương, lại đặc biệt nghèo, nên làm việc đặc biệt, cũng được xếp vào.

Đương nhiên, đây cũng là chuyện không còn cách nào khác, dù sao nền tảng khác nhau, gốc gác khác nhau, trong thi cử, bạn muốn một đêm thành đại đồng nhân loại, đó là chuyện không thể, nên bộ lý thuyết này vẫn đang dùng. Tôi gọi cái này là thuyết địa lý quyết định thi cử.

Bộ lý thuyết này rất tàn khốc, cũng rất chân thực, chủ yếu là chơi xác suất, xem bạn đầu thai ở đâu.

Ví dụ như nếu bạn sinh ra ở Sơn Đông, Giang Tô, Hồ Bắc kiểu như vậy thì đúng là A Di Đà Phật rồi, những nơi này thường xuyên có một đám người đọc sách không biết mạng sống là gì, theo tôi biết, học sinh một số "trường trung học thị trấn" (trên bản đồ còn không tìm thấy) lớp 11 đã đi thi đại học (không tính điểm), hầu hết đều có thể thi được hơn 600 điểm (thang điểm 750), gọi mỹ miều là: rèn luyện tố chất, sang năm ra trận.

Mỗi lần nghĩ đến đây, không khỏi kinh hồn bạt vía, kết quả của việc làm hàng xóm với đám người này là: nếu muốn vào Bắc Đại, hơn 600 điểm chỉ là giá khởi điểm.

Phải nói rằng, hiện nay vẫn có tiến bộ, bị dồn vào đường cùng vẫn có thể chơi vài chiêu ám muội, ví dụ như... thay đổi hộ khẩu.

Thật không may, tiên sinh Diệp Hướng Cao thời Minh không thể chơi chiêu này, là người xuất sắc của Nam quyển, ông có rất nhiều đối thủ, trong đó có một người gọi là Ngô Long Trưng.

Vị Ngô tiên sinh này cũng là người Phúc Kiến, nhưng ông ta lợi hại hơn các đối thủ khác nhiều, bởi vì hậu thuẫn của ông ta gọi là Thẩm Nhất Quán.

Theo suy nghĩ của Thẩm Nhất Quán, người này phải là thứ nhất, sau đó tiến vào triều đình, trở thành người giúp việc của ông ta, nhưng sự xuất hiện của Diệp Hướng Cao lại làm đảo lộn kế hoạch của Thẩm Nhất Quán.

Thế là Thẩm Nhất Quán chuẩn bị cho Diệp Hướng Cao trượt bảng, ít nhất cũng không để ông ta đứng đầu.

Hơn nữa ông ta tin rằng mình có thể làm được điều này, bởi vì ông ta chính là giám khảo của kỳ thi lần này.

Nhưng rất tiếc, ông ta đã không thành công, bởi vì một người còn "trâu bò" hơn đã xuất hiện.

Giám khảo tuy lớn, nhưng lớn thế nào cũng không lớn bằng Thủ phụ.

Diệp Hướng Cao tuy không có quan hệ, nhưng có thực lực. Bài văn viết thực sự quá hay, hay đến mức các giám khảo khác không phục, đem chuyện này bẩm báo cho Thân Thời Hành, Thân đại nhân nhìn qua cũng mừng không tả xiết, gọi Thẩm Nhất Quán qua, bảo đây là nhân tài, nhất định phải tuyển!

Lần này Thẩm đại nhân uất ức, ông chủ lớn đã ra mặt, nếu không cho Diệp Hướng Cao bát cơm, bát cơm của mình cũng khó giữ, nhưng cuối cùng ông ta vẫn không phục, nên kết quả cuối cùng như sau:

Diệp Hướng Cao, trúng tuyển, đứng thứ mười hai nhị giáp.

Đây là một kết quả nằm ngoài dự đoán của rất nhiều người, bởi vì nếu muốn chỉnh người, hoàn toàn có thể tống cổ đồng chí Diệp Hướng Cao xuống tam giáp, thế là xong, không cho trạng nguyên, nhưng lại cho một thứ hạng coi được, thực sự khiến người ta khó hiểu.

Nói cho bạn biết, trong này có học vấn lớn lắm.

Diệp Hướng Cao làm hỏng tính toán của mình, tự nhiên là phải giáo huấn. Nhưng vấn đề là, người này do Thân Thời Hành bảo lãnh, Thân Thủ phụ cũng là một con cáo già, nếu muốn qua loa với ông ta thì không có quả ngọt mà ăn, nên cái mặt mũi này không những phải cho, mà còn phải cho đủ. Mà nhị giáp thứ mười hai là sự sắp xếp thích hợp nhất.

Bởi vì theo quy định triều Minh, nói chung, thành tích nhị giáp thứ mười hai có thể đảm bảo được chọn làm Thứ cát sĩ, tiến vào Hàn Lâm viện, nhưng thứ hạng này cách trạng nguyên khá xa, cũng không quá vẻ vang, làm cho Diệp Hướng Cao khó chịu đúng là vừa vặn.

Nhưng dù sao đi nữa, Diệp Hướng Cao vẫn thuận thuận lợi lợi bước lên con đường làm quan. Mọi việc sau đó đều rất thuận lợi, cho đến mười lăm năm sau.

Năm Vạn Lịch thứ 26 (1598), đúng vào năm này, vận mệnh của Diệp Hướng Cao bị thay đổi hoàn toàn, bởi vì ông đã đợi được một cơ hội ngàn năm có một.

Lúc này Hoàng trưởng tử Chu Thường Lạc đã xuất các đọc sách, theo quy định, nên trang bị giảng quan, nhân tuyển do Lễ bộ xác định.

Ai cũng biết, tuy Chu Thường Lạc không được ưa thích, nhưng theo tình hình hiện tại, đăng cơ nối ngôi là chuyện sớm muộn, chỉ cần nắm được chỗ dựa này, tự nhiên không lo tiền đồ. Vì vậy tin tức vừa ra, mọi người chạy quan hệ, kéo người thân, chỉ cầu có thể chen chân vào công việc này.

Diệp Hướng Cao có đi cửa sau hay không tôi không dám nói, vận may tốt là chắc chắn, bởi vì Lễ bộ Thị lang Quách Chính Vực, người quyết định nhân tuyển, là bạn cũ của ông.

Danh sách đã chốt, báo lên Nội các, Nội các đè lại, bởi vì trong Nội các có Thẩm Nhất Quán.

Thẩm Nhất Quán là người khá "nhất quán", chuyện mười lăm năm trước, ông ta vẫn luôn ghi nhớ trong lòng, chuyện giảng quan là do Trương Vị phụ trách, nhưng Thẩm đại nhân nhìn thấy tên Diệp Hướng Cao, liền vội vã chạy đến cao giọng hét lớn:

"Người Mân sao có thể làm giảng quan?!"

Câu nói này là có căn cứ, ở triều Minh, Phúc Kiến luôn bị coi là vùng đất chưa khai hóa, Thẩm Nhất Quán lấy vấn đề địa lý ra nói chuyện, vô cùng thâm hiểm.

Trương Vị lại không mua, ông cũng chẳng quan tâm Thẩm Nhất Quán và Diệp Hướng Cao có ân oán gì, người này ta đã nhìn trúng, thì phải dùng!

Thế là, trong tiếng nghiến răng của Thẩm Nhất Quán, Diệp Hướng Cao chính thức nhậm chức.

Diệp giảng quan không phụ lòng mong đợi, phát huy đầy đủ tính chủ quan, trong khi dạy học, đã thiết lập mối quan hệ cá nhân tốt đẹp với Thái tử.

Theo các loại sử liệu phản ánh, Diệp tiên sinh hẳn là một người vô cùng linh hoạt, chúng ta có lý do để tin rằng, trong khi dạy học làm người, ông còn kết giao được không ít bạn bè, ví dụ như Cố Hiến Thành, ví dụ như Triệu Nam Tinh.

Ông chủ có rồi, bạn bè có rồi, địa vị cũng có rồi, vạn sự đã chuẩn bị xong, muốn bước lên sân khấu cao nhất, chỉ còn thiếu một cơn gió đông.

Một năm sau, gió đến, nhưng lại là bão tố.

Năm Vạn Lịch thứ 29 (1601), Thủ phụ Triệu Chí Cao về nhà, tuy không chết, cũng không thoái, nhưng việc thì không quản nữa, Trương Vị cũng đi rồi, Nội các chỉ còn lại Thẩm Nhất Quán.

Thiếu người thì phải bổ sung, thế là cơ hội của Diệp Hướng Cao lại đến.

Cố Hiến Thành là bạn ông, Chu Thường Lạc là bạn ông, thứ ông còn thiếu chỉ là một vị trí.

Ông được đề cử, cuối cùng lại không thể vào Nội các, bởi vì Nội các chỉ còn lại Thẩm Nhất Quán.

Rắc rối còn lâu mới kết thúc, Nội các Thủ phụ Thẩm Nhất Quán đại nhân cuối cùng có thể trả món nợ năm xưa rồi, không lâu sau, Diệp Hướng Cao bị điều khỏi kinh thành, đến Nam Kinh đảm nhiệm Lễ bộ Hữu thị lang.

Công việc chính của Lễ bộ Nam Kinh, ngoài dưỡng lão thì vẫn là dưỡng lão, đây là cương vị mới của Diệp Hướng Cao bốn mươi tuổi, ở đây, ông còn phải ở lại rất lâu.

Rất lâu là bao lâu? Mười năm.

Trong mười năm này, triều đình rất náo nhiệt, sách lập Thái tử, án yêu thư, làm ầm ĩ cả lên. Còn phía Diệp Hướng Cao lại thái bình vô sự.

Trọn mười năm, không người đoái hoài, không người hỏi han, thậm chí không người mắng, không người chỉnh.

Diệp Hướng Cao sống rất thái bình, cũng sống rất thảm, thảm ở chỗ đến cả người chỉnh ông cũng không có.

Đối với một nhà chính trị mà nói, sự trừng phạt đau đớn nhất không phải là miễn chức, không phải là bãi quan, mà là sự lãng quên.

Diệp Hướng Cao đã bị lãng quên hoàn toàn.

Một nhà chính trị tiền đồ xán lạn, vào thời điểm vàng son của sự nghiệp chính trị, bị vứt bỏ một cách lạnh lùng, đối với Diệp Hướng Cao mà nói, mỗi ngày trong mười năm này đều là sự giãy giụa đau đớn.

Nhưng hơn mười năm sau, ông sẽ cảm ơn trải nghiệm đau khổ mà Thẩm Nhất Quán dành cho ông, muốn sinh tồn ở nơi lạnh lùng này, có đảng phái là chưa đủ, có hậu thuẫn cũng chưa đủ, phải đích thân trải qua những thử thách và tôi luyện tàn khốc mới có thể viết tên mình vào lịch sử.

Bởi vì ông không phải là một Thủ phụ tầm thường, trong tương lai không xa, ông sẽ vượt qua Triệu Chí Cao, Trương Vị, thậm chí Thân Thời Hành, Vương Tích Tước. Tên tuổi của ông sẽ còn chói lọi hơn những người này.

Bởi vì một người vô cùng đáng sợ đang đợi ông ở phía trước. Và ông sẽ là người duy nhất có thể đối kháng với kẻ đó. Người này gọi là Ngụy Trung Hiền.

Năm Vạn Lịch thứ 35 (1607), Thẩm Nhất Quán cuối cùng cũng đi rồi, cuối năm đó, Diệp Hướng Cao cuối cùng cũng đến.

Nhưng tất cả những gì của Thẩm Nhất Quán đều ở lại, bao gồm cả tổ chức của ông ta, thế lực của ông ta, cũng như mối thù của ông ta.

Vì vậy Lưu Đình Nguyên, Hồ Sĩ Tương cũng vậy, gã điên Trương Sai cũng vậy, thậm chí việc này có thực sự xảy ra hay không cũng chẳng quan trọng.

Đĩnh kích chẳng qua chỉ là hành động ngu xuẩn của một kẻ ngốc, không quan trọng, quan trọng là thông qua sự việc này có thể đánh đổ được cái gì, đạt được cái gì.

Phương châm của Đông Lâm đảng rất rõ ràng, ủng lập Chu Thường Lạc, và mượn án Đĩnh kích để đả kích đối thủ, nắm quyền chính.

Vì vậy phương châm của Chiết đảng là bình ổn án Đĩnh kích, kết thúc sự việc này.

Mà Vương Chi Quán là kẻ đi tìm rắc rối.

Đây mới là chân tướng của vụ án Đĩnh kích.

Đúng rồi, còn quên một việc: tuy không có dấu hiệu nào cho thấy Vương Chi Quán có liên hệ trực tiếp với Đông Lâm đảng, nhưng trong hai danh sách lớn mà kẻ thù của Đông Lâm đảng liệt kê sau đó (Điểm tướng lục, Bằng đảng lục), ông đều đứng hàng đầu.

"Tái thẩm"

Vương Chi Quán không hề đơn giản, thực tế là rất không đơn giản.

Khi ông phát hiện cấp trên của mình là Hồ Sĩ Tương có vấn đề, ông không hề sợ hãi, bởi vì ông đã đi tìm một người khác – Trương Vấn Đạt.

Trương Vấn Đạt, tự Đức Duẫn, lúc đó giữ chức Hình bộ Hữu thị lang, thự bộ sự.

Cái gọi là Hình bộ Hữu thị lang, thự bộ sự, đổi thành lời ngày nay chính là Thứ trưởng thường trực Bộ Tư pháp. Nói cách khác, ông là cấp trên của Hồ Sĩ Tương.

Phe phái của Trương Vấn Đạt không rõ ràng, nhưng rõ ràng là đối với cách làm "hòa cả làng" của Hồ Sĩ Tương, ông rất bất mãn. Sau khi nhận được báo cáo của Vương Chi Quán, ông lập tức ra lệnh cho bảy vị quan Hình bộ cùng thẩm vấn Trương Sai.

Đây là một tổ hợp thú vị, trong bảy người, vừa có Hồ Sĩ Tương, vừa có Vương Chi Quán, có thể lắng nghe ý kiến của cả hai bên, lại không sợ người ta giở trò, hơn nữa bảy người thẩm vấn có thể thiểu số phục tùng đa số.

Suy nghĩ không sai, cách làm lại sai. Bởi vì Trương Vấn Đạt đã đánh giá quá thấp thực lực của Chiết đảng.

Trong bảy quan chủ thẩm, Hồ Sĩ Tương không hề đơn độc, đại khái là trong bảy người, người ủng hộ Hồ Sĩ Tương có ba người, ủng hộ Vương Chi Quán có hai người.

Thế là, phiên tòa xuất hiện cảnh tượng kịch tính.

Trương Sai đã khôi phục lý trí, trải qua sự đột kích và lặp lại của Vương Chi Quán, Trương Sai lúc này đã không còn là kẻ điên nữa, hắn trông rất bình tĩnh.

Quan chủ thẩm Lục Mộng Long hỏi:

"Tại sao ngươi biết đường?"

Đây là câu hỏi mấu chốt, một thường dân làm thế nào đến được kinh thành, lại làm thế nào lọt được vào cung, bí mật ẩn giấu đằng sau câu trả lời.

Nhân tiện nói thêm: Lục Mộng Long là phe Vương Chi Quán.

Ngoài dự đoán của tất cả mọi người, không chờ đợi, không lặp lại, họ nhanh chóng nghe thấy câu trả lời mấu chốt này:

"Tôi là người Kế Châu, nếu không có người dẫn đường, làm sao vào được?"

Lời này vừa ra, sự việc đã không thể che giấu.

Hỏi tiếp:

"Ai dẫn đường cho ngươi?"

Đáp:

"Bàng lão công, Lưu lão công."

Xong rồi, xong rồi.

Tuy Trương Sai không nói ra tên của hai người này, nhưng trong lòng mọi người đều đã có câu trả lời xác thực.

Bàng lão công gọi là Bàng Bảo, Lưu lão công gọi là Lưu Thành.

Mọi người sở dĩ biết đáp án là vì thân phận của hai người này rất đặc biệt – họ là thái giám thân cận của Trịnh Quý phi.

Lục Mộng Long chết lặng, ông biết đáp án, cũng từng nghĩ đến vô số lần, nhưng không ngờ lại nhận được dễ dàng như vậy.

Ngay khoảnh khắc ông kinh ngạc đó, Trương Sai lại nói ra những lời khiến người ta kinh ngạc hơn:

"Tôi quen họ ba năm rồi, họ còn từng cho tôi một bình vàng, một bình bạc." (Dữ ngã kim ngân hồ các nhất)

Lục Mộng Long lúc này mới hiểu, khẩu cung trước đó Vương Chi Quán nhận được cũng là giả, chân tướng mới bắt đầu!

Ông lập tức truy hỏi nghiêm khắc:

"Tại sao (phải cho ngươi)?!"

Câu trả lời gọn gàng dứt khoát, ba chữ:

"Đánh tiểu gia!"

Âm thanh không lớn, như sét đánh ngang tai.

Bởi vì tất cả mọi người đều biết, cái gọi là tiểu gia, chính là Thái tử gia Chu Thường Lạc.

Hiện trường lập tức hỗn loạn, công đường cãi vã ầm ĩ, xì xào bàn tán, mà lúc này, một việc còn quái dị hơn đã xảy ra.

Với tư cách là quan chủ thẩm của vụ án, Hồ Sĩ Tương đột nhiên đập bàn đứng dậy, quát lớn:

"Không được hỏi nữa!"

Đến đây mọi người lại ngẩn người, Trương Sai khai nhận, ông kích động cái gì?

Nhưng ba đồng đảng của ông lập tức phản ứng lại, ngay lập tức đứng dậy, bày tỏ không thể tiếp tục thẩm vấn, nên kết thúc ngay lập tức.

Trong bảy người, bốn chọi ba, phiên tòa thẩm vấn chỉ có thể dừng lại.

Nhưng tình thế đã không thể đảo ngược, Vương Chi Quán, Lục Mộng Long lập tức báo cáo tình hình vụ án cho Trương Vấn Đạt, Trương Thị lang vô cùng chấn động.

Cùng lúc đó, lời khai của Trương Sai bắt đầu lan truyền trong ngoài triều đình, dư luận xôn xao dữ dội, nhiều người liên tiếp dâng sớ yêu cầu nghiêm trị vụ án này.

Trịnh Quý phi hoảng sợ, ngày nào cũng chạy đến chỗ Vạn Lịch khóc lóc, nhưng lúc này, thế cục đã không thể vãn hồi.

Thế nhưng, người chịu áp lực lớn nhất lúc này không phải bà ta, mà là Trương Vấn Đạt. Là người chủ trì vụ án, ông hiểu rất rõ, đằng sau vụ việc này là cuộc đấu sống còn của hai thế lực chính trị, còn kéo theo cả Thái tử, Quý phi và Hoàng đế, không một ai là kẻ dễ đối phó.

Nếu tiếp tục thẩm vấn mà lôi ra được Trịnh Quý phi thì đắc tội với Hoàng đế; nhưng nếu không thẩm vấn, thì không cách nào ăn nói với dân chúng, lại còn đắc tội với phe Đông Lâm và Thái tử. Với một Hình bộ Hữu thị lang nhỏ bé như ông, chỉ cần bất kỳ ai trong đám người này ra tay, cũng đủ khiến ông mất mạng.

Tóm lại, không thể thẩm, mà cũng không thể không thẩm.

Trong tình thế bất đắc dĩ, ông vò đầu bứt tai, cuối cùng nghĩ ra một giải pháp tuyệt diệu.

Trong các phiên tòa thẩm vấn thời Minh, cấp bậc cao nhất là "Tam pháp ty hội thẩm", nhưng loại long trọng nhất được gọi là "Thập tam ty hội thẩm".

Lục bộ thời Minh, quan đứng đầu là Thượng thư, Thị lang; dưới quyền thiết lập các ty, quan đứng đầu là Lang trung, Viên ngoại lang. Thông thường là bốn ty, ví dụ như Lại bộ, Binh bộ, Công bộ, Lễ bộ đều có bốn ty, quản lý bốn mảng nghiệp vụ lớn. Thế nhưng Hình bộ lại có tới mười ba ty.

Mười ba ty này được đặt tên theo mười ba tỉnh của triều Minh. Ví dụ như Hồ Sĩ Tương là Lang trung của Sơn Đông ty. Thẩm một vụ án mà lại gọi cả mười ba vị Lang trung của mười ba ty đến, quả thực là tốn tâm tốn sức.

Đây chính là cái gọi là chế độ trách nhiệm tập thể, hay nói cách khác là tập thể không ai chịu trách nhiệm. Trình độ của ông Trương Vấn Đạt quả thực cao, nhìn thấu đạo lý "pháp bất trách chúng", không muốn tự mình gánh tiếng xấu, nên kiên quyết kéo mọi người xuống nước.

Mọi người cũng chẳng có ý kiến gì, dù sao mười ba người cùng làm thì dễ xử lý, nếu có bị phạt trượng cũng nhẹ hơn.

Nhưng đến ngày thẩm vấn, người ta mới thực sự cảm nhận được rằng người Trung Quốc rất thích náo nhiệt.

Ngoài mười ba vị Lang trung hỏi cung ra, Vương Chi Sái còn dẫn theo một nhóm người đến dự thính, cộng thêm đám người đứng xem, tổng cộng có hơn hai mươi người, đám đông chen chúc chẳng khác nào chợ búa.

Lần này Trương Sai thực sự phát điên, đoán chừng là do thấy nhiều người quá nên hoảng sợ. Quan chủ thẩm còn chưa hỏi, hắn đã tự khai, hơn nữa còn khai cực kỳ triệt để. Không những khai ra Bàng lão công chính là Bàng Bảo, Lưu lão công chính là Lưu Thành, mà còn tiết lộ một nội tình kinh người:

Theo lời Trương Sai, hắn tuyệt đối không phải tác chiến đơn độc mà còn có đồng bọn, bao gồm những kẻ như Mã Tam cữu, Lý ngoại phụ, anh rể Khổng Đạo, v.v., là vụ án do một băng nhóm thực hiện đích thực.

Chưa hết, vào cuối buổi thẩm vấn, Trương Sai dốc hết sức bình sinh, nói ra bí mật lớn nhất của vụ án: Hồng Phong giáo.

Hồng Phong giáo là một tà giáo, cơ cấu tổ chức cụ thể không rõ. Theo lời đồng chí Trương Sai, thủ lĩnh tổ chức có ba mươi sáu người, việc hắn gây án chính là do tổ chức này sai khiến.

Thông thường mà nói, tụ tập đủ ba mươi sáu thủ lĩnh thì nên đi làm cướp là vừa. Lời này nghe có vẻ không đáng tin, nhưng sau khi kiểm chứng thì đúng là có chuyện đó thật. Quan viên Hình bộ kiểm tra thêm một chút nữa thì không dám tra tiếp, vì họ vô tình phát hiện ra nơi khởi nguồn của Hồng Phong giáo chính là quê nhà của Trịnh Quý phi.

Theo một số tài liệu lịch sử phản ánh, Trịnh Quý phi và Trịnh Quốc Thái chính là hậu thuẫn của Hồng Phong giáo. Điểm này, tôi tin, bởi vì so với Bạch Liên giáo cùng thời kỳ, Hồng Phong giáo này phát triển nhiều năm mà không ai hay biết, có thành tựu như vậy, đúng là chỉ có loại người đầu óc có vấn đề như Trịnh Quý phi mới làm nổi.

Trương Sai quả thực rất thành thật, nhưng như vậy lại khổ cho các đồng chí phe Chiết đảng. Khi thẩm án, họ lộ ra đủ kiểu xấu xí. Ví dụ như ông Hồ Sĩ Tương, phụ trách làm biên bản, nghe mãi rồi không viết nổi nữa, bèn vứt bút mặc kệ. Lại có vài vị Lang trung phe Chiết đảng, thấy sự việc càng lúc càng lớn, liền hét lớn trên công đường:

"Ngươi tự nhận tội đi, đừng liên lụy người vô tội!"

Nhưng nhìn chung, phe Chiết đảng vẫn khá biết điều, thấy đây là một đống bòng bong nên mặc kệ, đồng ý báo cáo đúng sự thật.

Trong khi báo cáo, Hình bộ còn phái hai nhóm người, một nhóm đi tìm mấy kẻ như Mã Tam cữu, Lý ngoại phụ, anh rể Khổng Đạo; nhóm còn lại vào hoàng cung tìm Bàng Bảo, Lưu Thành.

Thế là Trịnh Quý phi lại bắt đầu khóc. Vở diễn kinh điển suốt mấy chục năm qua, lần nào cũng linh nghiệm, nhưng lần này, Vạn Lịch lại nói với bà ta:

"Ta không giúp được nàng nữa rồi."

Chuyện đã quá rõ ràng, Trương Sai đã khai, đám ngoại phụ, anh rể của hắn đã sa lưới, lại thêm thái giám của chính nàng, nàng còn chạy đường nào?

Nhưng vợ gặp nạn, không quản cũng không được. Thế là Vạn Lịch nói với Trịnh Quý phi, hiện nay trong thiên hạ, chỉ có một người có thể cứu nàng, mà người này không phải là ông.

"Chỉ có Thái tử đứng ra, mới có thể giải quyết chuyện này."

Còn một câu nghe còn đau lòng hơn:

"Chuyện này ta không quản, nàng phải tự mình đi cầu nó."

Trịnh Quý phi lại khóc, nhưng lần này Vạn Lịch không để tâm đến bà.

Thế là Trịnh Quý phi vốn một thời kiêu ngạo đành thu lại nước mắt, đi đến tẩm cung của kẻ thù không đội trời chung.

Sự thật chứng minh, tiểu thư họ Trịnh khi cần hạ mình thì cũng chẳng thua kém đấng nam nhi. Vào thấy Thái tử, bà không nói một lời liền quỳ xuống, Thái tử cũng khách sáo, lập tức quỳ đáp lễ. Sau khi hai bên đứng dậy, Trịnh Quý phi bắt đầu khóc, vừa khóc vừa nói, ta thực sự không có ý hại ngươi, đó đều là hiểu lầm.

Thái tử cũng không mơ hồ, phản ứng rất nhanh, vừa làm vẻ mặt rơi lệ (khóc thật là một kỹ năng), vừa nói, ta hiểu, đây đều là người ngoài khiêu khích, chuyện này do Trương Sai tự làm, ta sẽ không hiểu lầm đâu.

Sau đó, ngài gọi thái giám thân tín là Vương An đến, yêu cầu lập tức soạn văn bản biểu đạt thái độ của mình. Ngay lập tức, hai bên ôn lại tình hữu nghị truyền thống kéo dài mấy chục năm qua, bày tỏ từ nay về sau sẽ tăng cường giao lưu, cùng nhau tiến bộ, sự việc cứ thế kết thúc viên mãn.

Đây là một đoạn sử liệu được lưu truyền rộng rãi, chủ đề ý nghĩa là Trịnh Quý phi rất xảo quyệt, Chu Thường Lạc rất hiền lành, tính cách hợp lý, thuật lại tự nhiên, vì vậy tôi luôn tin tưởng không nghi ngờ, cho đến khi tôi phát hiện ra một đoạn sử liệu khác, một đoạn sử liệu hoàn toàn khác biệt:

Phần mở đầu giống hệt, Trịnh Quý phi đi khóc lóc với Vạn Lịch, Vạn Lịch nói mình không có cách nào, nhưng sau đó, sự việc xuất hiện thay đổi - ông đi tìm Vương Hoàng hậu.

Đây là một cử chỉ rất thông minh, vì Hoàng hậu không thuộc phe phái nào, lại có uy vọng, tìm bà thương lượng là thích hợp nhất.

Câu trả lời của Hoàng hậu cũng thẳng thắn:

"Chuyện này ta cũng chịu, phải tìm Thái tử đối chất trực tiếp."

Rất nhanh, vị Thái tử hiền lành đến nơi, nhưng câu trả lời ngài đưa ra lại hoàn toàn khác biệt:

"Việc này chắc chắn có chủ mưu!"

Câu này vừa thốt ra, sắc mặt Minh Thần Tông liền thay đổi, Trịnh Quý phi càng kích động dữ dội, giơ một ngón tay lên, thề với trời:

"Nếu chuyện này do ta làm, ta xin nguyện tuyệt diệt cả gia tộc!"

Câu này nói quá tuyệt, thế là Hoàng đế cũng gầm lên một tiếng:

"Đây là đại sự của ta, ngươi tuyệt diệt gia tộc thì đã sao?!"

Quý phi nổi giận, Hoàng đế cũng nổi giận, nhưng câu nói tiếp theo lại dập tắt mọi cảm xúc của tất cả mọi người:

"Ta thấy, chuyện này chính là do Trương Sai tự mình làm."

Người nói câu này chính là Thái tử Chu Thường Lạc. Mặc dù chỉ vài giây trước, ngài còn thề thốt yêu cầu truy tìm hung thủ thực sự đứng sau.

Thế là mọi người đều hài lòng. Để bình ổn sự việc triệt để, ngày 28 tháng 5 năm Vạn Lịch thứ 43 (1615), ông Vạn Lịch hơn hai mươi năm không lên triều cuối cùng cũng lộ diện. Ông triệu tập đại thần nội các, văn võ bá quan, cùng với Thái tử, Hoàng tôn của mình, đứng trước mặt giáo huấn, đại ý là: Mình và Thái tử quan hệ rất tốt, các ngươi làm gì thì làm, bớt xen vào chuyện người khác, vụ án này là do Trương Sai làm, xử tử nó là xong, định án tại đây, không ai được gây chuyện nữa.

Biểu hiện của Thái tử cũng rất tốt, trước mặt mọi người bày tỏ tình cha con sâu nặng, vẽ nên dấu chấm hết viên mãn cho vở kịch này.

Một ngày sau, Trương Sai bị lăng trì xử tử. Mười mấy ngày sau, Bàng Bảo và Lưu Thành chết một cách không rõ ràng trong đại lao Hình bộ. Về mặt giết người diệt khẩu mà nói, làm cũng coi như khá gọn gàng.

Sự kiện tên điên tấn công Thái tử gây chấn động thiên hạ đến đây kết thúc, sử gọi là "Đĩnh Kích" - một trong ba đại án thời Minh.

Đĩnh Kích là một vụ án chính trị phức tạp, tranh cãi cực lớn, có rất nhiều nghi vấn, bao gồm cả thân phận thực sự của kẻ chủ mưu đứng sau.

Bởi vì nếu Trịnh Quý phi muốn ám sát Thái tử, dù không tìm được cao thủ tuyệt đỉnh, thì ra gần cầu Thiên Kiều tìm một tên bán cao dán chó cũng không phải là vấn đề, thế mà chọn đi chọn lại lại tìm được Trương Sai, chẳng có võ nghệ gì, lại còn nuôi hắn ba năm. Đó là chưa kể, lúc ra tay ngay cả một con dao phết cũng không có, cầm một khúc gỗ xông vào cung, muốn đánh chết Thái tử, thật là vô cùng nhảm nhí.

Vì vậy, một số người cho rằng vụ Đĩnh Kích là do một vài đảng phái trong triều gây ra, hy vọng đục nước béo cò, nhân cơ hội gây chuyện, thậm chí có người suy đoán việc này liên quan đến Thái tử. Bởi vì chuyện này quá hoang đường, Trịnh Quý phi không ngốc, tuyệt đối sẽ không làm như vậy.

Nhưng quan điểm của tôi là, chuyện này do Trịnh Quý phi làm, bởi vì chỉ số thông minh của bà ta, đúng là trình độ của kẻ ngốc.

Đối với vụ án Đĩnh Kích, đánh giá của nhiều sách sử đều như một, Trịnh Quý phi xảo quyệt, Vạn Lịch hôn quân, Thái tử hiền lành, cuối cùng vị Thái tử hiền lành được sự ủng hộ của các quan viên Đông Lâm chính nghĩa, đã chiến thắng Trịnh Quý phi xảo quyệt.

Đó đều là lừa người cả thôi.

Phân tích kỹ sẽ thấy, Trịnh Quý phi là kẻ ngu xuẩn, Vạn Lịch cáo già, Thái tử cũng rất biết cách xử sự, còn các quan viên Đông Lâm, dường như cũng không đơn thuần như vậy.

Vì vậy sự thật nên là, một kẻ ngu xuẩn làm một việc ngu xuẩn, bị một đám người muốn gây chuyện lợi dụng, kết quả bị lão cáo già Vạn Lịch trấn áp xuống, chỉ có vậy thôi.

Sở dĩ giới thiệu chi tiết vụ việc này, là vì tôi muốn nói với bạn rằng: Trong những lời kể tiếp theo, bạn sẽ dần dần phát hiện ra, nhiều người bạn từng vô cùng quen thuộc, thực ra lại rất xa lạ; nhiều sự thật bạn từng tin chắc, thực ra lại vô cùng giả tạo, mà đây, chỉ mới là sự bắt đầu.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »